Thứ ba 10/02/2026 06:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý trường hợp người được thi hành án không hoặc chưa tiếp nhận quyền trực tiếp nuôi con theo bản án, quyết định của Tòa án

Theo lẽ thường, người được thi hành án luôn muốn quyền, lợi ích của mình được thực hiện và thực hiện có hiệu quả trên thực tế, tuy nhiên, có một số trường hợp, người được thi hành án lại không chủ động tiếp nhận quyền, lợi ích của họ. Bài viết sau đây đề cập trường hợp cha, mẹ được Tòa án giao cho quyền trực tiếp nuôi con, nhưng họ không hoặc chưa tiếp nhận quyền này.


1. Người được Tòa án quyết định giao quyền trực tiếp nuôi con

Theo giải thích tại khoản 2, 3 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành. Với cách giải thích trên, trong các bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết liên quan đến người nuôi con, có thể hiểu, người nào có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con sẽ được xác định là người được thi hành án. Như vậy, về nguyên tắc, họ có quyền từ bỏ, không nhận các quyền, lợi ích này của mình.

Cách hiểu như trên có lẽ chưa phù hợp khi đặt trong mối quan hệ giữa cha, mẹ và con. Bởi theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình (gọi tắt là con)[1] vừa là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của cha, mẹ. Quyền và nghĩa vụ luôn gắn liền nhau, nói cách khác, quyền của họ cũng đồng thời là nghĩa vụ của họ. Như vậy, có thể khẳng định, khi vợ, chồng ly hôn, bên vợ hoặc chồng được giao nuôi con, không chỉ đơn thuần là quyền, mà còn bao hàm cả nghĩa vụ của họ.

Nói cách khác, có hai mối quan hệ trong trường hợp này cần được xác định: Trong quan hệ với vợ hoặc chồng của họ, thì người có quyền nuôi con được xác định là người được thi hành án, nhưng trong quan hệ với người con, thì người này vừa là người có quyền, vừa là người phải thực hiện nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con.

2. Quy định của pháp luật liên quan đến việc giao con cho người có quyền nuôi con

Theo quy định tại các Điều 45, 48, 118, 120 Luật Thi hành án dân sự hiện hành, thi hành bản án, quyết định về giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng là loại việc thi hành án liên quan đến việc thực hiện một công việc nhất định. Theo đó, người phải thi hành án có một khoảng thời gian để tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình (10 ngày, kể từ ngày họ nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án). Hết thời hạn này, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thực hiện sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, thì chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện, thì chấp hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án. Người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận, thì việc thi hành án sẽ bị hoãn lại.

Từ các quy định trên cho thấy một số vấn đề pháp lý sau đây: (i) Người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức việc thi hành án để đảm bảo quyền, lợi ích cho họ được xác định trong bản án, quyết định; (ii) Người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức việc thi hành án để họ tự thực hiện nghĩa vụ của mình; (iii) Người phải thi hành án nếu không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn Luật định, sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; (iv) Người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận, thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn việc thi hành án.

Như vậy, có thể khẳng định, cơ chế để đảm bảo việc thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao con cho người có quyền nuôi con đã được pháp luật thi hành án dân sự quy định khá rõ. Tuy nhiên, trường hợp người phải thi hành án tự nguyện giao con, nhưng người có quyền nuôi con chưa hoặc không tiếp nhận lại chưa được quy định rõ ràng. Nếu tình huống này xảy ra, chỉ có hướng giải quyết duy nhất là hoãn việc thi hành án. Nếu chỉ dừng lại ở quy định như vậy, sẽ không hợp lý trong nhiều trường hợp, khi đứng ở góc độ của người phải thực hiện nghĩa vụ chuyển giao con và của chính người con để xem xét. Bởi một khi hoãn việc thi hành án, thì việc thi hành án sẽ tạm thời dừng lại và như vậy, người có nghĩa vụ chuyển giao con vẫn trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con trong khi theo bản án, quyết định của Tòa án, việc này lẽ ra phải được chuyển giao cho người kia, rõ ràng, trong chừng mực nhất định, quyền, lợi ích hợp pháp của người con, của người không có quyền nuôi con sẽ không được bảo đảm.

Điều này nảy sinh vấn đề: (i) Người có quyền trực tiếp nuôi con chưa hoặc không tiếp nhận việc nuôi con mà không có lý do chính đáng có bị chế tài? (ii) Người phải chuyển giao quyền nuôi con có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của mình, khi mình phải thực hiện công việc nuôi con đáng lẽ ra thuộc về người có quyền nuôi con? (iii) Nếu người có nghĩa vụ phải chuyển giao con kiên quyết thực hiện việc chuyển giao thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý thế nào?

Thứ nhất, người có quyền trực tiếp nuôi con chưa hoặc không tiếp nhận việc nuôi con mà không có lý do chính đáng có bị chế tài?

Điều 126 Luật Thi hành án dân sự và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự chỉ đề cập đến trường hợp đương sự chưa hoặc không tiếp nhận quyền, lợi ích của mình liên quan đến tài sản, giấy tờ, cụ thể, sau khi có quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ, chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm nhận lại tiền, tài sản. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tiền, thì chấp hành viên gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng, thì chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 của Luật này và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền đã được gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng, thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước.

Đối với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy định tại Điều 125 Luật này. Đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định.

Trường hợp tài sản trả lại là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình bảo quản và đương sự từ chối nhận, thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ngân hàng Nhà nước đổi tiền mới có giá trị tương đương để trả cho đương sự. Đối với tài sản là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được không do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự mà đương sự từ chối nhận, thì cơ quan thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng Nhà nước xử lý theo quy định của pháp luật. Việc trả lại tiền tạm ứng án phí theo bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này. Trường hợp trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ mà đương sự không nhận, thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 126 Luật Thi hành án dân sự. Như vậy, có thể khẳng định, nếu người có quyền trực tiếp nuôi con, nhưng họ chưa hoặc không tiếp nhận quyền này mà không có lý do chính đáng, chẳng có chế tài nào để xử lý cả. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ có thể hoãn việc thi hành án mà thôi.

Có quan điểm cho rằng, trong vấn đề pháp lý đang bàn luận trên, Luật Thi hành án dân sự cần xác định đây là việc chưa có điều kiện thi hành án[2]. Quan điểm này chúng tôi cho rằng chưa phù hợp, bởi xác định trường hợp có điều kiện thi hành án hay chưa có điều kiện thi hành án là xem xét, đánh giá khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ, trong trường hợp này không thể dựa vào khả năng tiếp nhận quyền, lợi ích của người được thi hành án để xác định. Cũng có quan điểm lại cho rằng, trong trường hợp này, Luật Thi hành án dân sự cần xác định đây là căn cứ để đình chỉ việc thi hành án[3]. Tác giả cho rằng, quan điểm như vậy cũng chưa phù hợp nếu chúng ta xem xét ở góc độ bảo vệ quyền, lợi ích của người con và người phải chuyển giao con.

Bên cạnh giải pháp mà Luật Thi hành án dân sự hiện hành đề ra - hoãn việc thi hành án, tác giả cho rằng, trong trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên cần giải thích cho người được giao nuôi con hiểu việc tiếp nhận quyền trực tiếp nuôi con theo bản án, quyết định của Tòa án vừa là quyền, nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ của họ, vì vậy, việc chưa hoặc không tiếp nhận quyền nuôi con là vi phạm quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, cụ thể là vi phạm nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con. Trong trường hợp cần thiết, chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế để buộc người này phải thực hiện việc tiếp nhận quyền nuôi con. Có thể khẳng định, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong tình huống này là cần thiết, không trái quy định của pháp luật, vì qua các phân tích trên, thì việc nuôi con vừa là quyền, nhưng cũng đồng thời là nghĩa vụ của họ.

Liệu trong thực tế có xảy ra trường hợp người phải thi hành án tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình, nhưng người được thi hành án lại chưa hoặc không tiếp nhận quyền và lợi ích của họ? Câu trả lời là có. Có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như người phải chuyển giao con họ muốn tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình, để kết hôn với người khác, hay để ra nước ngoài sinh sống…, người được thi hành án đã thay đổi nơi cư trú nên cơ quan thi hành án dân sự chưa xác định được địa chỉ, hay họ đang làm ăn xa, sinh sống ở nước ngoài chưa kịp về Việt Nam để tiếp nhận quyền nuôi con, cũng có trường hợp bị cản trở bởi vợ hoặc chồng sau này của họ… Khi vợ chồng ly hôn, thường vợ, chồng đều dành quyền được nuôi con, nhưng cũng có trường hợp cả hai vợ chồng không muốn nhận nuôi, mà muốn giao cho chồng hoặc vợ mình nuôi.

Thứ hai, người phải chuyển giao quyền nuôi con có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình, khi mình phải thực hiện công việc nuôi con đáng lẽ ra thuộc về người có quyền nuôi con?

Việc trông nom, chăm sóc con có lẽ khó để khởi kiện nhằm buộc người không tiếp nhận quyền nuôi con phải trả công cho mình, bởi lẽ, chăm sóc, trông nom con vừa là quyền nhưng cũng là nghĩa vụ của cha mẹ, loại quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, không ai lại tính toán điều này. Tuy nhiên, khoản đền bù cho việc nuôi dưỡng con cần được ghi nhận. Thời điểm để tính cần được xác định từ thời điểm người phải chuyển giao con đã tự nguyện thực hiện nghĩa vụ nhưng người có quyền nuôi con chưa hoặc không tiếp nhận. Các nghĩa vụ tài sản phát sinh từ việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con phải được xác định là nghĩa vụ chung, hai người phải liên đới chịu trách nhiệm. Nói cách khác, nghĩa vụ nuôi dưỡng con là nghĩa vụ chung của cha mẹ, vì vậy các nghĩa vụ tài sản phát sinh từ các giao dịch nhằm để nuôi dưỡng con được xác định là nghĩa vụ chung của hai vợ chồng. Theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ này, trường hợp một bên thực hiện hết nghĩa vụ này, có quyền yêu cầu bên kia phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình[4]. Như vậy, có thể khẳng định, người có nghĩa vụ chuyển giao con có quyền yêu cầu người có quyền nuôi con phải hoàn trả một phần chi phí nuôi dưỡng con cho mình, điều này là hợp lý.

Thứ ba, nếu người có nghĩa vụ phải chuyển giao con kiên quyết thực hiện việc chuyển giao thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý thế nào?

Trường hợp người có quyền nuôi con chưa hoặc không tiếp nhận việc nuôi con mà không có lý do chính đáng, hướng xử lý thích hợp trong những trường hợp này là chấp hành viên phải động viên, thuyết phục người có quyền nuôi con tiếp nhận việc nuôi con. Trường hợp cần thiết sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế như đã bàn luận ở phần trên. Trường hợp người có quyền nuôi con không hoặc chưa tiếp nhận quyền nuôi con mà có lý do chính đáng, hướng xử lý thích hợp là hoãn việc thi hành án theo quy định, chấp hành viên động viên, thuyết phục người đang nuôi con tiếp tục việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con, bởi đây cũng là nghĩa vụ của họ. Người có nghĩa vụ chuyển giao con, có quyền yêu cầu người có quyền nuôi con hoàn trả cho mình một phần chi phí nuôi dưỡng con trong trường hợp tự nguyện thực hiện nghĩa vụ chuyển giao con, nhưng việc chuyển giao không thực hiện được do lỗi từ phía người có quyền nuôi con.

Bên cạnh đó, chấp hành viên có thể hướng dẫn họ thực hiện việc yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, điều này có thể thực hiện được trên thực tế và đảm bảo quyền lợi cho người con, khi người có nghĩa vụ chuyển giao con mong muốn được nuôi con và họ có điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con. Trường hợp họ không muốn nuôi con hoặc không có điều kiện để nuôi con, thì hướng giải quyết trên khó có thể thực hiện được hiệu quả.

Lê Vĩnh Châu

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 70, 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2]. Giang Hải Thuyền,(2018), “Xác định trường hợp chưa có điều kiện thi hành án”, Luận văn Thạc sỹ Luật, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 22.

[3]. Quách Ngọc Hiểu, (2018), “Thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”, Luận văn thạc sỹ Luật, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 31.

[4]. Xem Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015, các điều 27, 37, 69, 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: