Thứ hai 14/09/2026 18:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý trường hợp người được thi hành án không hoặc chưa tiếp nhận quyền trực tiếp nuôi con theo bản án, quyết định của Tòa án

Theo lẽ thường, người được thi hành án luôn muốn quyền, lợi ích của mình được thực hiện và thực hiện có hiệu quả trên thực tế, tuy nhiên, có một số trường hợp, người được thi hành án lại không chủ động tiếp nhận quyền, lợi ích của họ. Bài viết sau đây đề cập trường hợp cha, mẹ được Tòa án giao cho quyền trực tiếp nuôi con, nhưng họ không hoặc chưa tiếp nhận quyền này.


1. Người được Tòa án quyết định giao quyền trực tiếp nuôi con

Theo giải thích tại khoản 2, 3 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành. Với cách giải thích trên, trong các bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết liên quan đến người nuôi con, có thể hiểu, người nào có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con sẽ được xác định là người được thi hành án. Như vậy, về nguyên tắc, họ có quyền từ bỏ, không nhận các quyền, lợi ích này của mình.

Cách hiểu như trên có lẽ chưa phù hợp khi đặt trong mối quan hệ giữa cha, mẹ và con. Bởi theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình (gọi tắt là con)[1] vừa là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của cha, mẹ. Quyền và nghĩa vụ luôn gắn liền nhau, nói cách khác, quyền của họ cũng đồng thời là nghĩa vụ của họ. Như vậy, có thể khẳng định, khi vợ, chồng ly hôn, bên vợ hoặc chồng được giao nuôi con, không chỉ đơn thuần là quyền, mà còn bao hàm cả nghĩa vụ của họ.

Nói cách khác, có hai mối quan hệ trong trường hợp này cần được xác định: Trong quan hệ với vợ hoặc chồng của họ, thì người có quyền nuôi con được xác định là người được thi hành án, nhưng trong quan hệ với người con, thì người này vừa là người có quyền, vừa là người phải thực hiện nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con.

2. Quy định của pháp luật liên quan đến việc giao con cho người có quyền nuôi con

Theo quy định tại các Điều 45, 48, 118, 120 Luật Thi hành án dân sự hiện hành, thi hành bản án, quyết định về giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng là loại việc thi hành án liên quan đến việc thực hiện một công việc nhất định. Theo đó, người phải thi hành án có một khoảng thời gian để tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình (10 ngày, kể từ ngày họ nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án). Hết thời hạn này, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thực hiện sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, thì chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện, thì chấp hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án. Người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận, thì việc thi hành án sẽ bị hoãn lại.

Từ các quy định trên cho thấy một số vấn đề pháp lý sau đây: (i) Người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức việc thi hành án để đảm bảo quyền, lợi ích cho họ được xác định trong bản án, quyết định; (ii) Người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức việc thi hành án để họ tự thực hiện nghĩa vụ của mình; (iii) Người phải thi hành án nếu không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn Luật định, sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; (iv) Người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận, thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn việc thi hành án.

Như vậy, có thể khẳng định, cơ chế để đảm bảo việc thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao con cho người có quyền nuôi con đã được pháp luật thi hành án dân sự quy định khá rõ. Tuy nhiên, trường hợp người phải thi hành án tự nguyện giao con, nhưng người có quyền nuôi con chưa hoặc không tiếp nhận lại chưa được quy định rõ ràng. Nếu tình huống này xảy ra, chỉ có hướng giải quyết duy nhất là hoãn việc thi hành án. Nếu chỉ dừng lại ở quy định như vậy, sẽ không hợp lý trong nhiều trường hợp, khi đứng ở góc độ của người phải thực hiện nghĩa vụ chuyển giao con và của chính người con để xem xét. Bởi một khi hoãn việc thi hành án, thì việc thi hành án sẽ tạm thời dừng lại và như vậy, người có nghĩa vụ chuyển giao con vẫn trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con trong khi theo bản án, quyết định của Tòa án, việc này lẽ ra phải được chuyển giao cho người kia, rõ ràng, trong chừng mực nhất định, quyền, lợi ích hợp pháp của người con, của người không có quyền nuôi con sẽ không được bảo đảm.

Điều này nảy sinh vấn đề: (i) Người có quyền trực tiếp nuôi con chưa hoặc không tiếp nhận việc nuôi con mà không có lý do chính đáng có bị chế tài? (ii) Người phải chuyển giao quyền nuôi con có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của mình, khi mình phải thực hiện công việc nuôi con đáng lẽ ra thuộc về người có quyền nuôi con? (iii) Nếu người có nghĩa vụ phải chuyển giao con kiên quyết thực hiện việc chuyển giao thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý thế nào?

Thứ nhất, người có quyền trực tiếp nuôi con chưa hoặc không tiếp nhận việc nuôi con mà không có lý do chính đáng có bị chế tài?

Điều 126 Luật Thi hành án dân sự và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự chỉ đề cập đến trường hợp đương sự chưa hoặc không tiếp nhận quyền, lợi ích của mình liên quan đến tài sản, giấy tờ, cụ thể, sau khi có quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ, chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm nhận lại tiền, tài sản. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tiền, thì chấp hành viên gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng, thì chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 của Luật này và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền đã được gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng, thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước.

Đối với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy định tại Điều 125 Luật này. Đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định.

Trường hợp tài sản trả lại là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình bảo quản và đương sự từ chối nhận, thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ngân hàng Nhà nước đổi tiền mới có giá trị tương đương để trả cho đương sự. Đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được không do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự mà đương sự từ chối nhận, thì cơ quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng Nhà nước xử lý theo quy định của pháp luật. Việc trả lại tiền tạm ứng án phí theo bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này. Trường hợp trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ mà đương sự không nhận, thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự. Như vậy, có thể khẳng định, nếu người có quyền trực tiếp nuôi con, nhưng họ chưa hoặc không tiếp nhận quyền này mà không có lý do chính đáng, chẳng có chế tài nào để xử lý cả. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ có thể hoãn việc thi hành án mà thôi.

Có quan điểm cho rằng, trong vấn đề pháp lý đang bàn luận trên, Luật Thi hành án dân sự cần xác định đây là việc chưa có điều kiện thi hành án[2]. Quan điểm này chúng tôi cho rằng chưa phù hợp, bởi xác định trường hợp có điều kiện thi hành án hay chưa có điều kiện thi hành án là xem xét, đánh giá khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ, trong trường hợp này không thể dựa vào khả năng tiếp nhận quyền, lợi ích của người được thi hành án để xác định. Cũng có quan điểm lại cho rằng, trong trường hợp này, Luật Thi hành án dân sự cần xác định đây là căn cứ để đình chỉ việc thi hành án[3]. Tác giả cho rằng, quan điểm như vậy cũng chưa phù hợp nếu chúng ta xem xét ở góc độ bảo vệ quyền, lợi ích của người con và người phải chuyển giao con.

Bên cạnh giải pháp mà Luật Thi hành án dân sự hiện hành đề ra - hoãn việc thi hành án, tác giả cho rằng, trong trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên cần giải thích cho người được giao nuôi con hiểu việc tiếp nhận quyền trực tiếp nuôi con theo bản án, quyết định của Tòa án vừa là quyền, nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ của họ, vì vậy, việc chưa hoặc không tiếp nhận quyền nuôi con là vi phạm quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, cụ thể là vi phạm nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con. Trong trường hợp cần thiết, chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế để buộc người này phải thực hiện việc tiếp nhận quyền nuôi con. Có thể khẳng định, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong tình huống này là cần thiết, không trái quy định của pháp luật, vì qua các phân tích trên, thì việc nuôi con vừa là quyền, nhưng cũng đồng thời là nghĩa vụ của họ.

Liệu trong thực tế có xảy ra trường hợp người phải thi hành án tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình, nhưng người được thi hành án lại chưa hoặc không tiếp nhận quyền và lợi ích của họ? Câu trả lời là có. Có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như người phải chuyển giao con họ muốn tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình, để kết hôn với người khác, hay để ra nước ngoài sinh sống…, người được thi hành án đã thay đổi nơi cư trú nên cơ quan thi hành án dân sự chưa xác định được địa chỉ, hay họ đang làm ăn xa, sinh sống ở nước ngoài chưa kịp về Việt Nam để tiếp nhận quyền nuôi con, cũng có trường hợp bị cản trở bởi vợ hoặc chồng sau này của họ… Khi vợ chồng ly hôn, thường vợ, chồng đều dành quyền được nuôi con, nhưng cũng có trường hợp cả hai vợ chồng không muốn nhận nuôi, mà muốn giao cho chồng hoặc vợ mình nuôi.

Thứ hai, người phải chuyển giao quyền nuôi con có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình, khi mình phải thực hiện công việc nuôi con đáng lẽ ra thuộc về người có quyền nuôi con?

Việc trông nom, chăm sóc con có lẽ khó để khởi kiện nhằm buộc người không tiếp nhận quyền nuôi con phải trả công cho mình, bởi lẽ, chăm sóc, trông nom con vừa là quyền nhưng cũng là nghĩa vụ của cha mẹ, loại quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, không ai lại tính toán điều này. Tuy nhiên, khoản đền bù cho việc nuôi dưỡng con cần được ghi nhận. Thời điểm để tính cần được xác định từ thời điểm người phải chuyển giao con đã tự nguyện thực hiện nghĩa vụ nhưng người có quyền nuôi con chưa hoặc không tiếp nhận. Các nghĩa vụ tài sản phát sinh từ việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con phải được xác định là nghĩa vụ chung, hai người phải liên đới chịu trách nhiệm. Nói cách khác, nghĩa vụ nuôi dưỡng con là nghĩa vụ chung của cha mẹ, vì vậy các nghĩa vụ tài sản phát sinh từ các giao dịch nhằm để nuôi dưỡng con được xác định là nghĩa vụ chung của hai vợ chồng. Theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ này, trường hợp một bên thực hiện hết nghĩa vụ này, có quyền yêu cầu bên kia phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình[4]. Như vậy, có thể khẳng định, người có nghĩa vụ chuyển giao con có quyền yêu cầu người có quyền nuôi con phải hoàn trả một phần chi phí nuôi dưỡng con cho mình, điều này là hợp lý.

Thứ ba, nếu người có nghĩa vụ phải chuyển giao con kiên quyết thực hiện việc chuyển giao thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý thế nào?

Trường hợp người có quyền nuôi con chưa hoặc không tiếp nhận việc nuôi con mà không có lý do chính đáng, hướng xử lý thích hợp trong những trường hợp này là chấp hành viên phải động viên, thuyết phục người có quyền nuôi con tiếp nhận việc nuôi con. Trường hợp cần thiết sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế như đã bàn luận ở phần trên. Trường hợp người có quyền nuôi con không hoặc chưa tiếp nhận quyền nuôi con mà có lý do chính đáng, hướng xử lý thích hợp là hoãn việc thi hành án theo quy định, chấp hành viên động viên, thuyết phục người đang nuôi con tiếp tục việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con, bởi đây cũng là nghĩa vụ của họ. Người có nghĩa vụ chuyển giao con, có quyền yêu cầu người có quyền nuôi con hoàn trả cho mình một phần chi phí nuôi dưỡng con trong trường hợp tự nguyện thực hiện nghĩa vụ chuyển giao con, nhưng việc chuyển giao không thực hiện được do lỗi từ phía người có quyền nuôi con.

Bên cạnh đó, chấp hành viên có thể hướng dẫn họ thực hiện việc yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, điều này có thể thực hiện được trên thực tế và đảm bảo quyền lợi cho người con, khi người có nghĩa vụ chuyển giao con mong muốn được nuôi con và họ có điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con. Trường hợp họ không muốn nuôi con hoặc không có điều kiện để nuôi con, thì hướng giải quyết trên khó có thể thực hiện được hiệu quả.

Lê Vĩnh Châu

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 70, 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2]. Giang Hải Thuyền,(2018), “Xác định trường hợp chưa có điều kiện thi hành án”, Luận văn Thạc sỹ Luật, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 22.

[3]. Quách Ngọc Hiểu, (2018), “Thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”, Luận văn thạc sỹ Luật, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 31.

[4]. Xem Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015, các điều 27, 37, 69, 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: