Thứ sáu 13/03/2026 06:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng pháp luật - Góc nhìn từ thực tiễn vụ tranh chấp nội bộ công ty

Áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc thực tiễn vẫn là vấn đề luôn có tính thời sự và có thể tạo ra hệ lụy khác nhau ở cùng nội dung vụ việc, tùy thuộc vào nhận thức và kỹ năng áp dụng pháp luật của người có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp. Bài viết này tập trung làm sáng rõ những nguyên tắc cơ bản trong áp dụng pháp luật và góc nhìn áp dụng pháp luật từ thực tiễn vụ tranh chấp nội bộ công ty.

1. Các nguyên tắc áp dụng pháp luật

Trong xã hội hiện đại, luôn có sự đan xen tồn tại nhiều loại quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội, như: Quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm tập quán, quy phạm của các tổ chức chính trị - xã hội, quy phạm pháp luật… Quy phạm pháp luật có vị trí quan trọng, vai trò trung tâm trong hệ thống các quy phạm điều chỉnh quan hệ xã hội.

Ở Việt Nam, quan niệm về áp dụng pháp luật vẫn được nhìn nhận rộng hẹp khác nhau, chưa có sự đồng nhất[1]. Ở mức độ phổ quát, áp dụng pháp luật là một dạng thức biểu hiện của thực hiện pháp luật, đó là hoạt động của các chủ thể nhân danh quyền lực nhà nước và tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền theo quy định pháp luật, căn cứ vào các quy định pháp luật để đưa ra quyết định có tính cá biệt nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội theo mục tiêu cụ thể.

Các quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngày càng đa dạng về chủ thể, phong phú về mục đích cũng như phức tạp về nội dung mối quan hệ giữa các bên. Bởi vậy, pháp luật của xã hội hiện đại cũng ngày càng phát triển, đa dạng và phức tạp về cấu trúc hình thức lẫn cấu trúc nội dung. Khi hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng đa dạng, nội dung điều chỉnh pháp luật ngày càng phức tạp trên nhiều lĩnh vực thì nguy cơ xung đột pháp luật cũng ngày càng gia tăng và việc đặt ra nguyên tắc (tư tưởng chỉ đạo) áp dụng vản bản quy phạm pháp luật là điều tất yếu, cần thiết.

Nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật là tư tưởng chỉ đạo được quán triệt trong các quy phạm pháp luật đòi hỏi mọi chủ thể có thẩm quyền khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật phải triệt để tuân thủ.

Các nguyên tắc cơ bản trong áp dụng văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết vụ việc thực tiễn, bao gồm:

1.1. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm xảy ra hành vi

Khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”.

Theo nguyên tắc này, phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra hành vi. Tuy nhiên, vẫn có ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc này. Theo đó, trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố) thì áp dụng theo quy định đó.

Quy định hiệu lực hồi tố chỉ được đặt ra trong trường hợp đặc biệt, thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân.

Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:

- Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;

- Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn[2].

Chỉ luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước[3]. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước. Ngoài ra, cũng cần lưu ý trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới[4].

1.2. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn

Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn[5].

Theo Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm: Hiến pháp; Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước; Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Không ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện; Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã; Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.

1.3. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau

Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau[6].

Văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau thường chỉ rõ hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật ban hành trước về cùng một vấn đề. Tuy nhiên, có thể vẫn nảy sinh một vấn đề được quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau do cùng một cơ quan ban hành và các văn bản quy phạm pháp luật này đều đang có hiệu lực thì áp dụng nội dung quy định của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau.

1.4. Áp dụng luật riêng/luật chuyên ngành

Nguyên lý (học thuyết pháp lý) về mối quan hệ luật riêng/luật chuyên ngành với luật chung được quy định và áp dụng phổ biến trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, điển hình như: Nhật Bản, Đức, Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc[7]. Khi xem xét đến mối quan hệ giữa luật riêng/luật chuyên ngành và luật chung, người ta coi đây là: (i) Vấn đề về mối quan hệ giữa các văn bản pháp luật; (ii) Đối tượng được nói đến chỉ là các văn bản giá trị luật[8].

Nguyên lý ưu tiên áp dụng luật riêng/luật chuyên ngành trước luật chung đến nay vẫn chưa được nhìn nhận nhất quán trong giới luật học ở Việt Nam. Nguyên lý này cũng chưa được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng hạt nhân của nguyên lý này cũng đã được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và một số luật khác, cụ thể như sau:

- Theo Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự. Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự (quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015) được ưu tiên áp dụng. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì quy định của Bộ luật Dân sự được áp dụng.

Nguyên lý ưu tiên áp dụng luật riêng/luật chuyên ngành cũng được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ Luật Dân sự năm 2015, theo đó: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.

- Điều 4 Luật Thương mại năm 2005 quy định:

“1. Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có liên quan.

2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó.

3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự”.

- Khoản 2 Điều 5 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: “Trường hợp luật khác có quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hình thức tập trung kinh tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của luật đó”.

- Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Trường hợp luật khác có quy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của luật đó”.

Ngoài ra, nguyên lý ưu tiên áp dụng luật riêng/luật chuyên ngành trước luật chung cũng được đề cập tại Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2018), khoản 2 Điều 1 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Điều 4 Luật Đầu tư năm 2020...

Qua các quy định của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật riêng/luật chuyên ngành được vận dụng như sau:

Một là, trường hợp luật riêng/luật chuyên ngành có quy định khác với Luật Thương mại về vấn đề pháp lý có liên quan và các quy định này không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì áp dụng luật riêng/luật chuyên ngành;

Hai là, trường hợp luật riêng/luật chuyên ngành không quy định về vấn đề pháp lý có liên quan nhưng Luật Thương mại có quy định về vấn đề đó và quy định của Luật Thương mại không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì áp dụng Luật Thương mại;

Ba là, trường hợp luật riêng/luật chuyên ngành hoặc Luật Thương mại có quy định khác Bộ luật Dân sự về vấn đề pháp lý có liên quan và các quy định này không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì áp dụng luật riêng/luật chuyên ngành hoặc Luật Thương mại;

Bốn là, trường hợp luật riêng/luật chuyên ngành và Luật Thương mại không quy định về vấn đề pháp lý có liên quan hoặc có quy định khác với Bộ Luật Dân sự mà các quy định này trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì áp dụng Bộ luật Dân sự.

1.5. Một số nguyên tắc khác

Bên cạnh các nguyên tắc áp dụng quy phạm pháp luật nêu trên, trong thực tiễn giải quyết vụ tranh chấp còn áp dụng một số nguyên tắc khác, như:

- Áp dụng điều ước quốc tế khi khác biệt với văn bản quy phạm pháp luật trong nước về cùng một vấn đề, trừ Hiến pháp[9];

- Áp dụng hiệu lực về không gian[10];

Ngoài ra, cần lưu ý đến trật tự áp dụng nguồn bổ trợ khác, như: Áp dụng tập quán, thói quen trong thương mại[11] và áp dụng tương tự pháp luật, án lệ, lẽ công bằng[12].

2. Góc nhìn áp dụng pháp luật từ thực tiễn vụ tranh chấp nội bộ công ty

2.1. Tóm tắt vụ tranh chấp

Năm 2006, Công ty Cp X (trụ sở tại tỉnh A) làm Dự án đầu tư Nhà máy gạch Tuynel tại tỉnh B (viết tắt Dự án). Ngày 18/10/2007 UBND tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE…86 cho Công ty Cp X. Công ty Cp X đã ký hợp đồng thuê đất Dự án trả tiền hàng năm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Do thiếu vốn để triển khai thực hiện Dự án, Công ty Cp X đã mời Công ty Cp Y (trụ sở tại tỉnh B) hợp tác đầu tư. Công ty Cp Y đã đầu tư vào Dự án 11 tỷ VND. Công ty Cp Z (trụ sở tại tỉnh B) tiến hành xây dựng Trạm biến áp và đường dây 35 KVA tại Dự án theo Hợp đồng xây dựng với Công ty Cp X, trị giá 1.5 tỷ VND nhưng Công ty Cp X không có tiền thanh toán cho Công ty Cp Z.

Ngày 26/01/2010, Công ty Cp X cùng Công ty Cp Y và Công ty Cp Z đã ký thỏa thuận thành lập Công ty Cp K để thực hiện Dự án. Ngày 16/02/2010, Công ty Cp K được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 1000…195 với số vốn điều lệ 5 tỷ VND, trong đó: Công ty Cp X góp 1.5 tỷ VND bằng tài sản gắn liền trên đất của Dự án, Công ty Cp Y góp 3 tỷ VND, Công ty Cp Z góp 0,5 tỷ VND. Tổng số vốn các bên đã đầu tư vào Dự án là 18 tỷ, bao gồm tài sản là động sản và bất động sản gắn liền trên đất của Dự án được giao cho Công ty Cp K quản lý, khai thác. Sau khi hạch toán vốn góp của mỗi bên vào vốn điều lệ, số vốn còn lại của các bên hoạch toán vào công nợ Công ty Cp K phải trả, bao gồm: nợ Công ty Cp X 2,1 tỷ; nợ Công ty Cp Y 8 tỷ; nợ Công ty Cp Z 1 tỷ.

Sau khi được thành lập, Công ty Cp K đã quản lý toàn bộ tài sản gắn liền với đất và tài sản lưu động để triển khai các hoạt động kinh doanh tại Dự án Nhà máy gạch tuynel. Quá trình hoạt động, phát sinh bất đồng trong nội bộ Công ty Cp K. Công ty Cp X giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE…186 mang tên Công ty Cp X, không làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Dự án và phát sinh tranh chấp.

Quá trình giải quyết đơn yêu cầu, Thanh tra Sở KH và ĐT tỉnh B đã ra Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 24/12/2012 xử phạt Công ty Cp X 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) về hành vi không điều chỉnh Dự án đầu tư (Công ty Cp X đã nộp phạt). Kết luận thanh tra số 33/KL-TTr ngày 23/1/2015 của Thanh tra Nhà nước tỉnh B cũng đồng thời kiến nghị UBND tỉnh B chỉ đạo “Sở Tài nguyên và Môi trường xử lý và tham mưu với Ủy ban nhân dân tỉnh biện pháp xử lý buộc Công ty Cp X thực hiện đúng thủ tục hành chính về chuyển nhượng quyền sử dụng đất, về đăng ký biến động quyền sử dụng đất tại Dự án theo quy định tại khoản 3 Điều 12, Điều 15 Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ”.

Đầu tháng 7/2017, Công ty Cp X đã khởi kiện Công ty Cp K tại tòa án có thẩm quyền, yêu cầu Công ty Cp K trả lại cho Cty Cp X các tài sản sau:

(i) Quyền sử dụng đất Dự án (69.482 m2);

(ii) Tài sản là động sản và bất động sản gắn liền với quyền sử dụng đất (24 loại tài sản được liệt kê) trị giá 9,59 tỷ VND;

(iii) Các khoản khấu hao mà Công ty Cp K đã chiếm dụng 12,59 tỷ VND.

Công ty Cp K có đơn kiện lại (phản tố), đề nghị tòa án buộc Công ty Cp X thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, đăng ký biến động quyền sử dụng đất tại Dự án để cấp cho Công ty Cp K theo quy định của pháp luật.

2.2. Phán quyết của tòa án

Sau khi xem xét vụ việc, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã bác toàn bộ nội dung khởi kiện của Công ty Cp X, chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Cp K. Công ty Cp X kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Tại Phiên tòa phúc thẩm, Công ty Cp X đã rút kháng cáo đối với quyết định của Bản án sơ thẩm về yêu cầu (ii) và yêu cầu (iii), giữ nguyên kháng cáo đối với phần quyết định của Bản án sơ thẩm về yêu cầu (i). Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đối với phần kháng cáo đã rút, chỉ xem xét kháng cáo đối với quyết định của Bản án sơ thẩm về yêu cầu (i) để sửa một phần Bản án sơ thẩm.

Hội đồng xét xử phúc thẩm đã nhận định, Công ty Cp X thuê đất trả tiền hàng năm không được góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thành lập doanh nghiệp và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 111 Luật Đất đai năm 2003 (áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm xảy ra hành vi) để bác quyền của Công ty Cp K được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã xác định của Dự án, buộc Công ty Cp K trả lại quyền sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm cho Công ty Cp X.

2.3. Một số bình luận

Thứ nhất, đối với quyết định của Bản án sơ thẩm về yêu cầu 2 và yêu 3 của Công ty Cp X:

Trong tình huống này, Công ty Cp X không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh “tài sản là động sản và bất động sản gắn liền với quyền sử dụng đất (24 loại tài sản được liệt kê) trị giá 9,59 tỷ VND” thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Công ty Cp X cũng như các khoản khấu hao mà Công ty Cp X cho rằng “Công ty Cp K đã chiếm dụng 12,59 tỷ VND” nên Hội đồng xét xử sơ thẩm đã quyết định bác yêu cầu (ii) và bác yêu cầu (iii) (tại đơn khởi kiện) của Công ty Cp X là đúng pháp luật.

Tại Phiên tòa phúc thẩm, Công ty Cp X đã rút kháng cáo đối với quyết định của Bản án sơ thẩm về yêu cầu (ii), yêu cầu (iii) và giữ nguyên kháng cáo đối với phần quyết định của Bản án sơ thẩm về yêu cầu (i). Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đối với phần kháng cáo đã rút, chỉ xem xét kháng cáo đối với quyết định của Bản án sơ thẩm về yêu cầu (i) là đúng với quy định của pháp luật hiện hành về tố tụng dân sự. Điều này cũng đồng nghĩa với quyết định bác yêu cầu (ii) và bác yêu cầu (iii) của Công ty Cp X tại Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, đối với phần quyết định của Bản án sơ thẩm về yêu cầu (i) của Công ty Cp X:

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định, Công ty Cp X thuê đất trả tiền hàng năm nên không được góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thành lập doanh nghiệp là đúng với quy định pháp luật về đất đai (vì giá trị của đất thuê, trả tiền thuê hàng năm là bằng không).

Trong vụ tranh chấp này, Công ty Cp X không góp vốn bằng đất thuê thu tiền thuê đất hàng năm mà góp vốn bằng tài sản của Công ty Cp X gắn liền với đất của Dự án là hợp pháp, phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 111 Luật Đất đai năm 2003[13].

Tuy nhiên, sau khi Công ty Cp K được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 1000…195, Công ty Cp X không thực hiện chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn cho Công ty Cp K là trái với quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2005 (áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm xảy ra hành vi)[14].

Điểm bất cập của khoản 1c Điều 111 Luật Đất đai năm 2003 khi cho phép tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất có các quyền bán tài sản, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê nhưng chỉ quy định “người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định” mà không quy định quyền này cho người nhận tài sản góp vốn. Đây là căn nguyên dẫn đến phán quyết của tòa án gây bất lợi cho bên trung thực, ngay thẳng và công lý đã không được thực thi. Sự bất cập này đã được sửa đổi bởi Luật Đất đai năm 2013. Theo đó, điểm c và điểm d khoản 1 Điều 175 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

1. Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có các quyền và nghĩa vụ sau đây:…

c) Bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 189 của Luật này; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;

d) Góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người nhận góp vốn bằng tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;”.

Như vậy, theo điểm c và điểm d khoản 1 Điều 175 Luật Đất đai năm 2013 thì người mua tài sản cũng như người nhận góp vốn bằng tài sản đều được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định.

Ở vụ tranh chấp trên, áp dụng khoản 1c Điều 111 Luật Đất đai năm 2003 (áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm xảy ra hành vi) thì chỉ người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định (quyền này không được quy định cho người nhận tài sản góp vốn).

Tuy nhiên, ở thời điểm giải quyết vụ tranh chấp, Công ty Cp K đang tồn tại hợp pháp, hành vi góp vốn bằng tài sản gắn liền trên đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm của Công ty Cp X và hành vi nhận góp vốn bằng tài sản của Công ty Cp K vẫn đang tiếp diễn và Luật Đất đai năm 2013 đang có hiệu lực pháp luật. Bởi vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần áp dụng điểm d khoản 1 Điều 175 Luật Đất đai năm 2013 để ra phán quyết theo hướng: Cho phép Công ty Cp K (người nhận góp vốn bằng tài sản) được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định mới “thấu tình, đạt lý” và phù hợp với nguyên tắc cơ bản trong áp dụng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam. Nguyên tắc áp dụng pháp luật này cũng đã được thể hiện rõ trong các quy định của pháp luật đất đai qua các thời kỳ ở Việt Nam[15].

Trong vụ việc tranh chấp nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ áp dụng điểm c khoản 1 Điều 111 Luật Đất đai năm 2003, không áp dụng điểm d khoản 1 Điều 175 Luật Đất đai năm 2013 - văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực đối với hành vi nhận và sử dụng vốn góp bằng tài sản gắn liền với đất thuê trả tiền hàng năm (hành vi đang tiếp diễn) để sửa phần quyết định của Bản án sơ thẩm đối với yêu cầu (i) của Công ty CP X theo hướng: Buộc Công ty Cp K trả lại quyền sử dụng đất của Dự án (thu tiền thuê đất hàng năm) cho Công ty Cp X (không cho phép Công ty Cp K được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định) là không phù hợp với các nguyên tắc cơ bản trong áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, không bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của bên cần được pháp luật bảo vệ (theo Luật Đất đai năm 2013), gây khó khăn vướng mắc trong việc thi hành án ở địa phương[16]./.

ThS. GVC. Hoàng Minh Chiến

Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Xem thêm: TS. Nguyễn Thị Hồi (chủ biên), Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội năm 2009, tr.22 - tr.30.

[2] Điều 152 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBHN năm 2020).

[3] Hiệu lực trở về trước (hồi tố) cũng đã được quy định tại một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam, như: khoản 1 và khoản 2 Điều 118 Luật Cạnh tranh năm 2018; khoản 2 Điều 13 Luật Đầu tư năm 2020; khoản 2, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1d Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015…

[4] Khoản 4 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBHN năm 2020).

5 Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBHN năm 2020).

[6] Khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

[7] Xem thêm: TS. Nguyễn Văn Hiến, Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp các văn bản do cùng một chủ thể ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, nguồn: http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/210476/
Nguyen-tac-ap-dung-phap-luat-trong-truong-hop-cac-van-ban-do-cung-mot-chu-the-ban-hanh-co-quy-dinh-khac-nhau-ve-cung-mot-van-de.html.

[8] Xem thêm: PGS, TS. Nguyễn Như Phát, Bài tham luận tại Hội thảo khoa học của VCCI ngày 08/12/2004.

[9] Khoản 5 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

[10] Điều 155 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

[11] Xem: Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3, khoản 4 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005. Luật Thương mại năm 2005, chỉ định nghĩa tập quán, thói quen trong thương mại, không quy định về thứ bậc ưu tiên áp dụng tập quán, thói quen trong thương mại. Tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm thói quen trong thương mại và quy định tại Điều 5, Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thói quen trong hoạt động thương mại được áp dụng khi các bên không có thỏa thuận. Các bên không có thỏa thuận (cũng không có thói quen trong thương mại), pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng tương tự pháp luật. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng.

[12] Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015

[13] Điểm c khoản 1 Điều 111 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất có các quyền và nghĩa vụ sau đây: Bán tài sản, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định”.

[14] Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “1. Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây: a) Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ; b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản…”.

[15] Xem: Điều 100, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013; các điều 20, 21, 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013.

[16] Toàn bộ tài sản gắn liền với đất của Dự án và tài ản khác tại Dự án đều thuộc sở hữu của Công ty Cp K. Công ty Cp X không có quyền sở hữu với bất kỳ tài sản nào tại Dự án (Bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật đối với phần quyết định về bác yêu cầu đòi lại tài sản là động sản và bất động sản gắn liền với quyền sử dụng đất và khấu hao tài sản của Công ty Cp X).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: