Thứ tư 17/06/2026 14:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về định tội danh giết người theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về định tội danh giết người theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả tập trung làm rõ cơ sở pháp lý về định tội danh giết người theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, đồng thời, nêu lên thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện nội dung này trong thời gian tới.

1. Cơ sở pháp lý về định tội danh giết người theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

Định tội danh thể hiện sự xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp (đồng nhất) giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trong thực tế khách quan với các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015). Hay nói cách khác, định tội danh là việc xác định một hành vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội nhất định trong số các tội phạm đã được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hiện nay, có nhiều quan điểm về nội hàm định tội danh, tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ định tội danh chính thức, cùng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong điều tra hình sự, nhóm tác giả đưa ra khái niệm về định tội danh trong điều tra hình sự như sau: Định tội danh trong điều tra hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, nhằm xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa hành vi phạm tội đã xảy ra với cấu thành tội phạm của một tội phạm cụ thể được Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định.

Từ cơ sở lý luận về định tội danh nêu trên, cùng với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội giết người, nhóm tác giả đưa ra khái niệm về định tội danh đối với tội giết người như sau: Định tội danh đối với tội giết người là hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các quy định khác trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có liên quan, qua đó làm tiền đề để phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt của người phạm tội giết người.

Hiện nay, cơ sở pháp lý trong hoạt động định tội danh đối với tội giết người bao gồm các văn bản pháp luật như: Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thông tư liên ngành của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp... Trong đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 là cơ sở pháp lý trực tiếp cho toàn bộ quá trình định tội danh, các văn bản còn lại đóng vai trò là cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) cho quá trình định tội danh đối với tội phạm nói chung và tội giết người nói riêng.

2. Thực tiễn hoạt động định tội danh giết người ở nước ta hiện nay

Đánh giá về thực trạng hoạt động định tội danh giết người cho thấy, hiện nay, cơ sở pháp lý cho việc định tội danh nói chung và tội giết người nói riêng đã được quan tâm xây dựng và hoàn thiện đó là Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13. Ngoài ra, để bảo đảm việc định tội danh giết người được khách quan và thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua và công bố 63 án lệ, trong đó có 14 án lệ về hình sự để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng thống nhất trong xét xử đối với các vụ việc có tình huống pháp lý tương tự. Việc công bố các án lệ liên quan đến hình sự của Tòa án nhân dân tối cao không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động xét xử, đây còn là một nguồn tham khảo có giá trị đối với hoạt động định tội danh trong điều tra hình sự, nhằm bảo đảm thống nhất đường lối xử lý giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với những trường hợp quy định của pháp luật hình sự còn có cách hiểu khác nhau.

Những cơ sở pháp lý nêu trên đã tạo điều kiện pháp lý thuận lợi để các chủ thể định tội danh giải quyết tốt các khó khăn, vướng mắc đang tồn tại trong quá trình định tội danh, từ đó bảo đảm được các yêu cầu đặt ra, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Tuy nhiên, bên cạnh đó, quá trình định tội danh giết người vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc. Cụ thể:

Một là, còn trường hợp một số chủ thể có thẩm quyền trong việc định tội danh áp dụng cứng nhắc án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi định tội danh trong các trường hợp dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào các vùng trọng yếu trên cơ thể như dùng cây đánh vào đầu, dùng dao chém vào vùng trọng yếu là tội giết người. Tuy nhiên, thực tiễn điều tra đã chứng minh, người phạm tội không mong muốn tước đoạt tính mạng của người bị hại nhưng do quá trình ẩu đả hai bên cùng tấn công nhau, tư thế, vị trí liên tục thay đổi do giằng co thì việc dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu (không cố ý) chỉ gây thương tích cho bị hại, không có ý thức tước đoạt tính mạng người khác, bị hại vẫn kịp thời bỏ chạy và được cấp cứu kịp thời, người phạm tội không truy đuổi thì trường hợp này phải xác định là phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Hai là, không áp dụng Án lệ số 47/2021 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 để định tội danh về tội giết người, mặc dù xác định người phạm tội dùng hung khí đâm nhiều nhát vào đầu, cổ của bị hại gây ra nhiều dấu vết thương tích, trường hợp này mặc dù người phạm tội có khẳng định không có ý thức tước đoạt mạng sống của bị hại thì vẫn định tội giết người. Điển hình như Thông báo rút kinh nghiệm số 05/TB-VC1-HS ngày 13/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với vụ án Lê Bá Đăng phạm tội cố ý gây thương tích và Thông báo rút kinh nghiệm số 06/TB-VC1-HS ngày 25/03/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với vụ án Tạ Duy Hiền phạm tội cố ý gây thương tích có nêu về trường hợp phạm tội giết người mà không căn cứ vào hậu quả chết người. Nói cách khác, chỉ cần người phạm tội sử dụng hung khí nguy hiểm, tấn công vào vùng trọng yếu có khả năng dẫn đến chết người là có dấu hiệu của tội giết người (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt).

Ba là, định tội danh về hành vi giết người trong trường hợp có hành vi thái quá của người thực hành còn có những quan điểm khác nhau, cụ thể: Trong vụ án giết người, chỉ cần người chủ mưu có hành vi khởi xướng, lên kế hoạch, cầm đầu việc đi gây thương tích nhưng trong nhóm có người thực hiện hành vi thái quá là dùng dao đâm chết người thì trường hợp này, người chủ mưu là đồng phạm với tội giết người; thực tế, có địa phương chỉ khởi tố người chủ mưu trong trường hợp này phạm tội gây rối trật tự công cộng. Nội dung này đã được Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi Thông báo rút kinh nghiệm số 256/TV-VKSNDTC ngày 29/11/2022.

3. Định hướng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động định tội danh giết người

Một là, bảo đảm vận dụng nghiêm túc, đầy đủ quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với việc định tội danh giết người.

Để giải quyết vụ án giết người một cách nghiêm minh, đúng người, đúng tội thì vấn đề định tội danh lại vô cùng quan trọng, có tính quyết định tới khung hình phạt. Định tội danh là cơ sở cần thiết đầu tiên cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội giết người. Chính vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần bảo đảm vận dụng một cách nghiêm túc, đầy đủ quy định của pháp luật hình sự nói chung và Bộ luật Hình sự năm 2015 nói riêng. Trên cơ sở xác định người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội giết người quy định cụ thể tại một trong các khoản của Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ quyết định mức độ hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội đó. Nói cách khác, định tội danh đối với tội giết người là sự thể hiện việc đánh giá chính trị - xã hội và pháp lý đối với hành vi giết người.

Định tội danh đối với tội giết người chính xác đòi hỏi phải có viện dẫn cụ thể tại một trong các khoản của Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong trường hợp phạm tội có đồng phạm, phạm tội chưa đạt, chuẩn bị phạm tội, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và độ tuổi trách nhiệm hình sự... thì ngoài quy định tại Điều 123, còn phải viện dẫn cả các điều luật tương ứng ở phần chung của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Yêu cầu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật đối với tội giết người phải bảo đảm nguyên tắc công bằng, tức là việc định tội danh và quyết định hình phạt phải đầy đủ những hành vi đã được thực hiện. Người phạm tội giết người thực hiện bao nhiêu hành vi thì phải bị xử lý về bấy nhiêu tình tiết được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Nếu thực hiện cả hành vi nguy hiểm cho xã hội khác mà Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định là tội phạm thì cũng phải bị xử lý thêm về tội danh tương ứng.

Hai là, tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hình sự đối với định tội danh giết người phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Một số quy định của pháp luật hình sự có liên quan còn có vướng mắc nhất định đối với hoạt động định tội danh giết người. Điển hình như, theo Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), việc giám định thương tích phải có bệnh nhân, không tiến hành giám định trên hồ sơ trong trường hợp bị hại từ chối giám định. Trên thực tế, việc bị hại từ chối giám định thương tích hoặc vì lý do khách quan mà vắng mặt tại địa phương nơi cư trú dẫn đến tình trạng tạm đình chỉ giải quyết tin báo hoặc không thể khởi tố vụ án hình sự. Vì vậy, theo nhóm tác giả, đối với bị hại đã được điều trị tại cơ sở y tế, có hồ sơ bệnh án nhưng cố tình vắng mặt, gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý tội phạm thì cần thiết xem xét cho phép tiến hành giám định trên hồ sơ bệnh án.

Bên cạnh đó, theo Thông tư số 47/2013/TT-BYT ngày 31/12/2013 của Bộ Y tế ban hành quy trình giám định pháp y (Thông tư số 47/2013/TT-BYT) thì bên cạnh quyết định trưng cầu giám định, các cơ quan tố tụng phải gửi cho cơ quan giám định các tài liệu kèm theo gồm: Bản sao hợp pháp tất cả hồ sơ bệnh án liên quan đến thương tích cần giám định; các hồ sơ về y tế có liên quan đến giám định pháp y; biên bản lời khai của bị hại, nghi can, nhân chứng. Trong trường hợp muốn giám định thương tích cho bị hại sớm thì cơ quan điều tra phải gửi văn bản yêu cầu đề nghị cơ quan giám định. Hiện tại, bệnh viện và các cơ sở y tế điều trị chuyên khoa chỉ cung cấp hồ sơ bệnh án khi người bệnh đã xuất viện. Do đó, để giám định thương tích của bị hại thì phải đợi họ xuất viện. Nếu bị hại phải điều trị lâu dài (không xác định được thời gian xuất viện) sẽ khiến cho việc giải quyết tin báo, tố giác bị quá thời hạn; gây khó khăn, cản trở việc xử lý đối tượng phạm tội. Hơn nữa, việc cung cấp biên bản ghi lời khai của bị hại, nghi can, nhân chứng cho cơ quan giám định trong một số trường hợp là bất hợp lý. Bởi lẽ, cơ quan giám định là cơ quan chuyên môn độc lập, cần bảo đảm tính khách quan khi thực hiện nhiệm vụ. Việc cơ quan giám định tham khảo tài liệu điều tra có các nội dung liên quan đến diễn biến hành vi phạm tội của các đối tượng chỉ cần thiết khi gặp khó khăn trong xác định cơ chế hình thành thương tích. Hiện tại, tất cả các quy trình giám định ban hành kèm theo Thông tư số 47/2013/TT-BYT đều quy định phải có những tài liệu gửi kèm như trên là bất cập, làm ảnh hưởng đến bí mật điều tra vụ án.

Theo nhóm tác giả, Thông tư số 47/2013/TT-BYT cần được hướng dẫn một cách cụ thể hơn như: Hồ sơ giám định gồm…, “biên bản ghi lời khai của bị hại, nghi can, nhân chứng khi cần thiết”. Các cơ quan tố tụng cũng cần xây dựng quy chế phối hợp với Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế để tiến hành giám định tư pháp kịp thời, bảo đảm tiến độ điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải đòi hỏi văn bản yêu cầu giám định sớm.

Ba là, cần chú ý phân biệt giữa tội giết người và các tội phạm khác theo quy định pháp luật, tránh nhầm lẫn khi định tội danh các loại tội phạm này.

Thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật về tội giết người và nghiên cứu quy định về tội này theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy, hiện vẫn còn thiếu những văn bản hướng dẫn cụ thể về hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội giết người dẫn đến có nơi, có lúc quan điểm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có sự khác nhau trong hoạt động áp dụng pháp luật. Do vậy, cần sớm có thêm những văn bản hướng dẫn về các dấu hiệu pháp lý để phân biệt tội giết người với các tội giáp ranh khác nhau như giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác gây ra hậu quả chết người.

Ngoài ra, một số tình tiết như giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và một số tình tiết định khung tăng nặng của tội giết người như: “Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”, tình tiết “có tính chất côn đồ”, “để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác”… mặc dù đã có hướng dẫn, song, để quá trình vận dụng đạt được sự thống nhất thì vẫn cần có sự hướng dẫn cụ thể, rõ ràng hơn.

Bốn là, thường xuyên sơ kết, tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về định tội danh giết người để rút kinh nghiệm, kịp thời phát hiện những thiếu sót, hạn chế và vướng mắc của các quy định pháp luật và xây dựng án lệ về tội giết người.

Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội giết người theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong những năm qua ở nước ta về cơ bản là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm các lợi ích hợp pháp của người phạm tội khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn cá biệt các vụ việc để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm gây ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người. Do đó, cần thiết thường xuyên sơ kết, tổng kết những kết quả đạt được cũng như những vấn đề cần phải sửa đổi để rút kinh nghiệm, từ đó có những hướng dẫn cụ thể trong việc giải quyết các vụ án giết người một cách khách quan, toàn diện; đồng thời, nhằm phát hiện kịp thời những thiếu sót, hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật trong quá trình áp dụng thực tiễn để đề xuất, kiến nghị kịp thời, góp phần sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật chính xác, phù hợp và hiệu quả hơn, tạo căn cứ pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các vụ án giết người được chính xác, có tính thuyết phục cao.

TS. Nguyễn Tiến Nam

ThS. Vũ Thị Hồng Phương

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.

Theo dõi chúng tôi trên: