Thứ năm 28/05/2026 00:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ai giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng công an xã

Trưởng Công an xã là người chịu sự quản lý trực tiếp của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, và có thể coi đây là trường hợp cụ thể có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính của mình đã ban hành, vì thẩm quyền này thuộc về Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã.

Thực hiện Kế hoạch 1769/KH-UBND ngày 25/5/2011 của UBND tỉnh Quảng Nam về triển khai công tác theo dõi thi hành pháp luật năm 2011 trên địa bàn tỉnh, theo đó 02 lĩnh vực trọng tâm được chọn là xử lý vi phạm và đấu giá tài sản, qua theo dõi công tác xử phạt vi phạm hành chính, nhận thấy các hành vi vi phạm được phát hiện, xử lý kịp thời nhằm hạn chế vi phạm pháp luật trên tất cả các lĩnh vực; nhiều đối tượng bị xử phạt không thống nhất với quyết định xử phạt của người có thẩm quyền đã khiếu nại, khiếu kiện và được giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Trong quá trình theo dõi thi hành Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, huyện Thăng Bình (tỉnh Quảng Nam) đề nghị hướng dẫn nghiệp vụ về giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định xử phạt hành chính của Trưởng Công an xã. Do chưa có văn bản quy pháp pháp luật nào quy định, nên có những ý kiến khác nhau, chưa thống nhất khi xác định thẩm quyền giải quyết, nhất là việc hướng dẫn cho người dân thực hiện quyền khiếu nại cũng có phần bất cập, các cơ quan thì đùn đẩy trách nhiệm việc xem xét giải quyết khiếu nại lần hai.

Từ thực tế, một vụ việc đã xảy ra ở xã BT (huyện Thăng Bình), Trưởng Công an xã ra quyết định xử phạt hành chính nhưng đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người dân. Người dân khiếu nại thì Trưởng Công an xã ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu không chấp nhận đơn, giữ nguyên quyết định xử phạt. Thấy việc giải quyết của Trưởng Công an xã không thỏa đáng, nên người dân làm đơn khiếu nại đến cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai, nhưng các cơ quan trong địa bàn huyện lúng túng vì không xác định được cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định xử phạt của Trưởng Công an xã.

Xin giới thiệu các ý kiến khác nhau, để các đồng nghiệp cùng trao đổi:

Ý kiến thứ nhất: Thẩm quyền giải quyết thuộc về Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, căn cứ các quy định:

- Điều 19 Luật Khiếu nại, tố cáo và Điều 17 Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 mới ban hành thì thẩm quyền của “Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Thủ trưởng cơ quan thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp”.

- Khoản 1, Điều 4 Pháp lệnh Công an xã quy định: Công an xã chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự quản lý điều hành của ủy ban nhân dân cùng cấp và sự chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của Công an cấp trên.

Ý kiến này cho rằng, thẩm quyền của Chủ tịch ủy ban nhân dân xã giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Trưởng Công an xã là có căn cứ và phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật. Vì công an xã, Trưởng Công an xã chịu sự quản lý trực tiếp của ủy ban nhân dân xã và Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, nên việc giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Trưởng Công an xã tuy chưa được pháp luật quy định nhưng đúng với thực tiễn thi hành pháp luật về khiếu nại.

Ý kiến thứ hai: Thẩm quyền giải quyết thuộc về Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện căn cứ vào khoản 3, Điều 10 Pháp lệnh Công an xã quy định là “Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sau khi trao đổi, thống nhất với Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, đề nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức Trưởng Công an xã; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó trưởng Công an xã.

Chủ tịch ủy ban nhân dân xã theo đề nghị của Trưởng Công an xã quyết định công nhận, miễn nhiệm công an viên”.

Ý kiến này cho rằng: Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện là người trực tiếp bổ nhiệm Trưởng Công an xã, do đó là cấp trên trực tiếp của Trưởng Công an xã và có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định xử phạt của Trưởng Công an xã.

Ý kiến thứ ba: Thẩm quyền giải quyết thuộc về Trưởng Công an huyện, căn cứ Thông tư 08/2007/TT-BCA ngày 24/7/2007 của Bộ Công an hướng dẫn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Công an nhân dân tại điểm 1.2, khoản 1, Mục II có quy định:

“Trưởng Công an cấp huyện giải quyết:

Khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình và của cán bộ, chiến sỹ thuộc quyền quản lý trực tiếp, trừ khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Trưởng đồn Công an, Trưởng Công an phường, Trưởng Công an thị trấn;

Khiếu nại mà Trưởng đồn Công an, Trưởng Công an phường, Trưởng Công an thị trấn đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại”.

Ý kiến này lập luận rằng, Công an xã chịu sự hướng dẫn nghiệp vụ của Công an huyện và Trưởng Công an huyện nên việc giải quyết khiếu nại lần hai đối với các quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Trưởng Công an xã cũng như Trưởng Công an phường, Trưởng Công an thị trấn, thì cũng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định của Trưởng Công an xã.

Mỗi ý kiến nêu ra đều có viện dẫn quy định cụ thể của pháp luật với những cách lập luận riêng của mình.

Theo quan điểm của người làm công tác theo dõi thi hành pháp luật, chúng tôi thấy rằng, để xác định ai là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính của Trưởng Công an xã thì trước hết phải xem xét vấn đề Trưởng Công an xã có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính của mình hay không. Cần phải thấy rằng, theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện nay thì chủ thể có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính rất nhiều, nhưng chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính chỉ được giao cho một số chức danh có thẩm quyền nhất định. Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005) và Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo không có quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Trưởng Công an xã. Điều 19 của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005), quy định: “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), thủ trưởng cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp”.

Trưởng Công an xã là người chịu sự quản lý trực tiếp của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, và có thể coi đây là trường hợp cụ thể có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính của mình đã ban hành, vì thẩm quyền này thuộc về Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã.

Trở lại vấn đề nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng việc đặt ra vấn đề ai là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính của Trưởng Công an xã là không đúng, bởi vì Trưởng Công an xã là người không có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu. Do đó, nếu trong thực tế đã có trường hợp Trưởng Công an xã ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính của mình mà đương sự vẫn không đồng ý, thì theo chúng tôi nên xử lý theo một trong hai hướng như sau:

- Một là, Trưởng Công an xã ra quyết định thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại của mình và chuyển hồ sơ đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã giải quyết khiếu nại lần đầu theo thẩm quyền;

- Hai là, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã ra quyết định hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại của Trưởng Công an xã và tiến hành các thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu theo thẩm quyền

Đoàn Văn Bản

Sở Tư pháp Quảng Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: