Thứ ba 14/07/2026 17:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về khái niệm “Luật có mối quan hệ mật thiết nhất” trong quan hệ hợp đồng

Xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hợp đồng có tính chất quốc tế (hợp đồng có yếu tố nước ngoài) là một vấn đề pháp lý khá phức tạp không chỉ dưới góc độ pháp lý mà cả trong trong thực tiễn. Một trong những nguyên tắc cơ bản để xác định luật áp dụng đối với hợp đồng được quy định trong Tư pháp quốc tế các nước hiện nay là nguyên tắc “Luật có mối quan hệ mật thiết nhất” với hợp đồng áp dụng trong trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng.

Đây là một nguyên tắc phổ biến trong hệ thống pháp luật các nước và pháp luật quốc tế , nhưng chưa từng được quy định trong pháp luật Việt Nam. Cho đến bản Dự thảo Bộ Luật Dân sự (sửa đổi) để lấy ý kiến nhân dân năm 2015 , tại Phần thứ V về áp dụng pháp luật đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, khoản 1 Điều 702 về hợp đồng, Dự thảo lần đầu tiên đã quy định nguyên tắc này như sau: “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng, pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng”.
Nguyên tắc “luật có mối liên hệ mật thiết nhất” là một hệ thuộc khá đặc thù và trừu tượng trong tư pháp quốc tế, việc giải thích và áp dụng hệ thuộc luật này ở các nước cũng khá phức tạp, đặc biệt tại Việt Nam do chưa được nghiên cứu về lý luận cũng như áp dụng trong thực tiễn. Vì vậy, bài viết này sẽ nghiên cứu tìm hiểu khái niệm luật có mối quan hệ mật thiết nhất theo các quy định của luật pháp quốc tế, trên cơ sở tìm hiểu thực tiễn giải thích và áp dụng hệ thuộc luật này ở các nước nhằm đóng góp kinh nghiệm cho việc giải thích áp dụng quy định này tại Việt Nam trong tương lai.

1. Đặt vấn đề

Dưới góc độ lý luận của Tư pháp quốc tế, việc xác định luật áp dụng điều chỉnh các quan hệ pháp luật có xung đột (các quan hệ có liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau) luôn dựa trên nguyên tắc là áp dụng hệ thống pháp luật có mối liên hệ mật thiết nhất với quan hệ pháp luật đó (most closely). Nguyên tắc này được áp dụng trước hết xuất phát từ chính đặc trưng của Tư pháp quốc tế là ngành luật luôn mang tính khách quan, trung lập trong việc xây dựng các quy phạm chọn luật áp dụng (quy phạm xung đột) điều chỉnh các quan hệ của Tư pháp quốc tế[1].

Đặc biệt, các quan hệ hợp đồng có tính chất quốc tế (còn gọi là hợp đồng có yếu tố nước ngoài) là loại quan hệ khá phức tạp do liên quan đến nhiều bên ở các nước khác nhau. Khác với các hợp đồng nội địa (chỉ chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật trong nước), các hợp đồng có tính chất quốc tế có thể được điều chỉnh bởi hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, không chỉ bao gồm hệ thống pháp luật quốc gia mà cả hệ thống pháp luật quốc tế). Do vậy, trong trường hợp các bên không thỏa thuận, việc xác định luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế được đặt ra.

Để hiểu về khái niệm Luật có mối liên hệ mật thiết nhất trong quan hệ hợp đồng có thể xem xét tình huống Tranh chấp Hợp đồng phân phân phối dầu nhớt nêu dưới đây:

Công ty X (Việt Nam) ký kết một hợp đồng làm đại lý phân phối dầu nhớt với công ty Y (Singapore) là bên phân phối độc quyền. Dầu nhớt được sản xuất tại Italia bởi nhà sản xuất (công ty M). Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bên Việt Nam (công ty X) được phân phối dầu nhớt tại Việt Nam trong thời hạn 3 năm và có trách nhiệm xây dựng hệ thống khách hàng tại Việt Nam.

Tuy nhiên, sau 02 năm, công ty (Y) có hành vi cung ứng các mẫu mã hàng mới (có thay đổi về kiểu dáng vỏ hộp), khiến khách hàng tại thị trường Việt Nam không tiếp tục sử dụng loại sản phẩm mới này gây thiệt hại cho việc kinh doanh của X tại Việt Nam. Giả sử tranh chấp được đưa ra cơ quan tài phán Việt Nam, theo đó bên công ty X (Việt Nam) yêu cầu bên phân phối phải bồi thường thiệt hại.

Trong hợp đồng, các bên cũng không có thỏa thuận vấn đề chọn luật áp dụng giải quyết tranh chấp. Vấn đề pháp lý đặt ra đối với cơ quan tài phán là luật nào sẽ là luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp hợp đồng? Luật nào được coi là luật có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng này?

Như vậy, đối với các hợp đồng có tính chất quốc tế, việc xác định luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng có ý nghĩa hết sức cần thiết bởi đây là cơ sở đảm bảo cho các cam kết, thỏa thuận của các bên được tôn trọng thực hiện, trong trường hợp hợp đồng quy định thiếu, không đầy đủ hoặc không rõ ràng… luật điều chỉnh hợp đồng cũng có ý nghĩa hoàn thiện hợp đồng. Đặc biệt, xác định luật áp dụng đối với hợp đồng có ý nghĩa quan trọng là cơ sở giải quyết các tranh chấp hợp đồng như trong các tình huống trên.

2. Hệ thuộc luật có mối quan hệ mật thiết nhất trong pháp luật và thực tiễn quốc tế

Dưới góc độ của luật pháp quốc tế, mô hình xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hợp đồng là luật có mối liên hệ mật thiết nhất lần đầu xuất hiện tại Công ước Rome năm 1980 về Luật áp dụng đối với quan hệ nghĩa vụ hợp đồng của Hội đồng châu Âu[2] (Công ước Rome năm 1980). Tại Điều 4.1 Công ước Rome năm 1980 quy định về luật áp dụng đối với hợp đồng trong trường hợp các bên không thỏa thuận, theo đó: “Trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng theo Điều 3 của công ước thì hợp đồng được điều chỉnh bởi luật có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng”.

Để xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất, Điều 4 Công ước Rome năm 1980 đã quy định các trường hợp xác định luật áp dụng đối với các hợp đồng cụ thể - các giả định (presumtion) theo đó đối với các hợp đồng cung ứng dịch vụ hoặc hợp đồng mua bán là “luật nơi cư trú của bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng” (khoản 2 Điều 4); đối với hợp đồng sử dụng bất động sản và quyền sở hữu đối với bất động sản “là luật nơi có bất động sản” (khoản 3 Điều 4); đối với hợp đồng vận tải là “luật nơi có trụ sở chính của bên vận chuyển” nếu đó cũng đồng thời là nước nơi bốc, xếp hàng và là nơi có trụ sở của bên giao hàng trong các hợp đồng vận tải (khoản 4 Điều 4). Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 4 lại đưa ra một trường hợp ngoại lệ không áp dụng các khoản 2, 3, 4 Điều 4 nói trên: “Nếu mọi yếu tố xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể cho thấy hợp đồng có mối liên hệ mật thiết với một hệ thống pháp luật khác”.

Thực tiễn áp dụng Công ước Rome năm 1980 đã gây ra nhiều tranh cãi khi Tòa án giải thích khái niệm luật có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng. Có thể xem xét thực tiễn án lệ áp dụng giải thích việc xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất ở các nước trong hai vụ việc sau:

Một là, vụ tranh chấp hợp đồng mua bán

Tranh chấp trong một hợp đồng mua bán hàng hóa được ký giữa một công ty X (Phần Lan) bên bán và công ty Y bên mua tại Pháp. Theo hợp đồng, công ty X mua bảo hiểm cho việc vận chuyển lô hàng của công ty Tapiola (công ty Đức). Tapiola chỉ định công ty Westra (Đức) có trách nhiệm giao hàng cho công ty vận tải (Danzas) của Pháp để giao cho người mua tại Pháp. Tuy nhiên, tranh chấp phát sinh khi lô hàng bị mất. Tapiola phải trả một khoản tiền bảo hiểm trị giá 68.360 USD cho người mua bảo hiểm nên đã khởi kiện 2 công ty Westra và Danzas vì việc mất hàng.

Tranh chấp được giải quyết tại Tòa án Pháp, các bên không có thỏa thuận về chọn luật áp dụng nên thẩm phán tòa Tối cao Pháp đã căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Công ước Rome 1980 quy định rằng: “…hợp đồng được điều chỉnh bởi luật có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng”. Để xác định luật được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng này, thẩm phán đã áp dụng phối hợp khoản 2 Điều 4 và khoản 5 Điều 4 Công ước Rome 1980 để so sánh các yếu tố được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng. Thẩm phán cho rằng, hàng hóa được vận chuyển đến Pháp bởi công ty vận tải (Danzas) của Pháp, việc giao hàng cũng thực hiện tại Pháp, nên áp dụng khoản 5 Điều 4 Công ước Rome năm 1980 và luật được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất là luật của Pháp[3].

Hai là, tranh chấp hợp đồng tư vấn giữa Ennstone Building Products Limited và Stanger Limited (Stanger Limited)

Trong vụ kiện hợp đồng được ký năm 1995, giữa công ty Ennstone Building Products Limited là một công ty của Anh (Nguyên đơn) và công ty Stanger Limited (Bị đơn) - công ty của Anh nhưng có trụ sở tại Scottland, liên quan đến cung ứng đá xây dựng giữa nguyên đơn là bên cung cấp đá cho các công trình xây dựng, bị đơn là bên cung cấp các dịch vụ về kiểm định chất lượng và tư vấn xây dựng.

Tranh chấp phát sinh khi nguyên đơn cung cấp đá cho công trình xây dựng tòa nhà the Standard Life building ở Edinburgh không đạt chất lượng yêu cầu. Tranh chấp được đưa ra Tòa án Anh. Một trong những vấn đề đặt ra với Tòa án là xác định pháp luật áp dụng đối với hợp đồng giữa các bên.

Kết luận cuối cùng thẩm phán đã chấp nhận áp dụng luật Anh là luật có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng, với lập luận rằng:

Hợp đồng có nhiều mối liên hệ với cả luật Scotland và luật của Anh... Mặc dù hợp đồng được soạn thảo, thông qua tại Scottland, nơi thực hiện một phần hợp đồng là nơi thanh toán các khoản phí dịch vụ tại Scotland, nhưng việc tư vấn về chất lượng đá xây dựng và các báo cáo đều được gửi về trụ sở chính của công ty tại Anh nên luật Anh được coi là có mối liên hệ gắn bó[4].

Do vậy luật được coi là có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng phải là luật Anh theo Điều 4, 5 Công ước Rome năm 1980.

Điều 4 của Công ước Rome năm 1980 đã gây nhiều tranh cãi trong lý luận cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp về luật áp dụng đối với hợp đồng trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật. Đặc biệt, quy định này đã gây khó khăn cho việc xác định luật có mối quan hệ gắn bó nhất đối với hợp đồng trong thực tiễn, vì mặc dù Công ước đã đưa ra các giả định xác định luật có mối quan hệ gắn bó trong các loại hợp đồng cụ thể tại khoản 2, 3, 4 nhưng các giả định này sẽ không được áp dụng nếu cơ quan tài phán chứng minh được một hệ thống pháp luật khác được coi là có mối quan hệ mật thiết hơn trong hợp đồng.

Quy định của khoản 5 Điều 4 Công ước Rome năm 1980 đã tạo ra cho thẩm phán một khoảng quyền hạn khá rộng trong việc xét các yếu tố được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất với một hợp đồng cụ thể. Thẩm phán có thể không áp dụng các trường hợp giả định đã quy định đối với các hợp đồng cụ thể như hợp đồng mua bán, hợp đồng vận tải hay hợp đồng liên quan đến bất động sản theo các khoản 2, 3, 4 Điều 4 Công ước.

Như vậy, khái niệm luật nơi hợp đồng được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất trong pháp luật và thực tiễn quốc tế về cơ bản được giải thích là nước nơi thường trú hoặc nơi có trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng[5] vào thời điểm giao kết hợp đồng. Việc xác định nơi thực hiện nghĩa vụ đặc trưng sẽ tùy thuộc vào từng loại hợp đồng cụ thể như hợp đồng mua bán sẽ áp dụng luật của bên bán, hợp đồng phân phối áp dụng luật của bên phân phối, hợp đồng vận tải áp dụng luật của bên vận tải…[6]

Để khắc phục điểm hạn chế của Công ước Rome năm 1980, ngày 17/6/2008 Hội đồng và Nghị viện EU đã ban hành Quy tắc (EC) số 593/2008, còn gọi là Quy tắc Rome I về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng[7] thay thế Công ước Rome năm 1980.

Một trong những điểm thay đổi của Quy tắc Rome I so với Công ước Rome 1980 trước đây là Quy tắc Rome I đã xây dựng các quy định để xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất trong quan hệ hợp đồng rõ ràng, hiệu quả hơn, nâng cao tính chắc chắn, ổn định của quy định này, trên cơ sở xác định lần lượt thứ tự ưu tiên của luật được coi có mối quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng.

Cụ thể, khoản 1 Điều 4 Quy tắc Rome I quy định luật áp dụng đối với hợp đồng trong trường hợp các bên không thỏa thuận thông qua một hệ thống các quy tắc chọn luật áp dụng chặt chẽ và rõ ràng cho 8 loại hợp đồng cụ thể tại với tính chất đây là các hệ thống pháp luật được coi là có mối quan hệ gắn bó nhất[8]. Chỉ trong trường hợp, hợp đồng không thuộc 8 loại hợp đồng quy định tại khoản 1 hoặc trong trường hợp các yếu tố của hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi nhiều hơn một điểm (a) đến (h) của khoản 1 thì luật áp dụng mới được xác định theo khoản 2 Điều 4 dựa trên tiêu chí là luật nước nơi thực hiện nghĩa vụ đặc trưng. Như vậy, nếu đã xác định hợp đồng thuộc khoản 1 thì không được giải thích tùy nghi luật nơi thực hiện nghĩa vụ đặc trưng theo khoản 2 nữa.

Trường hợp rõ ràng từ tất cả các tình tiết của hợp đồng được coi là có quan hệ chặt chẽ hơn với một quốc gia khác theo quy định tại khoản 1 hoặc 2 Điều 4 pháp luật của nước khác đó sẽ được áp dụng.

Tóm lại, quy định của Điều 4 Quy tắc Rome I đã lần lượt xác định thứ tự ưu tiên của các luật được coi là có mối quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng, Quy tắc Rome I đã loại trừ điều khoản cho phép xác định tùy nghi luật có mối liên hệ mật thiết nhất[9] như mô hình của Công ước Rome 1980 trước đây.

3. Kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tiếp thu kinh nghiệm của pháp luật quốc tế, trong Dự thảo Bộ Luật Dân sự (sửa đổi) quy định về hợp đồng tại Điều 702, theo đó khoản 1 chỉ rõ: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng, pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng”. Cách quy định này có thể gây lúng túng cơ quan tài phán ngay khi phải xác định luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng khi đưa vị trí ưu tiên áp dụng luật có mối liên hệ mật thiết nhất lên khoản 1, vì quy định này đã đưa một nguyên tắc trừu tượng, chưa có tiền lệ tại Việt Nam. Do đó, cơ quan tài phán có thể bỏ qua khoản 1 và dựa vào khoản 2 Điều 702 Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) để tìm cách giải thích về luật được coi là có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lần lượt trong 5 loại hợp đồng cụ thể là:

- Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa là pháp luật của bên bán;

- Đối với hợp đồng dịch vụ là pháp luật của bên cung cấp dịch vụ;

- Đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ là pháp luật của bên nhận quyền;

- Đối với hợp đồng lao động là pháp luật nước nơi thực hiện công việc hoặc luật nước nơi người sử dụng lao động thường trú;

- Đối với hợp đồng tiêu dùng là pháp luật nước nơi người tiêu dùng thường trú;

Tuy nhiên, khoản 3 Điều 702 Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) lại quy định các trường hợp loại trừ không áp dụng khoản 2 trên đây trong 3 trường hợp sau:

Thứ nhất, trường hợp một hợp đồng thuộc nhiều loại được nêu từ điểm a đến điểm đ khoản 2 Điều này dẫn đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau có thể được áp dụng. Ví dụ nếu luật của bên bán là nước có nhiều hệ thống có thể được áp dụng như trong vụ việc áp dụng luật Anh hay Scotland nói trên thì lại phải xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất trong hai hệ thống này.

Thứ hai, hợp đồng không thuộc 5 loại hợp đồng nêu tại Khoản 2 thì thẩm phán sẽ chủ động xác định thế nào là luật có mối quan hệ mật thiết nhất trong tình huống cụ thể.

Thứ ba, nếu trong một vụ việc cụ thể, Tòa án chứng minh được pháp luật của nước khác với pháp luật được nêu tại khoản 2 Điều này có mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng đó thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó.

Như vậy, khoản 3 Điều 702 của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đã theo hướng tiếp tục mở rộng thẩm quyền cho cơ quan tài phán trong việc giải thích và áp dụng nguyên tắc “Luật có mối liên hệ mật thiết nhất” theo mô hình của Công ước Rome 1980 hiện đã thay thế bởi Quy tắc Rome I năm 2008 nói trên.

Qua phân tích nội dung quy định của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), có thể trở lại ví dụ tình huống tranh chấp hợp đồng phân phối dầu nhớt của doanh nghiệp Việt Nam nói trên để minh chứng cho việc áp dụng quy định này như sau:

Trong vụ việc này, Tòa án Việt Nam nếu áp dụng khoản 2 Điều 702 thì luật áp dụng trong tranh chấp hợp đồng là luật của bên phân phối (Distributer). Trong tình huống này bên phân phối gồm hai công ty: công ty Y (Singapore) là bên phân phối độc quyền của nhà sản xuất (công ty M), công ty Italia. Trên thực tế, việc sản xuất dầu nhớt là tại Italia, nhưng việc thay đổi mẫu mã, sản phẩm lại được thực hiện bởi Đại lý (nhà phân phối Singapore). Nói cách khác công ty Singapore có hành vi trà trộn sản phẩm không chính hãng vào bán tại thị trường Việt Nam, gây thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam.

Do vậy, Tòa án phải xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng theo Khoản 3 điều 702 Dự thảo mà không phải là khoản 2. Điều này sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải thích Khoản 3 trong tình huống này, trên cơ sở phân tích các yếu tố có mối liên hệ mật thiết nhất. Thực tiễn các nước có thể sử dụng nguồn án lệ để giải thích vấn đề này, tuy nhiên, tại Việt Nam sẽ gặp khó khăn cho cơ quan tài phán trong việc xác định luật áp dụng trong các tình huống cụ thể.

Tóm lại, việc xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất đối với hợp đồng trong thực tiễn sẽ tùy thuộc vào cách áp dụng và giải thích pháp luật của cơ quan tài phán, một mặt quy định của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) sẽ mở rộng thẩm quyền cho thẩm phán nhưng đồng thời cũng gặp những khó khăn. Do vậy, tác giả tiếp tục đề xuất Ban Soạn thảo tiếp tục hoàn thiện quy định này theo hướng như sau:

Thứ nhất, nên sửa đổi cho phù hợp với Quy tắc Rome I, cụ thể rõ ràng hơn, theo thứ tự ưu tiên các luật được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất, theo đó đưa khoản 2 Điều 702 thành khoản 1 Điều này.

Thứ hai, do Việt Nam chưa có nguồn án lệ về vấn đề này, nên Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) bổ sung một số tiêu chí để xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất. Cụ thể, quy định việc xác định luật của nước nơi có quan hệ gắn bó nhất được xác định trên cơ sở đánh giá mối liên hệ giữa toàn bộ các yếu tố của quan hệ cụ thể, bao gồm yếu tố các bên, đối tượng hợp đồng, nơi giao kết, thực hiện nghĩa vụ đặc trưng trong hợp đồng, nơi phát sinh tranh chấp (nơi có hành vi vi phạm hợp đồng) và các yếu tố khác có liên quan.

Việc đánh giá mối liên hệ này phải tính đến sự hài hòa về lợi ích, luật pháp của các nước có liên quan, nhưng cốt lõi là bảo vệ sự công bằng giữa các bên tham gia quan hệ, bảo vệ lợi ích của bên bị thiệt hại (trừ trường hợp do lỗi của bên đó), bảo vệ được lợi ích của bên “yếu hơn” trong hợp đồng. Các yếu tố sự thuận lợi trong việc xác định pháp luật áp dụng và việc áp dụng pháp luật đó cũng có thể tính tới nhưng đóng vai trò thứ yếu.

Thứ ba, cần sớm công nhận các án lệ trọng tài, án lệ quốc tế và khuyến khích công tác nâng cao nghiệp vụ, chất lượng xét xử cho Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Tiếp tục hoàn thiện các luật có liên quan như Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2011, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và các luật chuyên ngành khác, thống nhất về các nguyên tắc xác định luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài.

Bùi Thị Thu

Khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: