Chủ nhật 25/10/2026 00:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về cơ chế phối hợp theo dõi thi hành pháp luật

Các cơ quan hành chính nhà nước ở những mức độ khác nhau đều có trách nhiệm trong việc thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật. Vì vậy, ở góc độ chung nhất, để hoạt động này được thống nhất, mang lại hiệu quả cao nhất góp phần nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, việc phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ này là rất cần thiết.

1. Sự cần thiết của việc phối hợp theo dõi thi hành pháp luật
1.1. Phối hợp theo dõi thi hành pháp luật giữa các cơ quan hành chính nhà nước là yêu cầu có tính nguyên tắc trong việc thực hiện chức năng của các cơ quan trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước
Theo dõi thi hành pháp luật là một nội dung của việc tổ chức thi hành pháp luật. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước mà đứng đầu là Chính phủ - cơ quan thực hiện quyền hành pháp[1]. Hiến pháp năm 2013 đã tạo dựng cơ sở pháp lý cho việc phối hợp theo dõi thi hành pháp luật giữa các cơ quan hành chính nhà nước. Trước hết, Chính phủ với tư cách là cơ quan thực hiện quyền hành pháp có những nhiệm vụ “tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước” (khoản 1 Điều 96); Thủ tướng Chính phủ “lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật” (khoản 1 Điều 98) và theo quy định của khoản 1 Điều 99 Hiến pháp năm 2013, với tư cách là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ “tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”.

Đối với chính quyền địa phương, Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương”. Cụ thể hơn, Ủy ban nhân dân với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao (Điều 114 Hiến pháp năm 2013).

Trên cơ sở Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã cụ thể hóa một bước về các vấn đề liên quan đến tổ chức thi hành pháp luật nói chung và theo dõi thi hành pháp luật nói riêng. Điều 32 và Điều 33 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 đã quy định về trách nhiệm của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong việc tổ chức thi hành pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng đã quy định rõ về nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương trong việc tổ chức thi hành pháp luật. Trong đó, luật đã xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở các cấp chính quyền địa phương trong việc tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật trên địa bàn. Điều này được thể hiện rõ trong rất nhiều điều, khoản của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 như Điều 21, Điều 22, Điều 28, Điều 29…

Thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP) quy định nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Theo đó, bên cạnh việc xác định phạm vi, trách nhiệm của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước về theo dõi thi hành pháp luật, nghị định cũng đã làm rõ một trong số những nguyên tắc của việc thực hiện hoạt động này là “bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức trong quá trình theo dõi tình hình thi hành pháp luật; không trùng lắp, chồng chéo với các hoạt động thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước đã được pháp luật quy định” (khoản 4 Điều 4 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP).

Như vậy, có thể nói rằng, các cơ quan hành chính nhà nước ở những mức độ khác nhau đều có trách nhiệm trong việc thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật. Vì vậy, ở góc độ chung nhất, để hoạt động này được thống nhất, mang lại hiệu quả cao nhất góp phần nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, việc phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ này là rất cần thiết.

1.2. Phối hợp theo dõi thi hành pháp luật giữa các cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là bảo đảm việc thực hiện nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Một trong những nguyên tắc quan trọng trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta đã được Hiến pháp năm 2013 xác định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (khoản 3 Điều 2). Để bảo đảm tuân thủ đúng nguyên tắc này, các cơ quan khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình cần phải có sự phối hợp để bảo đảm hiệu quả của việc thực thi quyền lực nhà nước. Vì thế, việc phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân trong theo dõi thi hành pháp luật là một trong những nội dung thể hiện sự tuân thủ nguyên tắc của việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước.

Trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp mà một trong những nội dung của nó là tổ chức thực hiện pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật. Để thực hiện chức năng của mình, Chính phủ giao nhiệm vụ tổ chức thi hành pháp luật và theo dõi tình hình thi hành pháp luật cho các cơ quan khác nhau trong bộ máy hành chính khi thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cũng thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình.

Theo quy định của pháp luật, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp[2]; Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[3]. Nhiệm vụ của các cơ quan này là bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật, bảo việc quyền con người, quyền công dân… Tuy nhiên, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là các cơ quan trong bộ máy nhà nước, vì thế, các cơ quan này vừa thực hiện chức năng quản lý theo phạm vi thẩm quyền của mình, vừa thực hiện chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện quyền tư pháp theo quy định của pháp luật. Công tác thi hành pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước cũng được thực hiện gắn với hai vai trò đó. Do vậy, sự phối hợp giữa cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân trong theo dõi thi hành pháp luật cũng gắn với những nội dung này.

1.3. Phối hợp theo dõi thi hành pháp luật giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội nhằm phát huy trí tuệ của các tầng lớp nhân dân trong theo dõi thi hành pháp luật, bảo đảm kết quả công tác theo dõi thi hành pháp luật được toàn diện

Một trong những nguyên tắc cơ bản của theo dõi tình hình thi hành pháp luật là “huy động sự tham gia của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và nhân dân”[4]. Nguyên tắc này bắt nguồn từ cơ sở “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”[5]; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”[6]. Việc ghi nhận nguyên tắc “huy động sự tham gia của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và nhân dân” thể hiện vai trò to lớn của các chủ thể khác trong xã hội đối với công tác này.

Nội dung quan trọng nhất của theo dõi thi hành pháp luật là thu thập và xem xét, đánh giá việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật trong đời sống xã hội để giúp các cơ quan nhà nước điều chỉnh, cải cách nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật cũng như góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật. Một trong số những kênh thông tin giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể đánh giá chính xác được hiệu quả của pháp luật nói chung cũng như hiệu quả của công tác thi hành pháp luật nói riêng là thông tin từ các đối tượng tác động của pháp luật. Người dân là đối tượng tác động trực tiếp của các quy định pháp luật. Trong các mối quan hệ pháp luật khác nhau, người dân tham gia với tư cách là chủ thể của các quan hệ đó sẽ có địa vị pháp lý khác nhau với những quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau. Trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, những kết quả đạt được cùng với bất cập, hạn chế của công tác tổ chức thi hành pháp luật cũng như các quy định cụ thể của pháp luật được phản ánh thông qua chính hành vi của các đối tượng này. Vì thế, các thông tin về tình hình thi hành hành pháp luật có được từ các đối tượng này sẽ rất hữu ích.

Ở nước ta hiện nay, mỗi người dân tham gia và là thành viên của một hoặc nhiều tổ chức khác nhau trong xã hội. Đó là các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội như Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam… Các tổ chức này “đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình”[7]. Ý kiến của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chính là sự tổng hợp ý kiến của những thành viên trong các tổ chức đó. Mặt khác, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được tổ chức rất đa dạng ở nhiều phạm vi và cấp độ khác nhau, vì thế, ý kiến của các tổ chức này đối với các vấn đề về pháp luật nói chung và vấn đề thi hành pháp luật nói riêng sẽ phản ánh được tiếng nói của đông đảo các tầng lớp khác nhau trong xã hội, có được thông tin tổng hợp từ các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, việc xem xét, đánh giá về công tác thi hành pháp luật sẽ toàn diện hơn.

2. Thực trạng phối hợp theo dõi thi hành pháp luật ở nước ta hiện nay

2.1. Thực trạng thể chế về cơ chế phối hợp theo dõi thi hành pháp luật

Trong những năm vừa qua, cùng với việc tổ chức thi hành pháp luật, thể chế về theo dõi thi hành pháp luật cũng đã từng bước được hoàn thiện. Trong các quy định về theo dõi thi hành pháp luật, các quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau, giữa cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đều từng bước được thể hiện.

Việc phối hợp theo dõi thi hành pháp luật giữa các cơ quan, tổ chức được xác định là một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt động này. Theo đó, Điều 4 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP đã xác định nguyên tắc “bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức trong quá trình theo dõi tình hình thi hành pháp luật”[8] và “huy động sự tham gia của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và nhân dân”[9]. Những quy định chung về nguyên tắc này cho thấy, nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật không phải là nhiệm vụ riêng của hệ thống cơ quan hành chính. Vì vậy, để công tác theo dõi thi hành pháp luật đạt được hiệu quả cao, sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức khác nhau trong xã hội là một yêu cầu tất yếu.

Để cụ thể hóa những nguyên tắc nói trên, Nghị định số 59/2012/NĐ-CP cũng đã xác định trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể cụ thể trong công tác theo dõi thi hành pháp luật. Cụ thể, Điều 18 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP quy định: “Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác có liên quan trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật”. Quy định này đã xác định việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong quá trình theo dõi thi hành pháp luật là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức nói chung ở các cấp khác nhau.

Trên cơ sở các quy định của pháp luật, nhất là Nghị định số 59/2012/NĐ-CP và Thông tư số 14/2014/TT-BTP ngày 15/5/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP (Thông tư số 14/2014/TT-BTP), để thực hiện cơ chế phối hợp theo dõi thi hành pháp luật, các địa phương đã ban hành quy chế phối hợp theo dõi thi hành pháp luật. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và ban hành quy chế phối hợp theo dõi tình hình thi hành pháp luật như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Công thương... Đến thời điểm tháng 11/2017, đã có 37/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành quy chế phối hợp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh, thành phố[10].

Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, thể chế về cơ chế phối hợp theo dõi thi hành pháp luật chưa đầy đủ. Một trong những tồn tại, hạn chế cơ bản trong công tác theo dõi thi hành pháp luật thời gian qua là thể chế vẫn còn thiếu và yếu. Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh công tác theo dõi thi hành pháp luật là Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, trong khi đó, nghị định này chưa điều chỉnh toàn diện công tác theo dõi thi hành pháp luật nên gây khó khăn cho quá trình thực hiện. Thêm nữa, nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật đòi hỏi sự phối kết hợp chặt chẽ của các bộ, ngành và địa phương, nhưng đến nay nhiều cơ quan trung ương và địa phương vẫn chưa ban hành quy chế phối hợp trong công tác theo dõi thi hành pháp luật[11]. Điều này chắc chắn sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả của công tác theo dõi thi hành pháp luật.

Đặc biệt, các quy định về vai trò, trách nhiệm của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cũng như các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật chưa được xác định cụ thể. Điều này làm cho công tác phối hợp giữa cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội khó được triển khai hiệu quả trên thực tế.

2.2. Thực tiễn phối hợp theo dõi thi hành pháp luật giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau, giữa cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát, giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

Việc đánh giá thực tiễn việc phối hợp theo dõi thi hành pháp luật giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau, giữa cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là công việc rất khó khăn bởi trên thực tế, chưa có một báo cáo cũng như một cuộc khảo sát nào về tình hình phối hợp công tác theo dõi thi hành pháp luật giữa các chủ thể này. Vì thế, đánh giá thực tiễn của cơ chế phối hợp này, tác giả sẽ đánh giá trên cơ sở nghiên cứu kế hoạch triển khai công tác theo dõi thi hành pháp luật của các địa phương, cơ quan, tổ chức.

Trước hết, có thể khẳng định rằng, kể từ khi triển khai Nghị định số 59/2012/NĐ-CP và Thông tư số 14/2014/TT-BTP, sự phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác theo dõi thi hành pháp luật đã được thực hiện khá toàn diện. Điều này thể hiện rất rõ trong kế hoạch triển khai công tác theo dõi thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Nghiên cứu kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật của các địa phương, đặc biệt là kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho thấy, trong nội dung của các kế hoạch này đã xác định rất rõ nhiệm vụ và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức mà đặc biệt là sự phân công rõ ràng các nhiệm vụ của từng cơ quan hành chính nhà nước.

Điểm đáng lưu ý là không có nhiều kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật của các địa phương đã ban hành nêu cụ thể về cơ chế phối hợp giữa cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân ở các cấp cũng như sự phối hợp giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Trong các báo cáo về công tác theo dõi thi hành pháp luật không có con số thống kê hay báo cáo về sự tham gia của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, trên thực tế, các báo cáo về công tác theo dõi thi hành pháp luật của địa phương gửi về Bộ Tư pháp để tổng hợp thành báo công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật hàng năm đều có các số liệu liên quan đến công tác xét xử của Tòa án nhân dân. Điều này chứng tỏ rằng, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và Tòa án nhân dân đã có sự phối hợp nhất định trong công tác theo dõi thi hành pháp luật.

Trong các báo cáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân trình tại các kỳ họp của Quốc hội đều có rất nhiều nội dung về những vấn đề liên quan đến tình hình thi hành pháp luật. Nội dung của hầu hết các báo cáo của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã nêu lên rất nhiều bất cập trong công tác thi hành pháp luật và có nhiều kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền trong việc tổ chức thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, dường như, những nội dung này ít được thể hiện trong các báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật của địa phương mà chủ yếu được đưa vào các báo cáo trình Quốc hội.

Tuy vậy, cũng cần thừa nhận rằng, trên thực tiễn, công tác phối hợp theo dõi tình hình thi hành pháp luật giữa cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, sự phối hợp giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chưa đạt được kết quả như kỳ vọng. Ngoài việc tham gia cung cấp các thông tin về tình hình thi hành pháp luật, dường như vai trò của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong cơ chế phối hợp với cơ quan hành chính nhà nước còn thiếu sự chủ động.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của cơ chế phối hợp trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật như thể chế chưa hoàn thiện, sự tích cực, chủ động của các cơ quan, đơn vị chưa cao... Trong đó, có thể nói rằng, nguyên nhân quan trọng nhất chính là thiếu những quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật xác lập cơ chế này. Qua nghiên cứu, chúng ta dễ dàng thấy, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật mới chỉ tập trung vào xác lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau. Trong đó, các quy định tập trung xác định nội dung cần thực hiện, trách nhiệm giữa các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, đơn vị chủ trì các hoạt động này... Điều đó kéo theo tình trạng các kế hoạch triển khai công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của địa phương cũng tập trung vào cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau. Trong khi đó, các quy định về cơ chế phối hợp giữa cơ quan hành chính nhà nước với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cũng như cơ chế phối hợp giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội dường như mới chỉ dừng ở việc xác định trách nhiệm chung, khái quát mà chưa có các quy định cụ thể trong từng hoạt động cụ thể của công tác này như đã trình bày ở trên. Điều này phải chăng là do các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về theo dõi tình hình thi hành pháp luật được ban hành bởi các cơ quan hành chính nhà nước nên khó có thể quy định trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác mà đặc biệt Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân.

3. Một số kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả của cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau, giữa cơ quan hành chính với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân và giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, một trong những việc cấp thiết cần thực hiện là hoàn thiện thể chế về công tác theo dõi thi hành pháp luật, trong đó, cần lưu ý một số điểm cụ thể như sau:

Một là, các quy định cụ thể về công tác tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật phải được ban hành ở cấp độ là văn bản luật. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi Quốc hội dễ dàng xác định vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức khác trong bộ máy nhà nước nhất là Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân trong công tác theo dõi thi hành pháp luật.

Hai là, trong các văn bản quy phạm pháp luật về theo dõi tình hình thi hành pháp luật cần phải quy định cụ thể hơn vai trò, trách nhiệm của mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi cơ quan, đặc biệt là trách nhiệm phối hợp cụ thể của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cũng như vai trò, trách nhiệm của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong công tác theo dõi thi hành pháp luật. Việc các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành mới chỉ quy định một cách khái quát về vai trò, trách nhiệm của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật không chỉ gây khó khăn trong việc các cơ quan nhà nước xây dựng các kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật mà còn trong việc các chủ thể này chủ động trong công tác của mình liên quan đến theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

TS. Nguyễn Quốc Hoàn

Bộ Tư pháp





[1]. Điều 94 Hiến pháp năm 2013.

[2]. Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

[3]. Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

[4]. Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP.

[5]. Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

[6]. Điều 3 Hiến pháp năm 2013.

[7]. Điều 9 Hiến pháp năm 2013.

[8]. Khoản 4 Điều 4 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP.

[9]. Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP.

[10]. Bộ Tư pháp, Báo cáo công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2017.

[11]. Bộ Tư pháp, Báo cáo công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: