Thứ tư 17/12/2025 13:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về áp dụng pháp luật để giải quyết việc trao nhầm trẻ em

Theo Hiến pháp và pháp luật các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện, trong đó, quyền nhân thân là một quyền cơ bản để “định danh” công dân. Pháp luật quy định quyền nhân thân và các quy trình pháp lý, để khi xảy ra sự kiện thì công dân có thể tự mình hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ. Việc áp dụng pháp luật giải quyết các quan hệ phát sinh là một bước đưa pháp luật vào cuộc sống, là minh chứng cho thấy quy định pháp luật phù hợp với thực tiễn; không những thế, áp dụng pháp luật là cơ sở để bổ sung quy định mới hoàn thiện pháp luật.


Về lý thuyết, quan hệ pháp luật hình thành khi có quy phạm pháp luật, sự kiện pháp lý và năng lực chủ thể. Mọi quan hệ bắt đầu từ sự kiện, thực tiễn xảy ra sự kiện sau: Trong thực hiện nhiệm vụ, do sơ ý trong việc trao con cho mẹ, nhân viên y tế đã trao nhầm con giữa hai bà mẹ. Quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, linh cảm đối với đứa con mình đang nuôi dưỡng không cùng huyết thống, nên đã tiến hành các hoạt động kỹ thuật cần thiết để xác minh nhận định trên. Qua giám định gen (ADN) cho thấy đứa con đang nuôi dưỡng không cùng huyết thống như nhận định ban đầu và tiến hành tìm kiếm con đẻ. Sau khi đã xác định, đây là lỗi vô ý của nhân viên y tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đã tiến hành đối chiếu hồ sơ và tìm ra được con đẻ (con ruột) của mình giao cho một người khác nuôi dưỡng, người đang nuôi dưỡng không biết sự trao nhầm của nhân viên y tế và chăm sóc đứa trẻ với cả tình thương của người sinh thành. Khi tiếp cận và giải thích trên cơ sở khoa học (kết quả ADN), các bên thống nhất việc giao, nhận con cho nhau với sự chứng kiến của cơ sở y tế (nơi đã xảy ra việc trao nhầm trẻ em) và cơ quan nhà nước (cơ quan tư pháp địa phương). Việc trao đổi trẻ em về cho cha đẻ, mẹ đẻ giữa hai gia đình thành công, về mặt tình cảm, hai gia đình đã có “niềm vui nhân đôi”, nhận lại con đẻ và “được thêm” một người con - người con đã nuôi dưỡng, chăm sóc từ trước, với hệ thống pháp luật hiện hành, sự kiện này đặt ra một số nội dung sau:

Một là, cơ sở xác lập quan hệ các bên: Một bên gia đình đưa kết quả giám định ADN cho gia đình kia và hai bên gia đình đã đi đến thống nhất sẽ giao, nhận con cho nhau. Trong quan hệ này các gia đình xác lập trên cơ sở tình cảm của cha, mẹ với các con (tình người), phạm trù đạo đức chi phối quan hệ này.

Hai là, địa vị pháp lý của các cơ quan nhà nước: Trên cơ sở pháp luật, sự tham gia của cơ sở y tế (nơi thực hiện hành vi trao nhầm trẻ em) và cơ quan tư pháp (mang tính chứng kiến) không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật (không phải quan hệ pháp luật dân sự, không phải quan hệ pháp luật hành chính, không phải quan hệ pháp luật hình sự); không thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức; sự tham gia này không phải quan hệ tình cảm. Pháp luật hiện hành không quy định phải có sự tham gia của cơ quan nhà nước trong quan hệ giao, nhận con của hai gia đình, sự tham gia của cơ quan nhà nước trong trường hợp này “chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh”.

Ba là, kết quả giám định ADN: Trong mối quan hệ pháp luật, kết quả giám định ADN được xem là một chứng cứ (căn cứ) khoa học để chứng minh một nhận định của các bên liên quan, nhưng sự chứng minh của các gia đình trong quan hệ phải được cơ quan có thẩm quyền “phán quyết” công nhận mới có hiệu lực áp dụng với bên liên quan.

Hiện nay, sự kiện trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế đã được các gia đình “giải quyết”, đặt sự kiện trong hệ thống pháp luật hiện hành, thì áp dụng pháp luật theo quy trình tố tụng dân sự hay quy trình hành chính để giải quyết việc trao nhầm trẻ em? Hiện nay, có các ý kiến khác nhau áp dụng pháp luật trong việc giải quyết trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế: Ý kiến thứ nhất, giải quyết theo quy trình hành chính; Ý kiến thứ hai, giải quyết theo quy trình tố tụng dân sự; Ý kiến thứ ba, xác định các quan hệ pháp luật phát sinh sau đó mới áp dụng quy trình ở mỗi giai đoạn. Để bảo vệ quyền lợi cho các bên, mỗi ý kiến có những lập luận và cơ sở pháp lý riêng.

Theo ý kiến thứ nhất, ý kiến này thực hiện trên cơ sở pháp luật hiện hành đó là Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hộ tịch năm 2014. Ý kiến này cho rằng, giải quyết việc trao nhầm trẻ em chỉ cần thực hiện theo quy trình hành chính, với kết quả ADN, có sự chứng kiến của cơ sở y tế (nơi thực hiện hành vi trao nhầm) và cơ quan tư pháp (đại diện chính quyền) là đảm bảo được quyền lợi của các bên. Kết quả giám định ADN và sự chứng kiến của cơ quan nhà nước là cơ sở để xác nhận hai gia đình đã giao, nhận trẻ em do nhân viên cơ sở y tế trao nhầm. Cuộc trao đổi thành công, các bên liên quan đến cơ quan nhà nước yêu cầu thực hiện các thủ tục hành chính để hoàn thiện thủ tục pháp lý về quyền nhân thân, như cải chính hộ tịch liên quan (xác định cha đẻ, mẹ đẻ; xác định họ; dân tộc; quê quán…).

Trên cơ sở pháp luật, áp dụng quy trình hành chính này chưa xác định được quan hệ pháp luật liên quan, như: Địa vị pháp lý của các gia đình trong quan hệ giải quyết sự kiện; địa vị pháp lý của các cơ quan nhà nước khi tham gia giải quyết sự việc; giá trị pháp lý của kết quả giám định AND trong giải quyết sự việc. Về pháp luật dân sự, giải quyết việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế liên quan đến việc thực hiện các quyền nhân thân, như: Xác định họ, xác định dân tộc…, nhìn xa hơn có thể liên quan đến các quyền thừa kế, sở hữu trí tuệ của công dân.

Theo ý kiến thứ hai, giải quyết theo quy trình tố tụng dân sự: Căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành, bản chất của sự kiện, ý kiến này khẳng định đây là “tranh chấp dân sự”. Trong sự kiện này, một gia đình đang nuôi con và một người đến nói: Đó là con của anh, do nhân viên y tế trao nhầm. Về mặt tâm lý, bất cứ ai trong tình huống đó cũng đều có phản ứng “chiếm hữu” đứa con mình đang nuôi dưỡng, dù có chứng cứ khoa học thì cũng khó chấp nhận. Về khái niệm tranh chấp, theo từ điển Tiếng Việt, thì tranh chấp là “giành nhau một vật không rõ ràng thuộc về bên nào” (Từ điển Tiếng Việt năm 2008 của Nhà xuất bản Đà Nẵng). Về pháp luật tố tụng hiện hành quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong giải quyết tranh chấp dân sự liên quan đến hôn nhân và gia đình, trong đó có việc “tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ” (khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Ý kiến này xác định, đây là quan hệ pháp luật tố tụng thì phải theo quy trình tố tụng dân sự, có nghĩa là có khởi kiện, có xét xử và thi hành án theo quy trình tố tụng dân sự. Vậy thì chủ thể nào sẽ tiến hành khởi kiện để giao, nhận con về cho hai gia đình trong quan hệ này, trong khi các bên gia đình đều chấp nhận kết quả giám định ADN và xem nó là cơ sở để các cơ quan nhà nước thực hiện thủ tục hành chính liên quan. Quy định pháp luật hiện hành có Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, trong trường hợp trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế có thể đề cập thêm Luật Trẻ em năm 2016 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Với hệ thống pháp luật hiện hành có nhiều cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong trường hợp này, như: Hội liên hiệp Phụ nữ, với tư cách là chủ thể pháp luật quy định thực hiện khởi kiện các nội dung liên quan đến hôn nhân và gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình (khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015), cũng có thể đề cập đến: Ủy ban nhân dân cấp xã, Đoàn thanh niên (theo Luật Trẻ em năm 2016)… Trong trường hợp này, cơ sở y tế - nơi thực hiện hành vi trao nhầm trẻ em có thể tiến hành khởi kiện tại Tòa án nhân dân với tư cách là “bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em; các bên gia đình là đương sự trong vụ án. Với quy trình tố tụng hiện nay áp dụng quy trình rút gọn: Giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn (Chương XVIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, sớm ổn định tâm lý của các bên.

Theo quy trình, Tòa án nhân dân ra phán quyết về “xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ”; các bên gia đình giao, nhận con; tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết, như: cải chính hộ tịch cho trẻ em (xác định cha đẻ, mẹ đẻ; xác định họ; dân tộc; quê quán…).

Ý kiến thứ ba, xác định các quan hệ pháp luật phát sinh sau đó mới áp dụng quy trình pháp luật ở mỗi giai đoạn: Một sự kiện (hành vi hoặc sự biến) tương tác với các quan hệ xã hội (hoặc sự kiện khác) sẽ phát sinh các quan hệ liên quan, khi sự kiện được quy phạm pháp luật điều chỉnh thì đó là quan hệ pháp luật. Hành vi trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế đã chứng minh cho nhận định trên. Qua cách giải quyết của các bên gia đình; ý kiến áp dụng quy trình hành chính; ý kiến áp dụng quy trình tố tụng dân sự cho thấy, những cách giải quyết trên chưa xác định được quan hệ pháp luật phát sinh và địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ chưa được đặt ra. Ý kiến này đặt sự kiện trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế trong hệ thống pháp luật để thấy được những quan hệ pháp luật phát sinh và đưa ra quy trình áp dụng tổng hợp quy định pháp luật để giải quyết việc trao nhầm trẻ em.

Về hệ thống pháp luật, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các quyền nhân thân từ Điều 25 đến Điều 39. Trong đó, có thể đề cập các quyền liên quan đến: Họ, tên; dân tộc; hộ tịch; quốc tịch; hình ảnh; danh dự, nhân phẩm, uy tín; hiến, nhận bộ phận cơ thể; giới tính; bí mật cá nhân; hôn nhân gia đình; sở hữu trí tuệ. Cùng với việc quy định các quyền nhân thân, pháp luật hoàn thiện các quy trình để bảo vệ và thực hiện các quyền nhân thân của công dân như quy trình tố tụng quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; quy trình hành chính, quy định trong Luật Hộ tịch năm 2014. Trên cơ sở pháp luật, hành vi nhân viên y tế trao nhầm trẻ em cho hai gia đình có thể phát sinh các quan hệ pháp luật sau:

Thứ nhất, quan hệ pháp luật hình sự: Đối với hành vi trao nhầm trẻ em của nhân viên y tế có thể phát sinh quan hệ pháp luật hình sự, hành vi này có thể cấu thành “tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” (Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017); nếu là lỗi cố ý có thể cấu thành “tội đánh tráo người dưới 01 tuổi” (Điều 152 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Thứ hai, quan hệ pháp luật dân sự: Qua xác minh bằng kỹ thuật khoa học giám định ADN, các gia đình công nhận kết quả ADN là căn cứ xác định con đẻ của mình; nhân viên y tế đã thừa nhận do sơ suất đã thực hiện trao nhầm con cho mẹ (lỗi vô ý). Về quy định pháp luật và bản chất của quan hệ thì đây là tranh chấp con giữa hai gia đình (như đã phân tích tại ý kiến thứ hai).

Thứ ba, quan hệ pháp luật hành chính: Trong quan hệ pháp luật hành chính xem xét trong hai mối quan hệ: (i) Về mặt tổ chức hành chính, trong tổ chức hành chính phát sinh quan hệ xử lý hành chính, và trách nhiệm kỷ luật công vụ của nhân viên y tế đã thực hiện hành vi trao nhầm trẻ em với cơ sở y tế và (ii) Quan hệ giữa cơ quan nhà nước với công dân khi các gia đình tiến hành cải chính hộ tịch (quan hệ thủ tục hành chính).

Thứ tư, về trách nhiệm pháp luật: Với mỗi quan hệ pháp luật sẽ có các chế tài áp dụng và có thể phát sinh các trách nhiệm pháp lý, như trách nhiệm hình sự của nhân viên y tế thực hiện hành vi trao nhầm trẻ em (nếu cấu thành tội phạm); trách nhiệm bồi thường của cơ sở y tế; trách nhiệm giao, nhận con giữa hai gia đình (theo quy trình tố tụng dân sự); trách nhiệm bồi hoàn của nhân viên y tế cho cơ sở y tế.

Trong các quan hệ pháp luật trên, trọng tâm là quan hệ pháp luật dân sự “xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ”. Về lý thuyết, có thể khẳng định, việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế là sự “kiện pháp lý phức hợp”. Trên cơ sở pháp luật hiện hành, để giải quyết việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế cần phải áp dụng tổng hợp các quy trình pháp luật (cả quy trình tố tụng, quy trình hành chính và hướng dẫn của cơ quan nhà nước do chưa có quy định pháp luật) để bảo đảm được quyền lợi của các bên liên quan, quy trình áp dụng pháp luật để giải quyết việc trao nhầm trẻ em như sau:

- Thẩm quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân, khi phát hiện sự việc, các bên gia đình, cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật bảo vệ trẻ em hoặc các bên liên quan, như: Hội liên hiệp Phụ nữ, cơ sở y tế, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tổ chức liên quan đến trẻ em có thể tiến hành khởi kiện tại Tòa án nhân dân với tư cách bảo vệ quyền lợi cho trẻ em.

- Việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế được xét xử theo quy trình tố tụng dân sự, kết quả giám định ADN được phát huy trong trường hợp này là “chứng cứ khoa học” để Tòa án nhân dân căn cứ ra phán quyết theo thẩm quyền pháp luật, phán quyết của Tòa án nhân dân có hiệu lực được các bên thực hiện.

- Phán quyết của Tòa án nhân dân giải quyết việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế mới là “giấy tờ cần thiết” để các bên gia đình tiến hành cải chính hộ tịch (theo Luật Hộ tịch năm 2014) cho trẻ em trong vụ việc.

Giả thiết đặt ra, sau khi Tòa án nhân dân ra phán quyết, các gia đình tiến hành cải chính hộ tịch, trong trường hợp liên quan đến “xác định lại dân tộc” cho trẻ em, thì giải quyết trên cơ sở nào? Đối chiếu pháp luật, theo Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền xác định, xác định lại dân tộc thì không có trường hợp xác định lại dân tộc trong việc giải quyết trao nhầm trẻ em. Có ý kiến đề xuất áp dụng như quy định “con nuôi” hoặc “trẻ em bị bỏ rơi” trong điều luật, nhưng trẻ em trong trường hợp này không thuộc diện “con nuôi”, cũng không thuộc diện “bỏ rơi” nên chưa có cơ sở pháp lý giải quyết.

Trong thực tế, quan hệ pháp luật có thể xảy ra với nhiều tình tiết tác động đến nhận định của các bên liên quan, cũng như của các cơ quan áp dụng pháp luật, sự kiện trao nhầm con cho mẹ tại cơ sở y tế là “hy hữu”, nhưng phải xác định được các quan hệ pháp luật phát sinh để áp dụng quy trình pháp luật mới bảo vệ được quyền lợi của công dân trong các quan hệ pháp luật trước mắt cũng như lâu dài.

Việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế là trường hợp “hy hữu” trong hoạt động y tế, để áp dụng đúng quy trình pháp luật; tránh việc giải quyết theo phương thức “trao đổi ngang giá”; bảo vệ quyền lợi của công dân trong giải quyết việc trao nhầm trẻ em, tác giả có ý kiến sau:

- Cơ quan chuyên môn hướng dẫn về áp dụng quy trình: Việc trao nhầm trẻ em tại cơ sở y tế là “sự kiến pháp lý phức hợp”, trong đó các quy trình pháp luật liên quan với nhau để giải quyết việc trao nhầm trẻ em, bảo vệ các quyền nhân thân phát sinh. Bộ luật Dân sự quy định quyền nhân thân và các văn bản pháp luật quy định quy trình để công dân có thể thực hiện bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ, để áp dụng đúng quy trình, cơ quan chuyên môn cần hướng dẫn đối với việc “áp dụng quy trình pháp luật giải quyết trao nhầm trẻ em” qua đó bảo vệ được các quyền nhân thân của công dân.

- Đối với cải chính hộ tịch liên quan đến “xác định lại dân tộc”: Pháp luật hiện hành và Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa quy định cải chính hộ tịch trong trường hợp giải quyết trao nhầm trẻ em. Do vậy, cơ quan nhà nước cần có văn bản hướng dẫn trong trường hợp này, nhưng để áp dụng lâu dài thì cần xem xét bổ sung quy định “xác định lại dân tộc” đối với trường hợp giải quyết trao nhầm trẻ em tại Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trên cơ sở pháp luật và sự hướng dẫn của cơ quan chuyên môn áp dụng quy trình pháp luật giải quyết việc trao nhầm trẻ em, bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ pháp luật phát sinh trong thực tiễn là biểu hiện sự thống nhất giữa “cái lý” (pháp luật) và “cái tình” (tình cảm, đạo đức, cảm tính…) trong xử lý các mối quan hệ xã hội nói chung, quan hệ pháp luật nói riêng, như Đại thi hào Nguyễn Du viết “ngoài thì là lý song trong là tình”, điều đó cũng phù hợp với tâm lý của người Á Đông.

ThS. Trần Đức Thú

Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: