Thứ bảy 07/02/2026 21:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bán tài sản đấu giá thi hành án – Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn

Đây là quy định nền tảng về vấn đề xử lý tài sản kê biên bán đấu giá không thành một cách chung nhất với hai nội dung đặt ra cần giải quyết là, tài sản bán không được thì được định giá lại để tiếp tục bán đấu giá và sự kiện bán đấu giá không thành xuất hiện quyền được nhận và nghĩa vụ phải nhận tài sản kê biên bán đấu giá để cấn trừ nợ của người được thi hành án.

Bán đấu giá là giai đoạn cuối cùng và quan trọng trong quá trình xử lý tài sản của người phải thi hành án để bảo đảm việc thi hành án. Khi một tài sản cưỡng chế, kê biên được đưa ra bán công khai trong thời hạn nhất định, quá thời hạn thông báo mà không có người đăng ký mua hoặc có một hoặc nhiều người đăng ký đấu giá, nhưng cuối cùng không ai đồng ý mua, thì tài sản đó được xem là bán đấu giá không thành. Việc tổ chức bán đấu giá có nội dung khá rộng, bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến cách xử lý tài sản kê biên, đấu giá không thành.

1. Quy định pháp luật về xử lý việc bán đấu giá không thành

Điều 34 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 quy định về bán đấu giá tài sản đã kê biên: “… Tài sản không bán được thì được định giá lại để tiếp tục bán đấu giá.

Đối với tài sản không bán được, chấp hành viên yêu cầu người được thi hành án nhận; nếu người được thi hành án không nhận thì chấp hành viên trả tài sản cho người phải thi hành án và quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khác…”1

Đây là quy định nền tảng về vấn đề xử lý tài sản kê biên bán đấu giá không thành một cách chung nhất với hai nội dung đặt ra cần giải quyết là, tài sản bán không được thì được định giá lại để tiếp tục bán đấu giá và sự kiện bán đấu giá không thành xuất hiện quyền được nhận và nghĩa vụ phải nhận tài sản kê biên bán đấu giá để cấn trừ nợ của người được thi hành án.

Hậu quả của việc không nhận tài sản đấu giá trừ nợ của người được thi hành án làm phát sinh quyền được nhận lại tài sản bị kê biên, bán đấu giá của người phải thi hành án. Sự lựa chọn giải pháp kê biên tài sản khác là quyền của cơ quan thi hành án.

Điểm 8 Điều 17 Nghị định số 69/1993/NĐ-CP ngày 18/10/1993 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 đã khẳng định lại lần nữa nội dung quy định của pháp lệnh, cụ thể: “Đối với tài sản không bán được, chấp hành viên yêu cầu người được thi hành án nhận; nếu người đó không nhận, thì chấp hành viên trả tài sản cho người phải thi hành án và quyết định áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập hoặc trừ vào tài sản khác của người phải thi hành án đang do người khác giữ, hoặc kê biên tài sản khác nếu có”2

Với quy định xử lý tài sản kê biên không bán được như trên đã phát sinh một số vấn đề như: Số lần được giảm giá tài sản là bao nhiêu thì hợp lý, mỗi lần giảm bao nhiêu phần trăm là vừa phải, người được thi hành án có bị ép phải nhận tài sản kê biên để trừ nợ không sau khi tài sản kê biên được giảm giá hai lần, việc người được thi hành án không nhận tài sản bán đấu giá trừ nợ, thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án có vội vã quá không, xử sự như vậy có hợp lý không. Chúng tôi cho rằng, quy định như vậy là quá sơ khai, còn nợ quá nhiều nghi vấn chưa giải quyết thấu đáo.

Đến Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, quan điểm xử lý tài sản kê biên không bán được vẫn giống như Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993; có chăng, quy định cụ thể hơn về mức giá tối đa được phép giảm…3

Điều 104 Luật Thi hành án năm 2008 quy định: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành, mà đương sự không yêu cầu định giá lại, thì chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định.

Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án”.

Ngoài ra, các nghị định như Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/07/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/07/2009 cũng quy định về xử lý việc bán đấu giá không thành. Bên cạnh đó, ngày 23/01/2014, Bộ Tư pháp lại có Công văn số 224 tiếp tục hướng dẫn cụ thể một số vướng mắc về nghiệp vụ thi hành án.

Như vậy, đến thời điểm này, nếu chỉ tính riêng các văn bản luật chuyên ngành quy định về xử lý tài sản bán đấu giá không thành thì đã có 01 văn bản luật, 02 pháp lệnh (chỉ tính từ Pháp lệnh Thi hành án năm 1993), 03 nghị định, 02 công văn hướng dẫn.

Qua nội dung các văn bản quy định, hướng dẫn nội dung xử lý việc bán đấu giá tài sản kê biên không thành, chúng tôi quan tâm mấy nội dung như sau:

Một là, tất cả các văn bản luật đều thống nhất tài sản kê biên có giá trị được bán công khai (bán đấu giá), trường hợp bán không được thì giảm giá bán tiếp.

Hai là, những văn bản luật trước khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì có những quy định thể hiện tâm lý xử lý tài sản kê biên không bán được của nhà làm luật một cách quá vội vàng (giảm giá hai lần giao cho người được thi hành án nhận để trừ nợ, không nhận, trả đơn yêu cầu thi hành án), thể hiện sự nóng vội trong việc sớm chấm dứt vụ án một cách miễn cưỡng, mà không xem xét, căn cứ vào các nguyên nhân khách quan, chủ quan trong việc chưa bán được tài sản kê biên (Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 không quy định số lần giảm giá; Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định sau hai lần giảm giá thì giao tài sản trừ nợ). Sự vội vàng này theo tác giả là một tâm lý tiêu cực, là một bất cập.

Bà là, những quy định tính từ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về sau, thì quy định việc xử lý tài sản kê biên không bán được lại phải được giảm giá bán đến cùng và chỉ dừng lại khi giá trị tài sản được giảm bằng với chi phí đã bỏ ra trong quá trình cưỡng chế, kê biên, bán đấu giá. Đây cũng là một quy định bất cập khác mà Luật Thi hành án dân sự năm 2008 vấp phải.

Quan điểm phải giảm giá tài sản cưỡng chế, kê biên đến cùng quy định trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cũng là quan điểm tiêu cực không kém gì quan điểm vội vàng buộc người được thi hành án nhận tài sản xử lý chưa được để trừ nợ của các Pháp lệnh trước Luật.

Những bất cập có thể được mô tả như sau:

- Chưa xem xét thấu đáo nguyên nhân bán đấu giá không thành. Thông thường một tài sản được định giá đúng quy trình, trong quá trình tổ chức bán đấu giá mà phải giảm đến một nửa hoặc hơn một nửa… nhưng vẫn bán không được, thì quy luật về giá trị của tài sản không còn bảo đảm. Hay nói cách khác, trong trường hợp này, giá trị của tài sản không phải là nguyên nhân dẫn đến việc không bán được tài sản, việc tài sản không bán được là do nhiều nguyên nhân khác nhau.

- Quan điểm “buộc” chấp hành viên phải truy đuổi đến cùng một tài sản như vậy là hoàn toàn sai lầm, không thể xử lý đến cùng một tài sản để cuối cùng chỉ nhằm thu hồi về số tiền bằng với chi phí đã bỏ ra. Xét về mặt kinh tế thì việc làm như vậy là phi kinh tế, xét về mặt nhân đạo của nhà nước thì không bảo đảm, xét về mặt thực tiễn thì đã bỏ qua những tài sản khác (trong quá trình thi hành án thì chấp hành viên có quyền xử lý bất kỳ tài sản nào nếu việc xử lý thuận lợi nhất), xét về mặt tâm lý thì chấp hành viên bị sa lầy hồ sơ thi hành án.

- Sau khi ban hành Nghị định số 125/2013/NĐ-CP bổ sung Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, sự việc vẫn có chỗ vướng mắc nên phải ban hành tiếp một số công văn hướng dẫn thêm. Tuy vậy, việc này vẫn còn có chỗ vướng mắc.

Ví dụ: Ông A phải nộp trả nợ cho ông B 400 triệu đồng, cơ quan thi hành án tổ chức kê biên nhà của ông A, tổ chức bán đấu giá bảo đảm thi hành án. Quá trình đấu giá đã giảm giá 4 lần nhưng không có người đăng ký mua; người phải thi hành án yêu cầu thẩm định lại giá, khi có giá mới, cơ quan thi hành án tiếp tục tổ chức bán đấu giá theo giá mới, người được thi hành án yêu cầu được nhận tài sản để trừ nợ. Trong trường hợp này, có các quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, người được thi hành án yêu cầu nhận tài sản là đúng, cơ quan thi hành án phải làm thủ tục cho họ nhận tài sản để trừ nợ vì căn cứ Nghị định số 125/2013/NĐ-CP, trường hợp này đã giảm giá đến bốn lần theo quy định của pháp luật, thủ tục thi hành án là một quá trình, việc định giá lại không làm mất hiệu lực của những lần giảm giá trước đó.

Quan điểm thứ hai thì cho rằng, trong trường hợp này, không thể cho người được thi hành án nhận tài sản trừ nợ theo quy định tại Nghị định số 125/2013/NĐ-CP, vì dù rằng, xét quá trình tổ chức bán đấu giá thì đã hơn ba lần giảm giá, nhưng trong quá trình bán đấu giá, người phải thi hành án yêu cầu thẩm định lại giá, tài sản có sự thay đổi về giá trị, do đó, quy định sau ba lần giảm giá nếu không bán được tài sản thì yêu cầu người được thi hành án nhận tài sản trừ nợ được hiểu là ba lần giảm giá liên tục ở một giá trị nhất định đã được thông báo. Hay nói cách khác, những lần giảm giá trước khi tổ chức xác định lại giá trị tài sản kê biên bán đấu giá không thành không tính vào số lần giảm giá chung làm căn cứ cho người được thi hành án nhận tài sản kê biên trừ nợ.

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất và cho rằng, Nghị định số 125/2013/NĐ-CP quy định sau ba lần giảm giá nhưng không có người đăng ký mua tài sản kê biên, bán đấu giá thì người được thi hành án có quyền yêu cầu được nhận tài sản đấu giá để cấn trừ nợ. Việc giảm giá đến ba lần tính trên tổng số lần giảm giá trong quá trình bán đấu giá không phân biệt các lần giảm giá trước, sau khi giá trị tài sản kê biên có sự thay đổi.

2. Nhận xét

Trong cuộc sống, một tài sản được chào bán nhiều lần, nhưng không bán được, cách xử lý như thế nào là vấn đề quan tâm đối với người bán tài sản đó. Ví như, người nông dân mang mớ rau ra chợ bán, đến trưa, đến chiều không có người mua, thì việc xử lý như thế nào đối với mớ rau đó, cần được cân nhắc, có thể để lại ngày hôm sau mang ra chợ bán tiếp, có thể để lại nhà sử dụng, cũng có thể phải bỏ đi…, tuyệt nhiên không thể mang ra chợ bán đến ngày thứ ba, thứ tư, vì chi phí cho việc bán nó chắc chắn lớn hơn giá trị bản thân mớ rau đó rất nhiều. Cũng vậy, khi doanh nhân chào hàng một bất động sản, việc xử lý như thế nào đối với bất động sản đó khi nhiều lần không bán được là vấn đề cần suy nghĩ. Có thể, doanh nhân không bán nữa, mà dùng tài sản đó vào việc khác, có thể giảm giá nhiều lần để tiếp tục bán, thậm chí có khi không còn quan tâm đến việc mua bán bất động sản đó nữa, tuyệt nhiên không có doanh nhân nào đem tài sản bán chỉ để thu hồi chi phí đã bỏ ra bán chúng.

Theo các quy định của pháp luật thì:

Đối với quy định pháp luật trước khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008 ra đời, thì việc xử lý tài sản đấu giá không bán được quá “nghiêm khắc”. Theo đó, sau hai lần giảm giá mà tài sản kê biên không bán được, giao cho người được thi hành án nhận để trừ nợ, trường hợp người được thi hành án không nhận, thì trả lại đơn yêu cầu thi hành án và xem xét kê biên tài sản khác để bảo đảm thi hành án. Chỉ hai lần giảm giá không có người mua, đã phát sinh nghĩa vụ nhận tài sản của người được thi hành án, không nhận thì trả đơn là quá nghiêm khắc.

Đối với quy định pháp luật từ khi có Luật Thi hành án ra dân sự năm 2008 ra đời, thì việc xử sự đối với tài sản kê biên không bán được lại có chiều hướng đi ngược lại với quan điểm của quy định pháp luật trước đó, cụ thể là “bán không được thì giảm giá đến cùng”. Đây cũng là quan điểm quá nghiêm khắc.

Sự nghiêm khắc của quy định pháp luật dẫn đến hệ lụy: Biểu hiện tính vội vàng xử lý tài sản kê biên của quy định pháp luật kéo theo nhiều hệ lụy bất lợi khác cho các bên đương sự; Biểu hiện tính thụ động, tiêu cực trong việc xử lý tài sản kê biên không bán được; Các quy định của pháp luật chưa dự liệu được tình huống:

- Khi đang xử lý một tài sản (có thể bán được hoặc chưa bán được), chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế để “giữ chân” tài sản khác của người phải thi hành án không? Thực tiễn cho thấy, khi chấp hành viên “cố” xử lý một tài sản mà chưa biết có thể xử lý hiệu quả đến đâu, thì người phải thi hành án cũng có thể nhanh chân tẩu tán những tài sản khác, nếu không có biện pháp ngăn chặn hoặc kê biên xử lý, thì việc chứng minh, xác minh đối với các loại tài sản bị tẩu tán, việc xử lý hết sức khó khăn, phức tạp

- Tài sản giảm giá đến bằng chi phí cưỡng chế, nhưng vẫn không bán được và người được thi hành án cũng không nhận để trừ nợ, thì được trả lại cho người phải thi hành án, sau đó có thể kê biên, bán đấu giá trở lại chính tài sản đó không, thời gian bao lâu thì được kê biên trở lại.

3. Kiến nghị

Từ quy định, nhận định và phân tích về nội dung xử lý tài sản kê biên, bán đấu giá không thành như trên, chúng tôi kiến nghị mấy vấn đề như sau:

Thứ nhất, chúng tôi đồng tình với cách giải quyết về xử lý tài sản kê biên không bán được theo Nghị định 125/2013/NĐ-CP, cụ thể là, sau ba lần giảm giá mà không có người mua, thì giao tài sản cho người được thi hành án theo giá đã giảm, để cấn trừ nợ là vừa phải, hợp lý, hợp tình. Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản theo giá đã giảm để cấn trừ nợ, thì cần quy định chi tiết:

- Cơ quan thi hành án tiếp tục giảm giá thêm hai lần nữa, nếu tài sản vẫn không bán được, thì tiếp tục yêu cầu người được thi hành án nhận để trừ nợ, trường hợp người được thi hành án vẫn không đồng ý nhận, mà người phải thi hành án cũng không còn tài sản nào khác, thì cơ quan thi hành án quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án lại cho người được thi hành án, quyết định trả lại tài sản cho người phải thi hành án, sau khi đã thu hồi chi phí cưỡng chế thi hành án.

- Trường hợp người phải thi hành án có tài sản khác có giá trị bảo đảm việc thi hành án, thì chấp hành viên tiếp tục kê biên tài sản đó để thi hành án; tài sản đã kê biên được trả lại cho người phải thi hành án khi đã thu hồi các khoản chi phí cưỡng chế.

Thứ hai, trong quá trình kê biên, xử lý một tài sản, chấp hành viên có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm liên quan đến tài sản và nhân thân người phải thi hành án, để duy trì điều kiện thi hành án, bảo đảm cho việc thi hành bản án.

Bùi Thái Bình

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân, Bình Thuận

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: