Thứ tư 11/03/2026 04:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về các trường hợp đặc biệt xin giữ quốc tịch nước ngoài khi xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam

Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam,

Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Quy định này của Luật đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Đây được coi là nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt của pháp luật quốc tịch Việt Nam từ năm 1945 đến nay, được thể hiện rõ trong Luật Quốc tịch các năm 1988, 1998 và 2008. Tuy nhiên, đoạn cuối Điều 4 Luật Quốc tịch năm 2008 lại có quy định bổ sung (so với Luật Quốc tịch năm 1998) mang tính “mềm dẻo” đó là “trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Nghĩa là, Luật quy định một số trường hợp ngoại lệ công dân Việt Nam có thể có quốc tịch nước ngoài[1]. Một trong các trường hợp ngoại lệ, công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đó là trường hợp đặc biệt xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài.

Điều 19 và Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đưa ra các điều kiện chung đối với người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam. Theo đó, người nước ngoài, người không quốc tịch, người bị mất quốc tịch Việt Nam nếu muốn được nhập/trở lại quốc tịch thì phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện đó. Riêng đối với người đang có quốc tịch nước ngoài thì để bảo đảm nguyên tắc một quốc tịch (theo Điều 4) khi người đó xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam, bắt buộc phải đáp ứng thêm 01 điều kiện nữa là phải thôi quốc tịch nước ngoài. Điều kiện này được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 19, khoản 5 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008: Người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép. Những người quy định tại khoản 2 Điều này bao gồm: (i) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; (ii) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; (iii) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tiếp đó, Điều 6 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ đã quy định chi tiết điểm b và điểm c khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam như sau:

“1. Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phải là người được tặng thưởng Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý khác của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận về công lao đặc biệt đó.

2. Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam”.

Thực tiễn triển khai thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 từ khi có hiệu lực tới nay cho thấy, đa số các chuyên gia pháp lý, các bộ, ngành, địa phương đều hiểu một cách thống nhất là: Theo quy định nêu trên thì để được nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam, người xin nhập quốc tịch phải đáp ứng tất cả các điều kiện quy định tại Điều 19 (từ khoản 1 đến khoản 6); người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cũng phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định từ khoản 1 đến khoản 6 Điều 23. Trong đó, mặc dù khoản 3 Điều 19 và khoản 5 Điều 23 có cách hành văn chưa thực sự dễ hiểu nhưng đều phải được hiểu một cách thống nhất là: Nếu người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam không thuộc trường hợp đặc biệt để trình Chủ tịch nước cho giữ quốc tịch nước ngoài, thì họ bắt buộc phải thôi quốc tịch nước ngoài nếu muốn nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam. Điểm mấu chốt ở đây là, hiểu như thế nào về trường hợp đặc biệt?

Do chưa được hướng dẫn, nên thời gian qua, Bộ Tư pháp cũng chỉ dựa vào các quy định cụ thể hóa về “công lao đặc biệt” và nội hàm của khái niệm “có lợi” để xem xét hồ sơ. Nếu thấy rằng, trường hợp xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam thông thường, không có gì đặc biệt, đương sự không có công lao đóng góp gì cho đất nước... thì đều yêu cầu phải thôi quốc tịch nước ngoài, trước khi Bộ Tư pháp giải quyết tiếp. Riêng đối với những người là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam, thì ngoài việc được miễn một số điều kiện quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều 19 Luật Quốc tịch năm 2008, họ cũng vẫn phải đáp ứng quy định tại khoản 3 Điều này về việc phải thôi quốc tịch nước ngoài khi nhập quốc tịch Việt Nam, nếu họ không thuộc trường hợp đặc biệt và không được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài. Trên thực tế nhiều trường hợp cũng đã bị từ chối giải quyết, bị trả lại hồ sơ vì không thể từ bỏ quốc tịch nước ngoài theo yêu cầu của Bộ Tư pháp.

Bên cạnh đó, hiện nay cũng có 02 quan điểm về trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc trình hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, để bảo đảm nguyên tắc một quốc tịch được quy định tại Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan giúp Chính phủ, “gác cổng” việc thẩm định hồ sơ, có trách nhiệm bảo đảm hồ sơ trình Chủ tịch nước phải đúng pháp luật. Do đó, chỉ những trường hợp đủ điều kiện để nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam, thuộc trường hợp đặc biệt để xin giữ quốc tịch nước ngoài, thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp mới thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước. Còn những trường hợp không đủ điều kiện, không thuộc trường hợp đặc biệt thì Bộ Tư pháp có quyền yêu cầu người xin nhập quốc tịch phải thôi quốc tịch nước ngoài và chỉ khi đương sự đáp ứng yêu cầu của Bộ Tư pháp (bổ sung được giấy tờ chứng minh đã thôi quốc tịch nước ngoài) thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp mới thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước. Với quan điểm này, Bộ Tư pháp đã thực hiện thống nhất trong quá trình xem xét hồ sơ từ trước đến nay và hầu hết các đương sự đã làm thủ tục thôi quốc tịch nước ngoài theo yêu cầu, với những trường hợp không muốn thôi quốc tịch gốc thì tự nguyện rút hồ sơ.

Quan điểm thứ hai cho rằng, do khoản 3 Điều 19 và khoản 3 Điều 21 Luật Quốc tịch năm 2008 có một số cụm từ chưa được giải thích, hướng dẫn nên nhiều người dân và ngay cả một số cơ quan nhà nước cũng hiểu khác nhau. Nhiều người dân cho rằng, họ là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam nên được coi là trường hợp đặc biệt để xin Chủ tịch nước cho giữ quốc tịch nước ngoài khi xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam.

Cùng với đó, quan điểm này cho rằng, cần hiểu cụm từ quy định tại khoản 3 Điều 19 “... trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép” chính là trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước[2]. Theo đó, trách nhiệm của Bộ Tư pháp là báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định đối với tất cả hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch và xin giữ quốc tịch nước ngoài. Việc Bộ Tư pháp yêu cầu họ phải thôi quốc tịch nước ngoài trước khi trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam hay việc trả lại hồ sơ khi họ không đáp ứng yêu cầu là trái Luật Quốc tịch[3]. Nói cách khác, những người theo quan điểm này cho rằng, bất kỳ hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và xin giữ quốc tịch nước ngoài được nộp lên thì Bộ Tư pháp đều phải có trách nhiệm trình Chủ tịch nước mà không có quyền yêu cầu họ phải thôi quốc tịch nước ngoài.

Tác giả cho rằng, quan điểm này không thực sự hợp lý. Bởi như vậy, số lượng hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và xin giữ quốc tịch nước ngoài được trình lên Chủ tịch nước sẽ vô cùng lớn. Văn phòng Chủ tịch nước sẽ không thể nghiên cứu, tham mưu, đề xuất đối với từng hồ sơ được. Vì vậy, giải pháp tối ưu nhất vẫn là cần cụ thể hóa, hướng dẫn chi tiết về các trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật, để tạo cơ sở pháp lý cho Bộ Tư pháp thuận lợi trong việc giải quyết hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và xin giữ quốc tịch nước ngoài.

Thực tế cho thấy, từ khi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có hiệu lực (ngày 01/7/2009) đến nay, Bộ Tư pháp mới chỉ trình Chủ tịch nước quyết định cho phép 46 trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam và giữ quốc tịch nước ngoài[4]. Những trường hợp này đều thuộc đối tượng có nhiều công lao đặc biệt đóng góp cho đất nước hoặc việc nhập quốc tịch Việt Nam là có lợi cho Nhà nước Việt Nam.

Tuy nhiên, do hiện nay chưa có quy định hướng dẫn chi tiết về mức độ đóng góp hoặc xác định như thế nào là có lợi để được coi là trường hợp đặc biệt cho giữ quốc tịch nước ngoài, nên thời gian qua đã phát sinh một số vụ việc khiếu kiện, khiếu nại liên quan đến việc giải quyết hồ sơ xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam. Thậm chí có vụ việc kéo dài tốn thời gian và gây thiệt hại về kinh tế cho cả cơ quan nhà nước và người có yêu cầu.

Qua phân tích ở trên cho thấy, vướng mắc lớn nhất cần tháo gỡ khi giải quyết hồ sơ quốc tịch là phải hiểu và áp dụng cho đúng về trường hợp đặc biệt. Vì vậy, để bảo đảm thống nhất cách hiểu và áp dụng các quy định về điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam đối với người xin giữ quốc tịch nước ngoài, giải quyết kịp thời các yêu cầu xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quốc tịch, thì việc bổ sung quy định làm rõ về các trường hợp đặc biệt để được xem xét cho nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài trong dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam (thay thế Nghị định số 78/2009/NĐ-CP và Nghị định số 97/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014) là rất cần thiết.

Điều 9 dự thảo Nghị định đã quy định khá chi tiết các điều kiện để được coi là “trường hợp đặc biệt” xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài theo khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 như sau:

“Người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây thì được coi là trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam và được Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét việc cho nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài:

a) Người đủ điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam;

b) Tiếp tục có đóng góp lớn, lâu dài cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi được nhập quốc tịch Việt Nam;

c) Việc xin giữ quốc tịch nước ngoài của người đó khi nhập quốc tịch Việt Nam được cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó mang quốc tịch xác nhận bằng văn bản là phù hợp với pháp luật của nước ngoài đó;

d) Việc thôi quốc tịch nước ngoài dẫn đến quyền lợi của người đó ở nước ngoài bị ảnh hưởng nghiêm trọng;

đ) Có cam kết thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam và không sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam; xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Đây được coi là cơ sở pháp lý quan trọng để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp giải quyết thống nhất hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và giữ quốc tịch nước ngoài. Đối với trường hợp không phải là đặc biệt theo quy định tại Điều 9 dự thảo Nghị định nêu trên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có quyền yêu cầu người đó phải thôi quốc tịch nước ngoài theo quy định chung của pháp luật quốc tịch, trước khi xem xét giải quyết tiếp.

Chúng tôi cho rằng, với quy định cụ thể về trường hợp đặc biệt, Nghị định mới sẽ giúp cho việc giải quyết hồ sơ xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam được thuận tiện, minh bạch, nhanh chóng hơn; giúp cơ quan nhà nước và người dân có cùng cách hiểu thống nhất, chấm dứt được việc phát sinh các khiếu kiện, khiếu nại liên quan; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác quốc tịch.

Lê Thu Hiền

Hán Thị Vân Khánh

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp



[1]. Ví dụ, công dân Việt Nam nhập quốc tịch nước ngoài thì không bị mất quốc tịch Việt Nam; trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài có quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn giữ quốc tịch Việt Nam...

[2]. Giống như quyền quyết định đặc xá quy định tại khoản 12 Điều 103 Hiến pháp năm 1992 và khoản 12 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Tại cuộc họp (ngày 23/10/2015) với sự tham gia của đại diện Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài), Bộ Công an (Cục Quản lý xuất nhập cảnh), Văn phòng Chủ tịch nước (Vụ Pháp luật), Ban Đối ngoại Trung ương Đảng cũng không thống nhất để đề xuất được giải pháp cụ thể.

[4]. Bao gồm: 02 người thuộc trường hợp có công lao đặc biệt đóng góp đối với đất nước, được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam ghi nhận và tặng huân, huy chương, Bằng khen hoặc phần thưởng cao quý (01 người là công dân Italia, 01 người là bộ đội Cămpuchia cư trú tại Hà Nội); 33 người được xét là có lợi cho Nhà nước (gồm các cầu thủ bóng đá, vận động viên thể thao được Ủy ban nhân dân tỉnh, Tổng Cục thể dục thể thao xác nhận về tài năng, mức độ đóng góp cho đội tuyển); 08 trường hợp có cha mẹ là người có công lao đặc biệt, có nhiều đóng góp cho đất nước, được Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ghi nhận và muốn dành một số ưu đãi cho con cái họ (bằng việc cho con cái họ được giữ quốc tịch nước ngoài khi được nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam), nhằm tạo thuận lợi để họ yên tâm, tin tưởng và đóng góp nhiều hơn cho đất nước; 02 trường hợp là vợ của bộ đội Việt Nam ở Cămpuchia được nhập quốc tịch Việt Nam, giữ quốc tịch Cămpuchia; 01 trường hợp trẻ em nhập quốc tịch Việt Nam, giữ quốc tịch Hà Lan; 01 người có quốc tịch danh dự (ông Nguyễn Đình Lập - công dân Hy Lạp).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: