Thứ tư 23/09/2026 00:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về bản chất của việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân

Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất luôn là vấn đề được người dân quan tâm. Vì vậy, việc làm rõ bản chất của bồi thường về đất khi thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân góp phần tăng cường tính hiệu lực của quy định bồi thường về đất, bảo vệ lợi ích của người có đất thu hồi, hạn chế khiếu nại về đất đai.

1. Đặt vấn đề

Khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng phần đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân hay những chủ thể khác, Nhà nước có quyền thu hồi phần đất đó theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành và thực hiện bồi thường về đất cho hộ gia đình, cá nhân khi thực hiện thu hồi đất. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn tình trạng khiếu nại, tranh chấp phát sinh từ việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Theo báo cáo của Đoàn giám sát “Việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo” từ ngày 01/7/2016 đến ngày 01/7/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tỷ lệ đơn thư liên quan đến quá trình thu hồi đất, thực hiện chế độ bồi thường giải phóng mặt bằng trên 70% trong tổng lượng đơn thư hằng năm[1]; vấn đề khiếu nại đông người, khiếu nại vượt cấp, kéo dài, gây mất ổn định trật tự liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn khá phổ biến, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định, trật tự an toàn xã hội và dễ hình thành các “điểm nóng” về an ninh chính trị. Do đó, việc làm rõ bản chất của bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để tìm ra phương hướng, giải pháp giải quyết hữu hiệu những mâu thuẫn và bảo đảm các quy định của pháp luật bồi thường về đất được thực thi hiệu quả, bảo vệ được lợi ích của người sử dụng đất, lợi ích của Nhà nước và xã hội, góp phần làm hạn chế việc khiếu nại, giảm thiểu nguy cơ phát sinh những bất ổn về trật tự an toàn xã hội.

2. Bản chất của việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

Hiện nay, khi thu hồi đất, Nhà nước sẽ thực hiện việc bồi thường về đất cho người sử dụng đất hoặc được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại Điều 75, Điều 76 Luật Đất đai năm 2013. Đây là trách nhiệm pháp lý của Nhà nước đối với quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất, việc bồi thường này nhằm trả lại tất cả những giá trị thiệt hại đối với người bị thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra một cách công bằng, tương xứng[2]. Kế thừa quy định của Luật Đất đai 2013, Điều 95 Luật Đất đai năm 2024 đã sửa đổi, bổ sung 02 trường hợp đủ điều kiện được bồi thường về đất, gồm: (i) Nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng chưa hoàn thành thủ tục đăng ký đất đai; (ii) Được sử dụng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất mà người trúng đấu giá đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

Như vậy, để việc bồi thường về đất bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng theo quy định của pháp luật đất đai khi Nhà nước thu hồi đất; phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư nơi có đất thu hồi[3], đòi hỏi phải xác định rõ bản chất của việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân.

2.1. Bồi thường về đất nhằm bảo đảm chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã được Hiến định

Theo Điều 53 Hiến pháp năm 2013 thì đất đai là “tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” và được cụ thể hóa tại các điều 1, 2 và 12 của Luật Đất đai năm 2024, đặc biệt, Điều 12 quy định về sở hữu đất đai ghi nhận: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất”. Quyền sử dụng đất được Nhà nước bảo hộ thông qua những quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Như vậy, người sử dụng đất không phải là chủ sở hữu đối với đất đai được giao, mà chỉ là người có quyền sử dụng đất. Ngoài các quyền thông thường như chiếm hữu, sử dụng, thì người sử dụng đất còn có các quyền định đoạt khác, như: Cho thuê, thừa kế, chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn. Quyền sử dụng đất mà Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức không còn là quyền năng bình thường mà trở thành một loại quyền sở hữu hạn chế[4]. Những ghi nhận này thể hiện tính đặc thù của pháp luật Việt Nam về đất đai, bảo đảm thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân; tạo khoản thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, các loại thuế liên quan đến đất đai và các loại phí, lệ phí quản lý và sử dụng đất[5]... qua đó Nhà nước điều tiết, vận hành nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho từng vùng, ngành, lĩnh kinh tế phát triển thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện quyền năng đặc thù đó, Nhà nước cần quan tâm sâu sắc và thích đáng đến việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân, một phần cũng nhằm bù đắp những công sức tu bổ, bảo vệ, cải tạo, lao động làm dồi giàu thêm tính năng của đất đai và một phần giúp sức cho người dân phải chuyển đổi nơi ăn, chốn ở, thay đổi việc làm, điều kiện, thói quen sống làm ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội cũng như góp phần “công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội theo Hiến pháp và pháp luật”[6].

2.2. Bồi thường về đất xuất phát từ hoạt động hợp pháp của cơ quan nhà nước

Theo pháp luật đất đai, Nhà nước chỉ có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại phát sinh trực tiếp từ hoạt động thu hồi đất của Nhà nước đối với người sử dụng đất, bao gồm: Bồi thường bằng đất hoặc bồi thường bằng tiền. Việc bồi thường của Nhà nước trong trường hợp này không xuất phát từ yếu tố lỗi và cũng không phải là hành vi trái luật[7], mà việc bồi thường này chính là bù đắp tổn thất hay thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do hoạt động thu hồi đất của Nhà nước gây ra[8]. Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 quy định, không phải bất cứ người sử dụng đất nào khi Nhà nước thu hồi đất cũng được bồi thường mà chỉ những chủ thể sử dụng đất thỏa mãn các điều kiện do pháp luật đất đai quy định mới được Nhà nước bồi thường khi bị thu hồi đất. Theo quy định của pháp luật đất đai thì bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất[9], giá trị quyền sử dụng đất có thể là giá trị bằng tiền, bằng vật chất khác do các quy định của pháp luật điều tiết hoặc do thỏa thuận giữa các chủ thể đối với một diện tích đất xác định. Kế thừa quy định này, Luật Đất đai năm 2024 đã mở rộng, phát triển các điều kiện được bồi thường đối với từng loại đất được thu hồi quy định từ Điều 95 đến Điều 100; đồng thời xác định 04 trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 101). Trong đó, quy định cụ thể 10 loại đất thuộc “đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý” để xác định không thuộc trường hợp phải bồi thường khi thu hồi đất (Điều 217), các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai (Điều 81), các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật (khoản 1 Điều 82) và thu hồi khi người sử dụng đất giảm không còn nhu cầu sử dụng đất và tự nguyện có đơn trả lại đất.

Bồi thường về đất trong pháp luật đất đai không giống với bồi thường trong lĩnh vực dân sự là các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần[10]. Trường hợp không thỏa thuận được thì một trong các bên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự. Người yêu cầu bồi thường phải chứng minh được những tổn thất về vật chất và tinh thần do bên gây thiệt hại tạo ra, căn cứ áp dụng bồi thường được xác định bởi các yếu tố: Phải là hành vi trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra và việc vi phạm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế do có sự thay đổi về tình hình kinh tế - xã hội; sự biến động về giá cả; sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại; sự thay đổi về khả năng kinh tế của người có trách nhiệm bồi thường mà mức bồi thường không còn phù hợp với sự thay đổi đó[11]… thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường. Đây là quy định có điểm rất khác biệt nhằm bảo đảm được quyền lợi chính đáng của các bên trong pháp luật dân sự mà pháp luật bồi thường về đất chưa đề cập. Do vậy, khi Nhà nước bồi thường về đất cho người sử dụng đất mà nơi ở mới không bảo đảm được yêu cầu “nơi ở mới phải tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ” thì Nhà nước chưa có những biện pháp nào khác để giải quyết và người bị thu hồi đất cũng không có căn cứ pháp lý nào để yêu cầu Nhà nước thực hiện “tốt hơn” việc bồi thường để bảo đảm quyền lợi của mình. Đây cũng chính là nguyên nhân của việc có lúc, có nơi người dân không “đồng thuận chủ trương” khi rơi vào trường hợp bị thu hồi đất.

Từ những phân tích trên cho thấy, mặc dù đều là chủ thể bị thiệt hại, nhưng người bị thiệt hại trong pháp luật dân sự được “nhiều quyền” hơn, những thiệt hại phát sinh trên thực tế đều được yêu cầu bồi thường và được bồi thường khi chứng minh được thiệt hại. Trong khi đó, các thiệt hại được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chỉ là thiệt hại về đất, còn những thiệt hại vô hình và các thiệt hại thực tế khác chưa được tính đến một cách thỏa đáng do pháp luật chưa có quy định.

2.3. Bồi thường về đất là trách nhiệm pháp lý của Nhà nước do hoạt động thu hồi đất

Theo khoản 5 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024, Nhà nước có trách nhiệm “trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người có đất thu hồi”, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người có đất thu hồi. Để việc bồi thường tương xứng với những thiệt hại thì cần xác định được thiệt hại thực tế xảy ra một cách cụ thể nhất. Tuy nhiên, cho đến nay, pháp luật đất đai chưa quy định thế nào là “thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất, từ đó việc xác định những thiệt hại của người có đất thu hồi có khi chưa “đủ, đúng”, đây là một trong những nguyên nhân xuất hiện khiếu nại của người bị thu hồi đất. Thực tế cho thấy, có rất nhiều thiệt hại mà pháp luật đất đai chưa nhận diện được, đó có thể vừa là thiệt hại hữu hình, vừa là thiệt hại vô hình, đơn cử như: Thiệt hại tinh thần, sức khỏe do thời gian giải phóng mặt bằng kéo dài cũng như lo lắng về đời sống kinh tế trong tương lai, việc thay đổi nghề nghiệp và khả năng ổn định cuộc sống tại nơi ở mới[12]. Hay nói cách khác, những thiệt hại này chưa được pháp luật “định lượng” cụ thể để xác định việc bồi thường.

Bên cạnh đó, việc xác định giá đất để tính bồi thường cũng là vấn đề thường chưa có sự đồng thuận cao của người có đất thu hồi. Luật Đất đai năm 2024 quy định, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể... Giá đất cụ thể được áp dụng cho trường hợp tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Luật Đất đai năm 2013 quy định, giá đất của Nhà nước phải “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường” (khoản 1 Điều 112). Luật Đất đai năm 2024 kế thừa và phát triển “phương pháp định giá đất theo nguyên tắc thị trường”. Việc xác định giá đất tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm bảo đảm và hướng đến nguyên tắc quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ; bảo đảm việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật được hiến định tại Điều 54 Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc xác định giá đất phổ biến trên thị trường là rất khó, bởi lẽ, đất đai mang tính cụ thể cao nên giá giao dịch trên thị trường của mỗi thửa đất luôn có sự khác biệt nhất định. Nguyên nhân là trong nhiều trường hợp chưa thực sự bảo đảm tính độc lập, khách quan trong quá trình xác định giá đất; chưa quy định cụ thể việc lựa chọn, áp dụng phương pháp định giá đất; các mốc thời gian trong quá trình xác định giá đất cụ thể chưa được quy định đầy đủ, còn chồng chéo; việc phân cấp thẩm quyền quyết định giá đất cụ thể chưa đúng quy định[13]. Khắc phục những hạn chế này, Luật Đất đai năm 2024 đã có những sửa đổi, bổ sung như: Bỏ quy định về khung giá đất; thực hiện xây dựng bảng giá đất hằng năm, bảng giá đất lần đầu để công bố và áp dụng từ ngày 01/01/2026, sau đó sẽ được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung và áp dụng từ ngày 01/01 của năm tiếp theo; đối với khu vực đã có bảng giá đất tới từng thửa đất trên cơ sở vùng giá trị, thửa đất chuẩn thì giá đất cụ thể được xác định theo bảng giá đất tại thời điểm định giá đất (Điều 159, Điều 160). Nghị định số 12/2024/NĐ-CP ngày 05/02/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất và Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (Nghị định số 12/2024/NĐ-CP) cũng có những quy định sửa đổi phù hợp với thực tiễn về phương pháp định giá đất, điều kiện áp dụng phương pháp định giá đất, cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất theo hướng “có lợi” hơn cho người sử dụng đất. Tuy nhiên, đối với trường hợp phương án giá đất do cơ quan tài nguyên và môi trường đã trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền (cấp tỉnh hoặc cấp huyện được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền) quyết định giá đất cụ thể trước ngày Nghị định số 12/2024/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định giá đất cụ thể theo phương án đã trình, không áp dụng quy định mới (có hiệu lực từ ngày 05/02/2024)[14]. Đặc biệt, Luật Đất đai năm 2024 đã có thay đổi tiến bộ, phù hợp với nguyện vọng của đa số trường hợp bị thu hồi đất khi quy định: Trước khi thông báo thu hồi đất được ban hành, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các cơ quan có liên quan, tổ chức họp với người có đất trong khu vực thu hồi để phổ biến, tiếp nhận ý kiến về nội dung kế hoạch bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; dự kiến khu vực tái định cư;… đồng thời quy định rõ Nhà nước chỉ ra quyết định thu hồi đất khi người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ và đồng ý nhận tiền bồi thường chi phí tạm cư (Điều 87).

Như vậy, để bảo đảm thực hiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý của Nhà nước trong việc bồi thường về đất khi thu hồi đất, Luật Đất đai năm 2024 đã có những quy định mới, chặt chẽ hơn và sát với thực tiễn hơn về giá đất để tính bồi thường; việc bồi thường về đất được quy định thực hiện kịp thời, có lợi cho người dân hơn. Tuy nhiên, việc “tính toán”, hướng dẫn giải quyết thỏa đáng những thiệt hại phi vật chất mà người sử dụng đất gặp phải khi Nhà nước thu hồi đất vẫn còn bỏ ngỏ rất cần Chính phủ có những hướng dẫn tổ chức thi hành.

2.4. Bồi thường về đất nhằm bù đắp thiệt hại cho người có đất thu hồi

Theo quy định của pháp luật đất đai, Nhà nước đại diện toàn dân thực hiện quyền sở hữu, còn tổ chức, hộ gia đình và cá nhân chỉ có quyền sử dụng đất, được pháp luật bảo hộ quyền tài sản đối với đất đai đang sử dụng. Để bù đắp những thiệt hại từ việc thu hồi đất, Nhà nước đã có những quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dành cho người có đất thu hồi. Trên thực tế, những chính sách này ngày càng được hoàn thiện và tạo điều kiện cho người có đất thu hồi có cuộc sống tốt hơn theo nguyên tắc bảo đảm khi thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở thì phải bố trí chỗ ở cho người có đất thu hồi, vì người có đất thu hồi sẽ gặp rất nhiều khó khăn về cuộc sống, việc mưu sinh, thói quen, thậm chí còn những người liên quan. Chính vì vậy, kế thừa nội dung tại khoản 4 Điều 86 Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024 quy định: Trường hợp người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở và được bồi thường bằng giao đất ở hoặc nhà ở tái dịnh cư nhưng tiền bồi thường về đất không đủ so với giá trị của một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để được giao một suất tái định cư tối thiểu (khoản 8 Điều 111), đồng thời có những quy định về bố trí tái định cư rõ ràng và cụ thể hơn.

Qua đó thấy rằng, vấn đề bù đắp những thiệt hại đối với người sử dụng đất sau khi bị thu hồi đất luôn được Nhà nước quan tâm, thực hiện ngày càng “tiệm cận” với thực tiễn đời sống xã hội, giảm thiểu những thiệt hại, tổn thất từ việc thu hồi đất. Tuy nhiên, Luật Đất đất đai năm 2013 và Luật Đất đai năm 2024 đều quy định trường hợp bị mất việc làm từ việc thu hồi đất gây ra vẫn không được coi là một thiệt hại nên Nhà nước không bồi thường mà chỉ có trách nhiệm hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản để tạo điều kiện cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản có việc làm, có thu nhập, ổn định đời sống, sản xuất[15]. Việc thực hiện các khoản hỗ trợ, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể tại Điều 83, Điều 84 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 108, Điều 109 Luật Đất đai năm 2024. Do vậy, để thực hiện tốt hơn trong việc bù đắp, đền bù những thiệt hại khi thu hồi đất, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và xã hội, lĩnh vực bồi thường về đất cần có quy định bồi thường tương xứng hơn về diện tích đất bị thu hồi, có quan tâm cuộc sống người có đất thu hồi bảo đảm giá trị của thửa đất bị thu hồi, cũng như liên quan người có đất thu hồi sát với giá trị thực tế tại mỗi địa phương, đồng thời cần thừa nhận các thiệt hại liên quan việc thu hồi đất gây ra để xem xét bồi thường, bảo đảm hơn về quyền lợi của hộ gia đình, cá nhân khi “bị” thu hồi đất.

3. Kết luận

Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất và hoạt động thu hồi đất của Nhà nước luôn được xã hội đặc biệt quan tâm, được đánh giá là một trong những vấn đề hết sức nhạy cảm. Chính vì vậy, việc xác định rõ bản chất của bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội giúp Nhà nước thuận lợi hơn trong việc thực hiện các chính sách lớn về kinh tế - xã hội, thông qua việc thu hồi đất, như: Tạo lập quỹ đất để xây dựng các dự án, cơ sở kinh tế; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người có đất thu hồi và xã hội, góp phần xây dựng và tăng cường niềm tin của công dân đối với chủ trương, chính sách, pháp luật đất đai của Đảng và Nhà nước./.

ThS. Nguyễn Duy Quốc

Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Luật miền Nam

Ngô Hải Sơn

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ

[1]. Xem: Khắc Phục (2022), Giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo - không để kỳ sau “chồng” lên kỳ trước, https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=66240, truy cập ngày 27/02/2024.

[2]. Phan Trung Hiền (2016), Xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208589, truy cập ngày 27/02/2024.

[3]. Xem: Điều 91 Luật Đất đai năm 2024 quy định nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

[4]. Hoàng Thị Bích Loan (2018), Quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý - Nhận thức và thực tiễn, Tạp chí Lý luận chính trị, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/2713-quan-diem-dat-dai-thuoc-so-huu-toan-dan-do-nha-nuoc-dai-dien-chu-so-huu-va-thong-nhat-quan-ly-nhan-thuc-va-thuc-tien.html, truy cập ngày 03/3/2024.

[5]. Xem Bruno Moser, Nicolaus Tideman (2011), Tax reform in Vietnam: Toward a more efficient and equitable system, World Bank (66317), tr. 243 - 245.

[6]. Theo Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[7]. Phan Trung Hiền (2021), Những điều cần biết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 175.

[8]. Xem: Nguyễn Quang Tuyến (2013), Kinh nghiệm của một số nước về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, Cổng Thông tin Quốc hội, https://quochoi.vn/thongtinchuyende/Pages/cacduanluatphaplenh.aspx?ItemID=27119, truy cập ngày 06/11/2023.

[9]. Khoản 12 Ðiều 3 Luật Ðất đai năm 2013, khoản 5 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024.

[10]. Khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[11]. Xem: Khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP.

[12]. Phan Trung Hiền (2016), Xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208589, truy cập ngày 27/02/2024.

13. Châu Hoàng Thân (2020), Hoàn thiện quy định của pháp luật về quy trình xác định giá đất cụ thể, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 12, tr. 28 - 35.

[14]. Xem: Điều 3 Nghị định số 12/2024/NĐ-CP.

[15]. Xem: khoản 4 Điều 91 Luật Đất đai năm 2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 407), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: