Thứ năm 08/10/2026 07:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về các trường hợp đặc biệt xin giữ quốc tịch nước ngoài khi xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam

Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam,

Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Quy định này của Luật đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Đây được coi là nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt của pháp luật quốc tịch Việt Nam từ năm 1945 đến nay, được thể hiện rõ trong Luật Quốc tịch các năm 1988, 1998 và 2008. Tuy nhiên, đoạn cuối Điều 4 Luật Quốc tịch năm 2008 lại có quy định bổ sung (so với Luật Quốc tịch năm 1998) mang tính “mềm dẻo” đó là “trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Nghĩa là, Luật quy định một số trường hợp ngoại lệ công dân Việt Nam có thể có quốc tịch nước ngoài[1]. Một trong các trường hợp ngoại lệ, công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đó là trường hợp đặc biệt xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài.

Điều 19 và Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đưa ra các điều kiện chung đối với người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam. Theo đó, người nước ngoài, người không quốc tịch, người bị mất quốc tịch Việt Nam nếu muốn được nhập/trở lại quốc tịch thì phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện đó. Riêng đối với người đang có quốc tịch nước ngoài thì để bảo đảm nguyên tắc một quốc tịch (theo Điều 4) khi người đó xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam, bắt buộc phải đáp ứng thêm 01 điều kiện nữa là phải thôi quốc tịch nước ngoài. Điều kiện này được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 19, khoản 5 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008: Người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép. Những người quy định tại khoản 2 Điều này bao gồm: (i) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam; (ii) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; (iii) Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tiếp đó, Điều 6 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ đã quy định chi tiết điểm b và điểm c khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam như sau:

“1. Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phải là người được tặng thưởng Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý khác của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận về công lao đặc biệt đó.

2. Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam”.

Thực tiễn triển khai thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 từ khi có hiệu lực tới nay cho thấy, đa số các chuyên gia pháp lý, các bộ, ngành, địa phương đều hiểu một cách thống nhất là: Theo quy định nêu trên thì để được nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam, người xin nhập quốc tịch phải đáp ứng tất cả các điều kiện quy định tại Điều 19 (từ khoản 1 đến khoản 6); người xin trở lại quốc tịch Việt Nam cũng phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định từ khoản 1 đến khoản 6 Điều 23. Trong đó, mặc dù khoản 3 Điều 19 và khoản 5 Điều 23 có cách hành văn chưa thực sự dễ hiểu nhưng đều phải được hiểu một cách thống nhất là: Nếu người xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam không thuộc trường hợp đặc biệt để trình Chủ tịch nước cho giữ quốc tịch nước ngoài, thì họ bắt buộc phải thôi quốc tịch nước ngoài nếu muốn nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam. Điểm mấu chốt ở đây là, hiểu như thế nào về trường hợp đặc biệt?

Do chưa được hướng dẫn, nên thời gian qua, Bộ Tư pháp cũng chỉ dựa vào các quy định cụ thể hóa về “công lao đặc biệt” và nội hàm của khái niệm “có lợi” để xem xét hồ sơ. Nếu thấy rằng, trường hợp xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam thông thường, không có gì đặc biệt, đương sự không có công lao đóng góp gì cho đất nước... thì đều yêu cầu phải thôi quốc tịch nước ngoài, trước khi Bộ Tư pháp giải quyết tiếp. Riêng đối với những người là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam, thì ngoài việc được miễn một số điều kiện quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều 19 Luật Quốc tịch năm 2008, họ cũng vẫn phải đáp ứng quy định tại khoản 3 Điều này về việc phải thôi quốc tịch nước ngoài khi nhập quốc tịch Việt Nam, nếu họ không thuộc trường hợp đặc biệt và không được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài. Trên thực tế nhiều trường hợp cũng đã bị từ chối giải quyết, bị trả lại hồ sơ vì không thể từ bỏ quốc tịch nước ngoài theo yêu cầu của Bộ Tư pháp.

Bên cạnh đó, hiện nay cũng có 02 quan điểm về trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc trình hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, để bảo đảm nguyên tắc một quốc tịch được quy định tại Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan giúp Chính phủ, “gác cổng” việc thẩm định hồ sơ, có trách nhiệm bảo đảm hồ sơ trình Chủ tịch nước phải đúng pháp luật. Do đó, chỉ những trường hợp đủ điều kiện để nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam, thuộc trường hợp đặc biệt để xin giữ quốc tịch nước ngoài, thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp mới thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước. Còn những trường hợp không đủ điều kiện, không thuộc trường hợp đặc biệt thì Bộ Tư pháp có quyền yêu cầu người xin nhập quốc tịch phải thôi quốc tịch nước ngoài và chỉ khi đương sự đáp ứng yêu cầu của Bộ Tư pháp (bổ sung được giấy tờ chứng minh đã thôi quốc tịch nước ngoài) thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp mới thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước. Với quan điểm này, Bộ Tư pháp đã thực hiện thống nhất trong quá trình xem xét hồ sơ từ trước đến nay và hầu hết các đương sự đã làm thủ tục thôi quốc tịch nước ngoài theo yêu cầu, với những trường hợp không muốn thôi quốc tịch gốc thì tự nguyện rút hồ sơ.

Quan điểm thứ hai cho rằng, do khoản 3 Điều 19 và khoản 3 Điều 21 Luật Quốc tịch năm 2008 có một số cụm từ chưa được giải thích, hướng dẫn nên nhiều người dân và ngay cả một số cơ quan nhà nước cũng hiểu khác nhau. Nhiều người dân cho rằng, họ là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam nên được coi là trường hợp đặc biệt để xin Chủ tịch nước cho giữ quốc tịch nước ngoài khi xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam.

Cùng với đó, quan điểm này cho rằng, cần hiểu cụm từ quy định tại khoản 3 Điều 19 “... trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép” chính là trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước[2]. Theo đó, trách nhiệm của Bộ Tư pháp là báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định đối với tất cả hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch và xin giữ quốc tịch nước ngoài. Việc Bộ Tư pháp yêu cầu họ phải thôi quốc tịch nước ngoài trước khi trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam hay việc trả lại hồ sơ khi họ không đáp ứng yêu cầu là trái Luật Quốc tịch[3]. Nói cách khác, những người theo quan điểm này cho rằng, bất kỳ hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và xin giữ quốc tịch nước ngoài được nộp lên thì Bộ Tư pháp đều phải có trách nhiệm trình Chủ tịch nước mà không có quyền yêu cầu họ phải thôi quốc tịch nước ngoài.

Tác giả cho rằng, quan điểm này không thực sự hợp lý. Bởi như vậy, số lượng hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và xin giữ quốc tịch nước ngoài được trình lên Chủ tịch nước sẽ vô cùng lớn. Văn phòng Chủ tịch nước sẽ không thể nghiên cứu, tham mưu, đề xuất đối với từng hồ sơ được. Vì vậy, giải pháp tối ưu nhất vẫn là cần cụ thể hóa, hướng dẫn chi tiết về các trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật, để tạo cơ sở pháp lý cho Bộ Tư pháp thuận lợi trong việc giải quyết hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và xin giữ quốc tịch nước ngoài.

Thực tế cho thấy, từ khi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có hiệu lực (ngày 01/7/2009) đến nay, Bộ Tư pháp mới chỉ trình Chủ tịch nước quyết định cho phép 46 trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam và giữ quốc tịch nước ngoài[4]. Những trường hợp này đều thuộc đối tượng có nhiều công lao đặc biệt đóng góp cho đất nước hoặc việc nhập quốc tịch Việt Nam là có lợi cho Nhà nước Việt Nam.

Tuy nhiên, do hiện nay chưa có quy định hướng dẫn chi tiết về mức độ đóng góp hoặc xác định như thế nào là có lợi để được coi là trường hợp đặc biệt cho giữ quốc tịch nước ngoài, nên thời gian qua đã phát sinh một số vụ việc khiếu kiện, khiếu nại liên quan đến việc giải quyết hồ sơ xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam. Thậm chí có vụ việc kéo dài tốn thời gian và gây thiệt hại về kinh tế cho cả cơ quan nhà nước và người có yêu cầu.

Qua phân tích ở trên cho thấy, vướng mắc lớn nhất cần tháo gỡ khi giải quyết hồ sơ quốc tịch là phải hiểu và áp dụng cho đúng về trường hợp đặc biệt. Vì vậy, để bảo đảm thống nhất cách hiểu và áp dụng các quy định về điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam đối với người xin giữ quốc tịch nước ngoài, giải quyết kịp thời các yêu cầu xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quốc tịch, thì việc bổ sung quy định làm rõ về các trường hợp đặc biệt để được xem xét cho nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài trong dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam (thay thế Nghị định số 78/2009/NĐ-CP và Nghị định số 97/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014) là rất cần thiết.

Điều 9 dự thảo Nghị định đã quy định khá chi tiết các điều kiện để được coi là “trường hợp đặc biệt” xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài theo khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 như sau:

“Người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây thì được coi là trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam và được Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét việc cho nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài:

a) Người đủ điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam;

b) Tiếp tục có đóng góp lớn, lâu dài cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi được nhập quốc tịch Việt Nam;

c) Việc xin giữ quốc tịch nước ngoài của người đó khi nhập quốc tịch Việt Nam được cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó mang quốc tịch xác nhận bằng văn bản là phù hợp với pháp luật của nước ngoài đó;

d) Việc thôi quốc tịch nước ngoài dẫn đến quyền lợi của người đó ở nước ngoài bị ảnh hưởng nghiêm trọng;

đ) Có cam kết thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam và không sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam; xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Đây được coi là cơ sở pháp lý quan trọng để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp giải quyết thống nhất hồ sơ xin nhập, xin trở lại quốc tịch Việt Nam và giữ quốc tịch nước ngoài. Đối với trường hợp không phải là đặc biệt theo quy định tại Điều 9 dự thảo Nghị định nêu trên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có quyền yêu cầu người đó phải thôi quốc tịch nước ngoài theo quy định chung của pháp luật quốc tịch, trước khi xem xét giải quyết tiếp.

Chúng tôi cho rằng, với quy định cụ thể về trường hợp đặc biệt, Nghị định mới sẽ giúp cho việc giải quyết hồ sơ xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam được thuận tiện, minh bạch, nhanh chóng hơn; giúp cơ quan nhà nước và người dân có cùng cách hiểu thống nhất, chấm dứt được việc phát sinh các khiếu kiện, khiếu nại liên quan; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác quốc tịch.

Lê Thu Hiền

Hán Thị Vân Khánh

Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, Bộ Tư pháp



[1]. Ví dụ, công dân Việt Nam nhập quốc tịch nước ngoài thì không bị mất quốc tịch Việt Nam; trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài có quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn giữ quốc tịch Việt Nam...

[2]. Giống như quyền quyết định đặc xá quy định tại khoản 12 Điều 103 Hiến pháp năm 1992 và khoản 12 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Tại cuộc họp (ngày 23/10/2015) với sự tham gia của đại diện Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài), Bộ Công an (Cục Quản lý xuất nhập cảnh), Văn phòng Chủ tịch nước (Vụ Pháp luật), Ban Đối ngoại Trung ương Đảng cũng không thống nhất để đề xuất được giải pháp cụ thể.

[4]. Bao gồm: 02 người thuộc trường hợp có công lao đặc biệt đóng góp đối với đất nước, được cơ quan có thẩm quyền Việt Nam ghi nhận và tặng huân, huy chương, Bằng khen hoặc phần thưởng cao quý (01 người là công dân Italia, 01 người là bộ đội Cămpuchia cư trú tại Hà Nội); 33 người được xét là có lợi cho Nhà nước (gồm các cầu thủ bóng đá, vận động viên thể thao được Ủy ban nhân dân tỉnh, Tổng Cục thể dục thể thao xác nhận về tài năng, mức độ đóng góp cho đội tuyển); 08 trường hợp có cha mẹ là người có công lao đặc biệt, có nhiều đóng góp cho đất nước, được Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ghi nhận và muốn dành một số ưu đãi cho con cái họ (bằng việc cho con cái họ được giữ quốc tịch nước ngoài khi được nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam), nhằm tạo thuận lợi để họ yên tâm, tin tưởng và đóng góp nhiều hơn cho đất nước; 02 trường hợp là vợ của bộ đội Việt Nam ở Cămpuchia được nhập quốc tịch Việt Nam, giữ quốc tịch Cămpuchia; 01 trường hợp trẻ em nhập quốc tịch Việt Nam, giữ quốc tịch Hà Lan; 01 người có quốc tịch danh dự (ông Nguyễn Đình Lập - công dân Hy Lạp).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: