Thứ sáu 03/04/2026 13:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về khái niệm “Luật có mối quan hệ mật thiết nhất” trong quan hệ hợp đồng

Xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hợp đồng có tính chất quốc tế (hợp đồng có yếu tố nước ngoài) là một vấn đề pháp lý khá phức tạp không chỉ dưới góc độ pháp lý mà cả trong trong thực tiễn. Một trong những nguyên tắc cơ bản để xác định luật áp dụng đối với hợp đồng được quy định trong Tư pháp quốc tế các nước hiện nay là nguyên tắc “Luật có mối quan hệ mật thiết nhất” với hợp đồng áp dụng trong trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng.

Đây là một nguyên tắc phổ biến trong hệ thống pháp luật các nước và pháp luật quốc tế , nhưng chưa từng được quy định trong pháp luật Việt Nam. Cho đến bản Dự thảo Bộ Luật Dân sự (sửa đổi) để lấy ý kiến nhân dân năm 2015 , tại Phần thứ V về áp dụng pháp luật đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, khoản 1 Điều 702 về hợp đồng, Dự thảo lần đầu tiên đã quy định nguyên tắc này như sau: “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng, pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng”.
Nguyên tắc “luật có mối liên hệ mật thiết nhất” là một hệ thuộc khá đặc thù và trừu tượng trong tư pháp quốc tế, việc giải thích và áp dụng hệ thuộc luật này ở các nước cũng khá phức tạp, đặc biệt tại Việt Nam do chưa được nghiên cứu về lý luận cũng như áp dụng trong thực tiễn. Vì vậy, bài viết này sẽ nghiên cứu tìm hiểu khái niệm luật có mối quan hệ mật thiết nhất theo các quy định của luật pháp quốc tế, trên cơ sở tìm hiểu thực tiễn giải thích và áp dụng hệ thuộc luật này ở các nước nhằm đóng góp kinh nghiệm cho việc giải thích áp dụng quy định này tại Việt Nam trong tương lai.

1. Đặt vấn đề

Dưới góc độ lý luận của Tư pháp quốc tế, việc xác định luật áp dụng điều chỉnh các quan hệ pháp luật có xung đột (các quan hệ có liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau) luôn dựa trên nguyên tắc là áp dụng hệ thống pháp luật có mối liên hệ mật thiết nhất với quan hệ pháp luật đó (most closely). Nguyên tắc này được áp dụng trước hết xuất phát từ chính đặc trưng của Tư pháp quốc tế là ngành luật luôn mang tính khách quan, trung lập trong việc xây dựng các quy phạm chọn luật áp dụng (quy phạm xung đột) điều chỉnh các quan hệ của Tư pháp quốc tế[1].

Đặc biệt, các quan hệ hợp đồng có tính chất quốc tế (còn gọi là hợp đồng có yếu tố nước ngoài) là loại quan hệ khá phức tạp do liên quan đến nhiều bên ở các nước khác nhau. Khác với các hợp đồng nội địa (chỉ chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật trong nước), các hợp đồng có tính chất quốc tế có thể được điều chỉnh bởi hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, không chỉ bao gồm hệ thống pháp luật quốc gia mà cả hệ thống pháp luật quốc tế). Do vậy, trong trường hợp các bên không thỏa thuận, việc xác định luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế được đặt ra.

Để hiểu về khái niệm Luật có mối liên hệ mật thiết nhất trong quan hệ hợp đồng có thể xem xét tình huống Tranh chấp Hợp đồng phân phân phối dầu nhớt nêu dưới đây:

Công ty X (Việt Nam) ký kết một hợp đồng làm đại lý phân phối dầu nhớt với công ty Y (Singapore) là bên phân phối độc quyền. Dầu nhớt được sản xuất tại Italia bởi nhà sản xuất (công ty M). Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bên Việt Nam (công ty X) được phân phối dầu nhớt tại Việt Nam trong thời hạn 3 năm và có trách nhiệm xây dựng hệ thống khách hàng tại Việt Nam.

Tuy nhiên, sau 02 năm, công ty (Y) có hành vi cung ứng các mẫu mã hàng mới (có thay đổi về kiểu dáng vỏ hộp), khiến khách hàng tại thị trường Việt Nam không tiếp tục sử dụng loại sản phẩm mới này gây thiệt hại cho việc kinh doanh của X tại Việt Nam. Giả sử tranh chấp được đưa ra cơ quan tài phán Việt Nam, theo đó bên công ty X (Việt Nam) yêu cầu bên phân phối phải bồi thường thiệt hại.

Trong hợp đồng, các bên cũng không có thỏa thuận vấn đề chọn luật áp dụng giải quyết tranh chấp. Vấn đề pháp lý đặt ra đối với cơ quan tài phán là luật nào sẽ là luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp hợp đồng? Luật nào được coi là luật có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng này?

Như vậy, đối với các hợp đồng có tính chất quốc tế, việc xác định luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng có ý nghĩa hết sức cần thiết bởi đây là cơ sở đảm bảo cho các cam kết, thỏa thuận của các bên được tôn trọng thực hiện, trong trường hợp hợp đồng quy định thiếu, không đầy đủ hoặc không rõ ràng… luật điều chỉnh hợp đồng cũng có ý nghĩa hoàn thiện hợp đồng. Đặc biệt, xác định luật áp dụng đối với hợp đồng có ý nghĩa quan trọng là cơ sở giải quyết các tranh chấp hợp đồng như trong các tình huống trên.

2. Hệ thuộc luật có mối quan hệ mật thiết nhất trong pháp luật và thực tiễn quốc tế

Dưới góc độ của luật pháp quốc tế, mô hình xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hợp đồng là luật có mối liên hệ mật thiết nhất lần đầu xuất hiện tại Công ước Rome năm 1980 về Luật áp dụng đối với quan hệ nghĩa vụ hợp đồng của Hội đồng châu Âu[2] (Công ước Rome năm 1980). Tại Điều 4.1 Công ước Rome năm 1980 quy định về luật áp dụng đối với hợp đồng trong trường hợp các bên không thỏa thuận, theo đó: “Trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng theo Điều 3 của công ước thì hợp đồng được điều chỉnh bởi luật có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng”.

Để xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất, Điều 4 Công ước Rome năm 1980 đã quy định các trường hợp xác định luật áp dụng đối với các hợp đồng cụ thể - các giả định (presumtion) theo đó đối với các hợp đồng cung ứng dịch vụ hoặc hợp đồng mua bán là “luật nơi cư trú của bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng” (khoản 2 Điều 4); đối với hợp đồng sử dụng bất động sản và quyền sở hữu đối với bất động sản “là luật nơi có bất động sản” (khoản 3 Điều 4); đối với hợp đồng vận tải là “luật nơi có trụ sở chính của bên vận chuyển” nếu đó cũng đồng thời là nước nơi bốc, xếp hàng và là nơi có trụ sở của bên giao hàng trong các hợp đồng vận tải (khoản 4 Điều 4). Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 4 lại đưa ra một trường hợp ngoại lệ không áp dụng các khoản 2, 3, 4 Điều 4 nói trên: “Nếu mọi yếu tố xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể cho thấy hợp đồng có mối liên hệ mật thiết với một hệ thống pháp luật khác”.

Thực tiễn áp dụng Công ước Rome năm 1980 đã gây ra nhiều tranh cãi khi Tòa án giải thích khái niệm luật có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng. Có thể xem xét thực tiễn án lệ áp dụng giải thích việc xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất ở các nước trong hai vụ việc sau:

Một là, vụ tranh chấp hợp đồng mua bán

Tranh chấp trong một hợp đồng mua bán hàng hóa được ký giữa một công ty X (Phần Lan) bên bán và công ty Y bên mua tại Pháp. Theo hợp đồng, công ty X mua bảo hiểm cho việc vận chuyển lô hàng của công ty Tapiola (công ty Đức). Tapiola chỉ định công ty Westra (Đức) có trách nhiệm giao hàng cho công ty vận tải (Danzas) của Pháp để giao cho người mua tại Pháp. Tuy nhiên, tranh chấp phát sinh khi lô hàng bị mất. Tapiola phải trả một khoản tiền bảo hiểm trị giá 68.360 USD cho người mua bảo hiểm nên đã khởi kiện 2 công ty Westra và Danzas vì việc mất hàng.

Tranh chấp được giải quyết tại Tòa án Pháp, các bên không có thỏa thuận về chọn luật áp dụng nên thẩm phán tòa Tối cao Pháp đã căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Công ước Rome 1980 quy định rằng: “…hợp đồng được điều chỉnh bởi luật có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng”. Để xác định luật được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng này, thẩm phán đã áp dụng phối hợp khoản 2 Điều 4 và khoản 5 Điều 4 Công ước Rome 1980 để so sánh các yếu tố được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng. Thẩm phán cho rằng, hàng hóa được vận chuyển đến Pháp bởi công ty vận tải (Danzas) của Pháp, việc giao hàng cũng thực hiện tại Pháp, nên áp dụng khoản 5 Điều 4 Công ước Rome năm 1980 và luật được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất là luật của Pháp[3].

Hai là, tranh chấp hợp đồng tư vấn giữa Ennstone Building Products Limited và Stanger Limited (Stanger Limited)

Trong vụ kiện hợp đồng được ký năm 1995, giữa công ty Ennstone Building Products Limited là một công ty của Anh (Nguyên đơn) và công ty Stanger Limited (Bị đơn) - công ty của Anh nhưng có trụ sở tại Scottland, liên quan đến cung ứng đá xây dựng giữa nguyên đơn là bên cung cấp đá cho các công trình xây dựng, bị đơn là bên cung cấp các dịch vụ về kiểm định chất lượng và tư vấn xây dựng.

Tranh chấp phát sinh khi nguyên đơn cung cấp đá cho công trình xây dựng tòa nhà the Standard Life building ở Edinburgh không đạt chất lượng yêu cầu. Tranh chấp được đưa ra Tòa án Anh. Một trong những vấn đề đặt ra với Tòa án là xác định pháp luật áp dụng đối với hợp đồng giữa các bên.

Kết luận cuối cùng thẩm phán đã chấp nhận áp dụng luật Anh là luật có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng, với lập luận rằng:

Hợp đồng có nhiều mối liên hệ với cả luật Scotland và luật của Anh... Mặc dù hợp đồng được soạn thảo, thông qua tại Scottland, nơi thực hiện một phần hợp đồng là nơi thanh toán các khoản phí dịch vụ tại Scotland, nhưng việc tư vấn về chất lượng đá xây dựng và các báo cáo đều được gửi về trụ sở chính của công ty tại Anh nên luật Anh được coi là có mối liên hệ gắn bó[4].

Do vậy luật được coi là có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng phải là luật Anh theo Điều 4, 5 Công ước Rome năm 1980.

Điều 4 của Công ước Rome năm 1980 đã gây nhiều tranh cãi trong lý luận cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp về luật áp dụng đối với hợp đồng trong trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật. Đặc biệt, quy định này đã gây khó khăn cho việc xác định luật có mối quan hệ gắn bó nhất đối với hợp đồng trong thực tiễn, vì mặc dù Công ước đã đưa ra các giả định xác định luật có mối quan hệ gắn bó trong các loại hợp đồng cụ thể tại khoản 2, 3, 4 nhưng các giả định này sẽ không được áp dụng nếu cơ quan tài phán chứng minh được một hệ thống pháp luật khác được coi là có mối quan hệ mật thiết hơn trong hợp đồng.

Quy định của khoản 5 Điều 4 Công ước Rome năm 1980 đã tạo ra cho thẩm phán một khoảng quyền hạn khá rộng trong việc xét các yếu tố được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất với một hợp đồng cụ thể. Thẩm phán có thể không áp dụng các trường hợp giả định đã quy định đối với các hợp đồng cụ thể như hợp đồng mua bán, hợp đồng vận tải hay hợp đồng liên quan đến bất động sản theo các khoản 2, 3, 4 Điều 4 Công ước.

Như vậy, khái niệm luật nơi hợp đồng được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất trong pháp luật và thực tiễn quốc tế về cơ bản được giải thích là nước nơi thường trú hoặc nơi có trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc trưng[5] vào thời điểm giao kết hợp đồng. Việc xác định nơi thực hiện nghĩa vụ đặc trưng sẽ tùy thuộc vào từng loại hợp đồng cụ thể như hợp đồng mua bán sẽ áp dụng luật của bên bán, hợp đồng phân phối áp dụng luật của bên phân phối, hợp đồng vận tải áp dụng luật của bên vận tải…[6]

Để khắc phục điểm hạn chế của Công ước Rome năm 1980, ngày 17/6/2008 Hội đồng và Nghị viện EU đã ban hành Quy tắc (EC) số 593/2008, còn gọi là Quy tắc Rome I về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng[7] thay thế Công ước Rome năm 1980.

Một trong những điểm thay đổi của Quy tắc Rome I so với Công ước Rome 1980 trước đây là Quy tắc Rome I đã xây dựng các quy định để xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất trong quan hệ hợp đồng rõ ràng, hiệu quả hơn, nâng cao tính chắc chắn, ổn định của quy định này, trên cơ sở xác định lần lượt thứ tự ưu tiên của luật được coi có mối quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng.

Cụ thể, khoản 1 Điều 4 Quy tắc Rome I quy định luật áp dụng đối với hợp đồng trong trường hợp các bên không thỏa thuận thông qua một hệ thống các quy tắc chọn luật áp dụng chặt chẽ và rõ ràng cho 8 loại hợp đồng cụ thể tại với tính chất đây là các hệ thống pháp luật được coi là có mối quan hệ gắn bó nhất[8]. Chỉ trong trường hợp, hợp đồng không thuộc 8 loại hợp đồng quy định tại khoản 1 hoặc trong trường hợp các yếu tố của hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi nhiều hơn một điểm (a) đến (h) của khoản 1 thì luật áp dụng mới được xác định theo khoản 2 Điều 4 dựa trên tiêu chí là luật nước nơi thực hiện nghĩa vụ đặc trưng. Như vậy, nếu đã xác định hợp đồng thuộc khoản 1 thì không được giải thích tùy nghi luật nơi thực hiện nghĩa vụ đặc trưng theo khoản 2 nữa.

Trường hợp rõ ràng từ tất cả các tình tiết của hợp đồng được coi là có quan hệ chặt chẽ hơn với một quốc gia khác theo quy định tại khoản 1 hoặc 2 Điều 4 pháp luật của nước khác đó sẽ được áp dụng.

Tóm lại, quy định của Điều 4 Quy tắc Rome I đã lần lượt xác định thứ tự ưu tiên của các luật được coi là có mối quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng, Quy tắc Rome I đã loại trừ điều khoản cho phép xác định tùy nghi luật có mối liên hệ mật thiết nhất[9] như mô hình của Công ước Rome 1980 trước đây.

3. Kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tiếp thu kinh nghiệm của pháp luật quốc tế, trong Dự thảo Bộ Luật Dân sự (sửa đổi) quy định về hợp đồng tại Điều 702, theo đó khoản 1 chỉ rõ: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng, pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng”. Cách quy định này có thể gây lúng túng cơ quan tài phán ngay khi phải xác định luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng khi đưa vị trí ưu tiên áp dụng luật có mối liên hệ mật thiết nhất lên khoản 1, vì quy định này đã đưa một nguyên tắc trừu tượng, chưa có tiền lệ tại Việt Nam. Do đó, cơ quan tài phán có thể bỏ qua khoản 1 và dựa vào khoản 2 Điều 702 Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) để tìm cách giải thích về luật được coi là có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lần lượt trong 5 loại hợp đồng cụ thể là:

- Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa là pháp luật của bên bán;

- Đối với hợp đồng dịch vụ là pháp luật của bên cung cấp dịch vụ;

- Đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ là pháp luật của bên nhận quyền;

- Đối với hợp đồng lao động là pháp luật nước nơi thực hiện công việc hoặc luật nước nơi người sử dụng lao động thường trú;

- Đối với hợp đồng tiêu dùng là pháp luật nước nơi người tiêu dùng thường trú;

Tuy nhiên, khoản 3 Điều 702 Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) lại quy định các trường hợp loại trừ không áp dụng khoản 2 trên đây trong 3 trường hợp sau:

Thứ nhất, trường hợp một hợp đồng thuộc nhiều loại được nêu từ điểm a đến điểm đ khoản 2 Điều này dẫn đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau có thể được áp dụng. Ví dụ nếu luật của bên bán là nước có nhiều hệ thống có thể được áp dụng như trong vụ việc áp dụng luật Anh hay Scotland nói trên thì lại phải xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất trong hai hệ thống này.

Thứ hai, hợp đồng không thuộc 5 loại hợp đồng nêu tại Khoản 2 thì thẩm phán sẽ chủ động xác định thế nào là luật có mối quan hệ mật thiết nhất trong tình huống cụ thể.

Thứ ba, nếu trong một vụ việc cụ thể, Tòa án chứng minh được pháp luật của nước khác với pháp luật được nêu tại khoản 2 Điều này có mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng đó thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó.

Như vậy, khoản 3 Điều 702 của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đã theo hướng tiếp tục mở rộng thẩm quyền cho cơ quan tài phán trong việc giải thích và áp dụng nguyên tắc “Luật có mối liên hệ mật thiết nhất” theo mô hình của Công ước Rome 1980 hiện đã thay thế bởi Quy tắc Rome I năm 2008 nói trên.

Qua phân tích nội dung quy định của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), có thể trở lại ví dụ tình huống tranh chấp hợp đồng phân phối dầu nhớt của doanh nghiệp Việt Nam nói trên để minh chứng cho việc áp dụng quy định này như sau:

Trong vụ việc này, Tòa án Việt Nam nếu áp dụng khoản 2 Điều 702 thì luật áp dụng trong tranh chấp hợp đồng là luật của bên phân phối (Distributer). Trong tình huống này bên phân phối gồm hai công ty: công ty Y (Singapore) là bên phân phối độc quyền của nhà sản xuất (công ty M), công ty Italia. Trên thực tế, việc sản xuất dầu nhớt là tại Italia, nhưng việc thay đổi mẫu mã, sản phẩm lại được thực hiện bởi Đại lý (nhà phân phối Singapore). Nói cách khác công ty Singapore có hành vi trà trộn sản phẩm không chính hãng vào bán tại thị trường Việt Nam, gây thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam.

Do vậy, Tòa án phải xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng theo Khoản 3 điều 702 Dự thảo mà không phải là khoản 2. Điều này sẽ gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải thích Khoản 3 trong tình huống này, trên cơ sở phân tích các yếu tố có mối liên hệ mật thiết nhất. Thực tiễn các nước có thể sử dụng nguồn án lệ để giải thích vấn đề này, tuy nhiên, tại Việt Nam sẽ gặp khó khăn cho cơ quan tài phán trong việc xác định luật áp dụng trong các tình huống cụ thể.

Tóm lại, việc xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất đối với hợp đồng trong thực tiễn sẽ tùy thuộc vào cách áp dụng và giải thích pháp luật của cơ quan tài phán, một mặt quy định của Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) sẽ mở rộng thẩm quyền cho thẩm phán nhưng đồng thời cũng gặp những khó khăn. Do vậy, tác giả tiếp tục đề xuất Ban Soạn thảo tiếp tục hoàn thiện quy định này theo hướng như sau:

Thứ nhất, nên sửa đổi cho phù hợp với Quy tắc Rome I, cụ thể rõ ràng hơn, theo thứ tự ưu tiên các luật được coi là có mối liên hệ mật thiết nhất, theo đó đưa khoản 2 Điều 702 thành khoản 1 Điều này.

Thứ hai, do Việt Nam chưa có nguồn án lệ về vấn đề này, nên Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) bổ sung một số tiêu chí để xác định luật có mối liên hệ mật thiết nhất. Cụ thể, quy định việc xác định luật của nước nơi có quan hệ gắn bó nhất được xác định trên cơ sở đánh giá mối liên hệ giữa toàn bộ các yếu tố của quan hệ cụ thể, bao gồm yếu tố các bên, đối tượng hợp đồng, nơi giao kết, thực hiện nghĩa vụ đặc trưng trong hợp đồng, nơi phát sinh tranh chấp (nơi có hành vi vi phạm hợp đồng) và các yếu tố khác có liên quan.

Việc đánh giá mối liên hệ này phải tính đến sự hài hòa về lợi ích, luật pháp của các nước có liên quan, nhưng cốt lõi là bảo vệ sự công bằng giữa các bên tham gia quan hệ, bảo vệ lợi ích của bên bị thiệt hại (trừ trường hợp do lỗi của bên đó), bảo vệ được lợi ích của bên “yếu hơn” trong hợp đồng. Các yếu tố sự thuận lợi trong việc xác định pháp luật áp dụng và việc áp dụng pháp luật đó cũng có thể tính tới nhưng đóng vai trò thứ yếu.

Thứ ba, cần sớm công nhận các án lệ trọng tài, án lệ quốc tế và khuyến khích công tác nâng cao nghiệp vụ, chất lượng xét xử cho Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Tiếp tục hoàn thiện các luật có liên quan như Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2011, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và các luật chuyên ngành khác, thống nhất về các nguyên tắc xác định luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài.

Bùi Thị Thu

Khoa Pháp luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.

Theo dõi chúng tôi trên: