Thứ ba 22/09/2026 02:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định giá khởi điểm khi xử lý tài sản thế chấp thông qua phương thức đấu giá

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu và phân tích các quy định pháp luật hiện hành về vấn đề xác định giá khởi điểm khi xử lý tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay thông qua phương thức đấu giá được thực hiện tại tổ chức đấu giá tài sản. Từ đó, bài viết chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, đồng thời đề xuất một số phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.


Abstract: The article provides research and analysis on the current provisions of law regarding the determination of starting prince when handling mortgaged assets in lending activities through the auction method which is conducted at the auction organization. Hence, the article points out limitations in legal regulations, and proposes a number of orientations for law completion on this issue.

Để có căn cứ cho các cá nhân, tổ chức tham gia vào việc đấu giá một tài sản nhất định thì vấn đề xác định giá khởi điểm cho tài sản là vô cùng quan trọng. Đây là một trong những khâu bắt buộc trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản được quy định trong Luật Đấu giá tài sản. Hơn nữa, xác định giá khởi điểm đối với tài sản còn là một mắt xích nhằm giúp cho cuộc đấu giá đạt được kết quả là bán được tài sản bởi việc xác định giá khởi điểm đúng với giá trị tài sản sẽ có vai trò quyết định việc đăng ký tham gia đấu giá, trả giá nhằm xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản của các cá nhân, tổ chức có nhu cầu. Yêu cầu đối với việc xác định giá khởi điểm của tài sản đấu giá là phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, đúng với giá trị tài sản. Giá khởi điểm này phải được xác định trước khi ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản[1] và giá khởi điểm sẽ được xác định theo quy định của pháp luật đối với tài sản đó[2]. Như vậy, việc xác định giá khởi điểm khi bán đấu giá tài sản thế chấp sẽ được xác định theo quy định của pháp luật về xử lý tài sản thế chấp, cụ thể ở đây là Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP), theo đó, giá khởi điểm của tài sản thế chấp có thể được xác định như sau: “Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản”[3]. Như vậy, giá khởi điểm của tài sản thế chấp có thể được xác định bằng phương thức định giá, có thể là bên vay và bên cho vay tự thỏa thuận định giá hoặc tài sản thế chấp được định giá thông qua bên thứ ba là tổ chức định giá tài sản.

1. Quy định và hạn chế của pháp luật về xác định giá khởi điểm khi bán đấu giá tài sản thế chấp trên cơ sở tự thỏa thuận

Theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Dân sự năm 2015, giá khởi điểm của tài sản thế chấp khi bán đấu giá có thể được xác định trên cơ sở tự thỏa thuận của bên vay và bên cho vay. Quy định này phù hợp với phương pháp điều chỉnh của luật dân sự là bình đẳng, thỏa thuận giữa các bên, bên vay và bên cho vay có thể tự thỏa thuận xác định giá khởi điểm của tài sản thế chấp và tự chịu trách nhiệm về thỏa thuận đó. Nguyên tắc tự thỏa thuận này không những được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự hiện hành mà trước đây đã từng được quy định trong Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 28/3/2014 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự về định giá tài sản, thẩm định giá: Các bên đương sự tự thỏa thuận về việc xác định giá tài sản (khoản 1 Điều 2), đến nay, Thông tư này vẫn còn hiệu lực thi hành. Hiện nay, các văn bản pháp luật khác ở Việt Nam cũng ghi nhận nguyên tắc tự thỏa thuận khi xác định giá của tài sản, chẳng hạn như Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Tài sản góp vốn không phải là đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành đồng Việt Nam” (khoản 1 Điều 37), hay Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Đương sự có quyền cung cấp giá tài sản đang tranh chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp” (khoản 1 Điều 104). Như vậy, có thể thấy, nguyên tắc tự thỏa thuận trong việc xác định giá của tài sản đã được quy định thống nhất trong các văn bản pháp luật trên. Nguyên tắc này đã tạo sự thông thoáng, giúp cho các bên nhanh chóng có được kết quả là giá của tài sản. Tuy nhiên, với những quy định mang tính “mở” này, tác giả nhận thấy pháp luật hiện hành vẫn tồn tại một số bất cập, hạn chế. Luật Giá năm 2012 - văn bản trực tiếp điều chỉnh về giá và các văn bản hướng dẫn thi hành, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đều không quy định về trình tự, thủ tục để bên vay và bên cho vay xác định giá khởi điểm cho tài sản thế chấp mà chỉ yêu cầu “việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường”[4]. Vấn đề đặt ra ở đây là từ “phù hợp” mà luật đang sử dụng là mang tính định tính. Các chủ thể là bên vay và bên cho vay thường không có chuyên môn trong hoạt động định giá, không phải là cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên việc xác định được “giá thị trường” để làm căn cứ định giá đã là vấn đề hết sức khó khăn và khi đã xác định được giá thị trường thì giá mà họ thỏa thuận xác định đối với tài sản thế chấp như thế nào sẽ là phù hợp với giá thị trường, cao hơn hay phải thấp hơn giá thị trường, điều này hoàn toàn phụ thuộc ý chí chủ quan của họ. Cả bên vay và bên cho vay đều mong muốn bán được tài sản với giá cao, điều này đôi khi dẫn đến việc các bên thỏa thuận “đẩy” giá khởi điểm của tài sản thế chấp lên rất cao, không đúng với giá trị thực tế của tài sản nhưng với họ như vậy là “phù hợp” với giá thị trường. Rõ ràng trên thực tế có rất nhiều trường hợp, tài sản thế chấp được xử lý bằng hình thức bán đấu giá nhưng do giá khởi điểm quá cao dẫn đến không có ai đăng ký tham gia đấu giá và vụ việc cứ thế kéo dài thời gian giải quyết.

2. Quy định và hạn chế của pháp luật về xác định giá khởi điểm khi bán đấu giá tài sản thế chấp trên cơ sở định giá của tổ chức định giá

Thực tế hiện nay có nhiều trường hợp các bên không thể thỏa thuận được giá khởi điểm để bán tài sản. Nguyên nhân có thể xuất phát từ việc giá của tài sản tại thời điểm xử lý thấp hơn rất nhiều so với tại thời điểm thế chấp. Do trước đây, tại thời điểm thế chấp, tài sản đã được “thổi giá” hoặc thời điểm hiện tại, tài sản không còn đảm bảo được giá trị sử dụng cũng như chất lượng như ban đầu; tài sản mất giá trị… dẫn đến việc tại thời điểm xử lý, giá trị thực tế của tài sản rất thấp, nếu định giá thấp có thể bán được tài sản nhưng doanh nghiệp lại không đồng ý, nhiều trường hợp ngân hàng cũng không đồng ý bởi giá trị thu được từ việc xử lý tài sản này không đáng kể so với giá trị của khoản vay, trong khi đó, sau khi xử lý xong tài sản thì phần còn lại của khoản vay sẽ trở thành khoản vay không có bảo đảm dẫn đến khả năng thu hồi sẽ khó hơn gấp nhiều lần. Hoặc có trường hợp đại diện của các bên đã đồng ý với giá khởi điểm nhưng khi đưa ra tập thể người có quyền (chẳng hạn hội đồng quản trị của công ty trong trường hợp tài sản thế chấp bị xử lý là tài sản của công ty hoặc các thành viên của hộ gia đình đối với tài sản thế chấp của hộ gia đình…) thì lại không đồng ý. Điều đó dẫn đến việc các bên không thể thống nhất được giá khởi điểm của tài sản xử lý. Trong trường hợp này, việc mời bên thứ ba tham gia thẩm định giá là cần thiết, vừa phục vụ cho bán đấu giá tài sản sau này (nếu các bên lựa chọn phương thức đấu giá), vừa phù hợp với quy chế của ngân hàng, đảm bảo an toàn tín dụng cũng như loại trừ trách nhiệm cá nhân cho một số cán bộ ngân hàng trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng[5]. Cũng như đã đề cập ở trên, trong trường hợp bên vay và bên cho vay không chủ động tự thỏa thuận định giá hoặc các bên có thỏa thuận nhưng không được thì việc xác định giá khởi điểm của tài sản thế chấp khi bán đấu giá sẽ được thực hiện bởi hoạt động định giá của tổ chức định giá. Như vậy, có hai trường hợp mà việc xác định giá khởi điểm của tài sản thế chấp sẽ được thực hiện thông qua hoạt động định giá của tổ chức định giá: (i) Các bên tự thỏa thuận việc xác định giá này sẽ do tổ chức định giá thực hiện (trong trường hợp việc thuê tổ chức định giá mang tính chủ động của các bên); (ii) Việc xác định giá khởi điểm của tài sản thế chấp “phải” được tiến hành bởi tổ chức định giá khi các bên không tự thỏa thuận được về giá (trong trường hợp này, việc thuê tổ chức định giá là bắt buộc - mang tính bị động của các bên). Ở đây, luật tiếp tục ghi nhận nguyên tắc thỏa thuận trong việc lựa chọn tổ chức định giá tiến hành hoạt động định giá tài sản thế chấp, kể cả trong trường hợp các bên được chủ động hay bị động thuê tổ chức định giá, nghĩa là các bên được tự do thỏa thuận lựa chọn bất kỳ tổ chức định giá nào thay mình xác định giá khởi điểm của tài sản thế chấp. Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm trên, tác giả nhận thấy, quy định của pháp luật hiện hành trong việc xác định giá khởi điểm của tài sản thế chấp do tổ chức định giá thực hiện vẫn tồn tại một số hạn chế, bất cập như sau:

Thứ nhất, theo Luật Giá năm 2012, “định giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ” (khoản 5 Điều 4), hơn nữa, “hàng hóa là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản” (khoản 1 Điều 4) và “dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật” (khoản 2 Điều 4). Theo quy định này, hàng hóa, dịch vụ được định giá cũng là tài sản nhưng Luật Giá năm 2012 và các văn bản pháp luật khác ở Việt Nam không định nghĩa về định giá tài sản mà chỉ dừng lại ở định nghĩa định giá hàng hóa, dịch vụ. Bên cạnh đó, chủ thể định giá chỉ có thể là cơ quan nhà nước (có thể là Hội đồng định giá được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện chức năng định giá tài sản) hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh. Như vậy, chủ thể tiến hành hoạt động định giá nói chung là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh (nói rộng ra là tổ chức, cá nhân có liên quan đến tài sản) hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nghĩa là, chủ thể định giá tài sản không có tổ chức định giá. Ở Việt Nam hiện nay, không có một văn bản nào định nghĩa về “định giá” và quy định về tổ chức định giá mà chỉ có tổ chức thẩm định giá được điều chỉnh bởi Luật Giá năm 2012. Chức năng của tổ chức thẩm định giá theo quy định của Luật Giá năm 2012 là “thẩm định giá”, đó là “việc cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các loại tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự phù hợp với giá thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, phục vụ cho mục đích nhất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá” (khoản 15 Điều 4). Như vậy, chủ thể tiến hành hoạt động định giá và thẩm định giá là khác nhau. Nhưng Điều 306 Bộ luật Dân sự năm 2015 lại không có sự phân biệt hai hoạt động đó, luật chỉ dùng chung chung thuật ngữ “định giá” và cũng không đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này. Trong trường hợp này, định nghĩa “định giá” của Luật Giá năm 2012 sẽ được sử dụng để giải thích. Nhưng nếu áp dụng Luật Giá năm 2012 thì giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Giá năm 2012 không có sự thống nhất về chủ thể tiến hành định giá. “Tổ chức định giá” mà Bộ luật Dân sự năm 2015 đề cập rất có thể là tổ chức thẩm định giá được quy định trong Luật Giá năm 2012 bởi thực tế không tồn tại tổ chức định giá và cũng không có cá nhân, tổ chức nào ngoài cá nhân, tổ chức có liên quan đến tài sản và cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền thực hiện định giá. Ngoài ra, nếu “tổ chức định giá” theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Dân sự năm 2015 là tổ chức thẩm định giá thì hoạt động “định giá” của tổ chức này cũng được hiểu là hoạt động “thẩm định giá” mới thống nhất với quy định của Luật Giá năm 2012.

Tương tự như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014 khi quy định về việc xác định giá trị tài sản góp vốn vào doanh nghiệp cũng không có sự phân biệt giữa định giá và thẩm định giá (như quy định tại khoản 1 Điều 37). Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2014 lại có sự thống nhất với Luật Giá năm 2012 trong sử dụng thuật ngữ “tổ chức thẩm định giá”.

Khác với sự “nhập nhằng” của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015, khi đề cập đến vấn đề định giá và thẩm định giá thì các văn bản pháp luật khác lại có sự phân biệt rõ ràng hơn, chẳng hạn như quy định tại Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Như vậy, Luật Giá là văn bản trực tiếp điều chỉnh vấn đề về giá đã phân biệt rất rõ về hai thuật ngữ “định giá” và “thẩm định giá”, trong khi đó, các văn bản pháp luật khác ở Việt Nam hiện chưa có sự phân biệt rõ ràng. Thiết nghĩ, các văn bản pháp luật khác cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với quy định của Luật Giá năm 2012 nhằm đảm bảo tính hệ thống trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam.

Thứ hai, pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể khi có kết quả định giá (hay thẩm định giá) từ tổ chức định giá (hay tổ chức thẩm định giá) thì đó có phải là giá khởi điểm của tài sản thế chấp hay không, giá này có cần phải được sự chấp thuận của bên vay và bên cho vay hay không và trong trường hợp kết quả định giá của tổ chức định giá mà các bên không chấp thuận thì họ có được tiếp tục thuê tổ chức định giá khác và cứ tiếp tục như vậy cho đến khi có được kết quả định giá mà họ thấy “ưng ý”?

Về vấn đề định giá tài sản, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định rõ: “Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận” (khoản 2 Điều 37).

Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ mới dừng lại ở việc đưa ra các phương thức để xác định giá khởi điểm cho tài sản thế chấp khi được xử lý bằng hình thức bán đấu giá chứ chưa giải quyết được triệt để hệ quả từ việc xác định giá đó. Điều này khó tránh khỏi khi áp dụng luật sẽ phát sinh những hệ lụy mà các bên không biết giải quyết như thế nào bởi không có sự điều chỉnh và hướng dẫn của luật.

3. Một số đề xuất

Thứ nhất, đối với hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về xác định giá khởi điểm khi bán đấu giá tài sản thế chấp trên cơ sở tự thỏa thuận của bên vay và bên cho vay, Bộ luật Dân sự nên có sự điều chỉnh từ ngữ từ định tính như đã phân tích ở trên thành từ ngữ định lượng, nhằm làm cho việc áp dụng pháp luật được dễ dàng và chính xác, đồng thời đảm bảo được tính khoa học của văn bản pháp luật. Theo đó, thay vì sử dụng từ “phù hợp” như khoản 2 Điều 306 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có thể quy định: “Việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, chênh lệch không quá 5% so với giá thị trường”. Tỉ lệ chênh lệch tối đa 5% so với giá thị trường này khi tài sản được đưa vào bán đấu giá sẽ được tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá trả giá sao cho họ thấy phù hợp với giá thị trường và nhu cầu của mình đối với tài sản. Với quy định “chênh lệch không quá 5%” so với giá thị trường, khi các bên đã xác định được giá thị trường của tài sản thế chấp thì có thể lựa chọn và xác định được ngay giá khởi điểm của tài sản là bằng hoặc chênh lệch so với giá thị trường trong giới hạn tối đa là 5% luật quy định chứ không phải là mức giá mà họ thấy “phù hợp” một cách chung chung nữa.

Thứ hai, đối với hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về xác định giá khởi điểm khi bán đấu giá tài sản thế chấp trên cơ sở định giá của tổ chức định giá, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan nên có sự điều chỉnh như sau:

- Sử dụng thống nhất thuật ngữ “định giá”, “thẩm định giá”, “tổ chức thẩm định giá” theo quy định của Luật Giá năm 2012.

- Pháp luật nên quy định rõ khi có kết quả thẩm định giá từ tổ chức thẩm định giá thì kết quả này phải được sự chấp thuận của bên vay và bên cho vay bởi dù sao họ cũng là những người có liên quan trực tiếp đến tài sản. Pháp luật cũng nên cho phép các bên lựa chọn tổ chức thẩm định giá tiến hành hoạt động thẩm định giá tài sản thế chấp cho đến khi nào có được kết quả mà họ hài lòng nhất vì đây là những giao dịch dân sự mang tính bình đẳng, thỏa thuận. Nếu họ không nhanh chóng chọn được kết quả thẩm định giá “ưng ý” thì họ có thể sẽ phải chịu nhiều thiệt hại, chẳng hạn như chi phí thẩm định giá (do thuê nhiều tổ chức thẩm định giá), thủ tục bán đấu giá tài sản kéo dài, mục đích bán tài sản không đạt được, tài sản có thể bị giảm giá trị...

Ngô Thị Phương Thảo

Đại học Trà Vinh



[1]. Điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Đấu giá tài sản năm 2016.

[2]. Điểm a khoản 2 Điều 8 Luật Đấu giá tài sản năm 2016.

[3]. Điều 306 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Khoản 2 Điều 306 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Luật sư Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Xử lý tài sản thế chấp thông qua phương thức đấu giá theo thỏa thuận của các bên, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=223, ngày truy cập 14/5/2018.



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: