Thứ bảy 07/02/2026 20:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về định tội danh giết người theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về định tội danh giết người theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả tập trung làm rõ cơ sở pháp lý về định tội danh giết người theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, đồng thời, nêu lên thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện nội dung này trong thời gian tới.

1. Cơ sở pháp lý về định tội danh giết người theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

Định tội danh thể hiện sự xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp (đồng nhất) giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trong thực tế khách quan với các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015). Hay nói cách khác, định tội danh là việc xác định một hành vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội nhất định trong số các tội phạm đã được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hiện nay, có nhiều quan điểm về nội hàm định tội danh, tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ định tội danh chính thức, cùng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong điều tra hình sự, nhóm tác giả đưa ra khái niệm về định tội danh trong điều tra hình sự như sau: Định tội danh trong điều tra hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, nhằm xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa hành vi phạm tội đã xảy ra với cấu thành tội phạm của một tội phạm cụ thể được Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định.

Từ cơ sở lý luận về định tội danh nêu trên, cùng với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội giết người, nhóm tác giả đưa ra khái niệm về định tội danh đối với tội giết người như sau: Định tội danh đối với tội giết người là hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các quy định khác trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có liên quan, qua đó làm tiền đề để phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt của người phạm tội giết người.

Hiện nay, cơ sở pháp lý trong hoạt động định tội danh đối với tội giết người bao gồm các văn bản pháp luật như: Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thông tư liên ngành của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp... Trong đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 là cơ sở pháp lý trực tiếp cho toàn bộ quá trình định tội danh, các văn bản còn lại đóng vai trò là cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) cho quá trình định tội danh đối với tội phạm nói chung và tội giết người nói riêng.

2. Thực tiễn hoạt động định tội danh giết người ở nước ta hiện nay

Đánh giá về thực trạng hoạt động định tội danh giết người cho thấy, hiện nay, cơ sở pháp lý cho việc định tội danh nói chung và tội giết người nói riêng đã được quan tâm xây dựng và hoàn thiện đó là Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13. Ngoài ra, để bảo đảm việc định tội danh giết người được khách quan và thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua và công bố 63 án lệ, trong đó có 14 án lệ về hình sự để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng thống nhất trong xét xử đối với các vụ việc có tình huống pháp lý tương tự. Việc công bố các án lệ liên quan đến hình sự của Tòa án nhân dân tối cao không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động xét xử, đây còn là một nguồn tham khảo có giá trị đối với hoạt động định tội danh trong điều tra hình sự, nhằm bảo đảm thống nhất đường lối xử lý giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với những trường hợp quy định của pháp luật hình sự còn có cách hiểu khác nhau.

Những cơ sở pháp lý nêu trên đã tạo điều kiện pháp lý thuận lợi để các chủ thể định tội danh giải quyết tốt các khó khăn, vướng mắc đang tồn tại trong quá trình định tội danh, từ đó bảo đảm được các yêu cầu đặt ra, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Tuy nhiên, bên cạnh đó, quá trình định tội danh giết người vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc. Cụ thể:

Một là, còn trường hợp một số chủ thể có thẩm quyền trong việc định tội danh áp dụng cứng nhắc án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi định tội danh trong các trường hợp dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào các vùng trọng yếu trên cơ thể như dùng cây đánh vào đầu, dùng dao chém vào vùng trọng yếu là tội giết người. Tuy nhiên, thực tiễn điều tra đã chứng minh, người phạm tội không mong muốn tước đoạt tính mạng của người bị hại nhưng do quá trình ẩu đả hai bên cùng tấn công nhau, tư thế, vị trí liên tục thay đổi do giằng co thì việc dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu (không cố ý) chỉ gây thương tích cho bị hại, không có ý thức tước đoạt tính mạng người khác, bị hại vẫn kịp thời bỏ chạy và được cấp cứu kịp thời, người phạm tội không truy đuổi thì trường hợp này phải xác định là phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Hai là, không áp dụng Án lệ số 47/2021 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 để định tội danh về tội giết người, mặc dù xác định người phạm tội dùng hung khí đâm nhiều nhát vào đầu, cổ của bị hại gây ra nhiều dấu vết thương tích, trường hợp này mặc dù người phạm tội có khẳng định không có ý thức tước đoạt mạng sống của bị hại thì vẫn định tội giết người. Điển hình như Thông báo rút kinh nghiệm số 05/TB-VC1-HS ngày 13/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với vụ án Lê Bá Đăng phạm tội cố ý gây thương tích và Thông báo rút kinh nghiệm số 06/TB-VC1-HS ngày 25/03/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với vụ án Tạ Duy Hiền phạm tội cố ý gây thương tích có nêu về trường hợp phạm tội giết người mà không căn cứ vào hậu quả chết người. Nói cách khác, chỉ cần người phạm tội sử dụng hung khí nguy hiểm, tấn công vào vùng trọng yếu có khả năng dẫn đến chết người là có dấu hiệu của tội giết người (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt).

Ba là, định tội danh về hành vi giết người trong trường hợp có hành vi thái quá của người thực hành còn có những quan điểm khác nhau, cụ thể: Trong vụ án giết người, chỉ cần người chủ mưu có hành vi khởi xướng, lên kế hoạch, cầm đầu việc đi gây thương tích nhưng trong nhóm có người thực hiện hành vi thái quá là dùng dao đâm chết người thì trường hợp này, người chủ mưu là đồng phạm với tội giết người; thực tế, có địa phương chỉ khởi tố người chủ mưu trong trường hợp này phạm tội gây rối trật tự công cộng. Nội dung này đã được Viện kiểm sát nhân dân tối cao gửi Thông báo rút kinh nghiệm số 256/TV-VKSNDTC ngày 29/11/2022.

3. Định hướng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động định tội danh giết người

Một là, bảo đảm vận dụng nghiêm túc, đầy đủ quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với việc định tội danh giết người.

Để giải quyết vụ án giết người một cách nghiêm minh, đúng người, đúng tội thì vấn đề định tội danh lại vô cùng quan trọng, có tính quyết định tới khung hình phạt. Định tội danh là cơ sở cần thiết đầu tiên cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội giết người. Chính vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần bảo đảm vận dụng một cách nghiêm túc, đầy đủ quy định của pháp luật hình sự nói chung và Bộ luật Hình sự năm 2015 nói riêng. Trên cơ sở xác định người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội giết người quy định cụ thể tại một trong các khoản của Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ quyết định mức độ hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội đó. Nói cách khác, định tội danh đối với tội giết người là sự thể hiện việc đánh giá chính trị - xã hội và pháp lý đối với hành vi giết người.

Định tội danh đối với tội giết người chính xác đòi hỏi phải có viện dẫn cụ thể tại một trong các khoản của Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong trường hợp phạm tội có đồng phạm, phạm tội chưa đạt, chuẩn bị phạm tội, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và độ tuổi trách nhiệm hình sự... thì ngoài quy định tại Điều 123, còn phải viện dẫn cả các điều luật tương ứng ở phần chung của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Yêu cầu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật đối với tội giết người phải bảo đảm nguyên tắc công bằng, tức là việc định tội danh và quyết định hình phạt phải đầy đủ những hành vi đã được thực hiện. Người phạm tội giết người thực hiện bao nhiêu hành vi thì phải bị xử lý về bấy nhiêu tình tiết được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Nếu thực hiện cả hành vi nguy hiểm cho xã hội khác mà Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định là tội phạm thì cũng phải bị xử lý thêm về tội danh tương ứng.

Hai là, tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hình sự đối với định tội danh giết người phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Một số quy định của pháp luật hình sự có liên quan còn có vướng mắc nhất định đối với hoạt động định tội danh giết người. Điển hình như, theo Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), việc giám định thương tích phải có bệnh nhân, không tiến hành giám định trên hồ sơ trong trường hợp bị hại từ chối giám định. Trên thực tế, việc bị hại từ chối giám định thương tích hoặc vì lý do khách quan mà vắng mặt tại địa phương nơi cư trú dẫn đến tình trạng tạm đình chỉ giải quyết tin báo hoặc không thể khởi tố vụ án hình sự. Vì vậy, theo nhóm tác giả, đối với bị hại đã được điều trị tại cơ sở y tế, có hồ sơ bệnh án nhưng cố tình vắng mặt, gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý tội phạm thì cần thiết xem xét cho phép tiến hành giám định trên hồ sơ bệnh án.

Bên cạnh đó, theo Thông tư số 47/2013/TT-BYT ngày 31/12/2013 của Bộ Y tế ban hành quy trình giám định pháp y (Thông tư số 47/2013/TT-BYT) thì bên cạnh quyết định trưng cầu giám định, các cơ quan tố tụng phải gửi cho cơ quan giám định các tài liệu kèm theo gồm: Bản sao hợp pháp tất cả hồ sơ bệnh án liên quan đến thương tích cần giám định; các hồ sơ về y tế có liên quan đến giám định pháp y; biên bản lời khai của bị hại, nghi can, nhân chứng. Trong trường hợp muốn giám định thương tích cho bị hại sớm thì cơ quan điều tra phải gửi văn bản yêu cầu đề nghị cơ quan giám định. Hiện tại, bệnh viện và các cơ sở y tế điều trị chuyên khoa chỉ cung cấp hồ sơ bệnh án khi người bệnh đã xuất viện. Do đó, để giám định thương tích của bị hại thì phải đợi họ xuất viện. Nếu bị hại phải điều trị lâu dài (không xác định được thời gian xuất viện) sẽ khiến cho việc giải quyết tin báo, tố giác bị quá thời hạn; gây khó khăn, cản trở việc xử lý đối tượng phạm tội. Hơn nữa, việc cung cấp biên bản ghi lời khai của bị hại, nghi can, nhân chứng cho cơ quan giám định trong một số trường hợp là bất hợp lý. Bởi lẽ, cơ quan giám định là cơ quan chuyên môn độc lập, cần bảo đảm tính khách quan khi thực hiện nhiệm vụ. Việc cơ quan giám định tham khảo tài liệu điều tra có các nội dung liên quan đến diễn biến hành vi phạm tội của các đối tượng chỉ cần thiết khi gặp khó khăn trong xác định cơ chế hình thành thương tích. Hiện tại, tất cả các quy trình giám định ban hành kèm theo Thông tư số 47/2013/TT-BYT đều quy định phải có những tài liệu gửi kèm như trên là bất cập, làm ảnh hưởng đến bí mật điều tra vụ án.

Theo nhóm tác giả, Thông tư số 47/2013/TT-BYT cần được hướng dẫn một cách cụ thể hơn như: Hồ sơ giám định gồm…, “biên bản ghi lời khai của bị hại, nghi can, nhân chứng khi cần thiết”. Các cơ quan tố tụng cũng cần xây dựng quy chế phối hợp với Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế để tiến hành giám định tư pháp kịp thời, bảo đảm tiến độ điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải đòi hỏi văn bản yêu cầu giám định sớm.

Ba là, cần chú ý phân biệt giữa tội giết người và các tội phạm khác theo quy định pháp luật, tránh nhầm lẫn khi định tội danh các loại tội phạm này.

Thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật về tội giết người và nghiên cứu quy định về tội này theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho thấy, hiện vẫn còn thiếu những văn bản hướng dẫn cụ thể về hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội giết người dẫn đến có nơi, có lúc quan điểm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có sự khác nhau trong hoạt động áp dụng pháp luật. Do vậy, cần sớm có thêm những văn bản hướng dẫn về các dấu hiệu pháp lý để phân biệt tội giết người với các tội giáp ranh khác nhau như giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác gây ra hậu quả chết người.

Ngoài ra, một số tình tiết như giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và một số tình tiết định khung tăng nặng của tội giết người như: “Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”, tình tiết “có tính chất côn đồ”, “để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác”… mặc dù đã có hướng dẫn, song, để quá trình vận dụng đạt được sự thống nhất thì vẫn cần có sự hướng dẫn cụ thể, rõ ràng hơn.

Bốn là, thường xuyên sơ kết, tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về định tội danh giết người để rút kinh nghiệm, kịp thời phát hiện những thiếu sót, hạn chế và vướng mắc của các quy định pháp luật và xây dựng án lệ về tội giết người.

Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội giết người theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong những năm qua ở nước ta về cơ bản là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm các lợi ích hợp pháp của người phạm tội khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn cá biệt các vụ việc để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm gây ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người. Do đó, cần thiết thường xuyên sơ kết, tổng kết những kết quả đạt được cũng như những vấn đề cần phải sửa đổi để rút kinh nghiệm, từ đó có những hướng dẫn cụ thể trong việc giải quyết các vụ án giết người một cách khách quan, toàn diện; đồng thời, nhằm phát hiện kịp thời những thiếu sót, hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật trong quá trình áp dụng thực tiễn để đề xuất, kiến nghị kịp thời, góp phần sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật chính xác, phù hợp và hiệu quả hơn, tạo căn cứ pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các vụ án giết người được chính xác, có tính thuyết phục cao.

TS. Nguyễn Tiến Nam

ThS. Vũ Thị Hồng Phương

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: