Thứ bảy 24/10/2026 20:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử

Ngoài ra, tại Điều 13 của Bộ luật Tố tụng hình sự về trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự cũng cần sửa đổi theo hướng không quy định thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án như phân tích nêu trên.

Quá trình giải quyết một vụ án hình sự là một quá trình đòi hỏi các yêu cầu khắt khe về thủ tục tố tụng, không giống như giải quyết một vụ việc dân sự, kinh tế, lao động hay hành chính. Quá trình này có sự tham gia của nhiều cơ quan và người tiến hành tố tụng khác nhau, nên thẩm quyền của các chủ thể này cũng khác nhau từ lúc khởi tố vụ án cho đến giai đoạn xét xử vụ án. Quá trình này được tiến hành thông qua các giai đoạn tố tụng như sau: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử vụ án hình sự. Có thể nói, giai đoạn đầu tiên cũng là giai đoạn rất quan trọng của vụ án chính là giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, “với tính chất là một giai đoạn độc lập và đầu tiên của tố tụng hình sự, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung (vật chất) và pháp luật về hình thức (tố tụng) của việc điều tra vụ án hình sự”(1). Giai đoạn này nhằm làm cơ sở cho việc xác định một người nào đó có hành vi phạm tội (hành vi nguy hiểm cho xã hội) hay không.

1. Thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án

Tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự quy định: “Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định”. Tiếp theo, khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra”.

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, chủ thể có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự khá rộng, gồm: Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Tòa án thông qua Hội đồng xét xử. Với ý nghĩa đấu tranh phòng, chống và kịp thời phát hiện tội phạm, việc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định như vậy là nhằm tránh bỏ sót tội phạm. Khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiến hành hoạt động điều tra, truy tố không phát hiện được tội phạm, thì đến giai đoạn xét xử tại Tòa án, thông qua việc xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phát hiện được “tội phạm mới” hoặc “người phạm tội mới” sẽ có thẩm quyền khởi tố vụ án.

2. Những bất cập về thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án

Theo quy định tại Điều 137 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), thì thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân được quy định cụ thể: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”, bên cạnh đó, tại Điều 134 Hiến pháp năm 1992 cũng quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án: “Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Những quy định trên của Hiến pháp năm 1992, được cụ thể hóa ở Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.

Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân bao gồm thực hành quyền công tố và kiểm sát. Quyền khởi tố vụ án hình sự cũng là một nội dung của thực hành quyền công cố được liệt kê một cách rõ ràng tại Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, cụ thể tại khoản 1 Điều 13, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: “Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can”(2).

Như vậy, quyền hạn và chức năng của Viện kiểm sát nhân dân có sự tách bạch hoàn toàn với quyền hạn và chức năng của Tòa án. Với nhiệm vụ duy nhất được ghi nhận của Tòa án nhân dân trong Hiến pháp năm 1992 chính là nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong quá trình xét xử, các chức năng khác như: Khởi tố, điều tra, truy tố không phải chức năng của Tòa án. Các chức năng này được giao cho các cơ quan như Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra… Việc quy định như vậy, đảm bảo cho Tòa án có điều kiện tốt nhất để thi hành nhiệm vụ của mình, tập trung xét xử dựa trên những chứng cứ hợp pháp, thông qua hoạt động xét xử vụ án nhằm đưa ra kết luận ai là người có tội hay không có tội và ai là người phải chịu hình phạt hay không phải chịu hình phạt... Bên cạnh đó, quy định này cũng đảm bảo nguyên tắc: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”(3), đây là nguyên tắc cốt lõi của nền tư pháp hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Với quy định nêu trên của Hiến pháp năm 1992, thì thẩm quyền của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân đã được phân biệt rạch ròi. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền của Hội đồng xét xử (Tòa án) trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa, nếu phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần điều tra, thì Hội đồng xét xử có những sự lựa chọn: (1) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; hoặc (2) Đề nghị Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.

Ngoài Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự nêu trên, nếu trong quá trình xét xử tại phiên tòa, khi có một trong các căn cứ được quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung(4).

Khi đánh giá và phân tích về thẩm quyền khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử tại Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự, rất có thể việc khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử là có căn cứ, bị can sau này trở thành bị cáo và phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu có khách quan hay không và sẽ tác động thế nào đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can (có thể sau này là bị cáo) khi chủ thể khởi tố vụ án cũng chính là chủ thể có thẩm quyền xét xử vụ án đó? Yếu tố khách quan trong một vụ án hình sự là vô cùng quan trọng. Khách quan ở đây có nghĩa là một chủ thể đứng bên ngoài vụ việc, xem xét lời buộc tội, gỡ tội của các bên liên quan dựa trên những chứng cứ hợp pháp thì ai đúng, ai sai, ai là người vô tội cần được trả tự do… Yếu tố khách quan đó cần được đảm bảo trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, thực hành quyền xét xử cần dựa trên những đối đáp, lập luận có căn cứ pháp lý, có chứng cứ hợp pháp... thể hiện sự độc lập, sự vô tư, khách quan của mình. Tuy nhiên, với quy định tại Điều 13 và Điều 104 của Bộ luật tố Tụng hình sự, Hội đồng xét xử thay mặt cho Tòa án tham gia vào hai giai đoạn: (1) Giai đoạn khởi tố vụ án và (2) Giai đoạn xét xử. Quy định như vậy khiến cho yếu tố khách quan của vụ án không được đảm bảo.

2.1. Xét về mặt lý luận

Khi phân tích trách nhiệm và quyền hạn của Tòa án và Viện kiểm sát, có thể nhận thấy “thực hành quyền công tố”(5) (bao gồm quyền khởi tố vụ án) là chức năng của Viện kiểm sát được quy định trong Hiến pháp. Hiến pháp không quy định cho Tòa án có quyền “thực hành quyền công tố”. Như vậy, việc quy định cho Tòa án cũng có thẩm quyền khởi tố vụ án tại Điều 13 và Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự là không phù hợp với Hiến pháp trong việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án và Viện kiểm sát, cũng như quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 về “bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật”. Hiến pháp năm 1992 quy định chỉ có Viện kiểm sát mới là chủ thể thực hành quyền công tố, còn chức năng của Tòa án chỉ duy nhất là xét xử, nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự lại quy định rằng Tòa án cũng có quyền khởi tố vụ án thông qua Hội đồng xét xử là không phù hợp với Hiến pháp.

2.2. Xét về mặt thực tiễn

Thực tiễn quá trình áp dụng các quy định tại Điều 13 và Điều 104 của Bộ luật Tố tụng hình sự gặp phải những vướng mắc sau đây:

Thứ nhất, Hội đồng xét xử không phải là cơ quan điều tra và cũng không có thẩm quyền điều tra nên trên thực tế, thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án mà cụ thể là Hội đồng xét xử không khả thi vì việc quan trọng trước giai đoạn khởi tố chính là giai đoạn điều tra ban đầu. ở giai đoạn này, các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền điều tra căn cứ vào tin tố giác tội phạm, phạm tội quả tang... tiến hành các công việc chuyên môn, nghiệp vụ nhằm thu thập chứng cứ làm căn cứ khởi tố vụ án, trong khi đó Tòa án không có chức năng và những công cụ này. Ngoài ra, nếu chỉ dựa vào việc xét xử tại phiên tòa qua phần xét hỏi, phần tranh tụng thì chưa đủ căn cứ để khẳng định chắc chắn là có “tội phạm mới” hoặc “người phạm tội mới”. Tòa án (cụ thể là Hội đồng xét xử) không có quyền và điều kiện để điều tra, xác minh thêm những vấn đề tình nghi - ngoại trừ việc xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa.

Thứ hai, để có đủ căn cứ khi ra quyết định khởi tố vụ án, thời gian điều tra, xác minh tội phạm là khá dài so với việc xét xử tại phiên tòa(6). Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra có thể triển khai các hoạt động nghiệp vụ mà Tòa án không thể có để xác định tội phạm. Ngoài ra, khi xét xử có nhiều trường hợp tại phiên tòa bị cáo khai lung tung nhằm làm khó hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử, nhằm đổ tội cho người khác hay có hành vi khai không trung thực để nhận tội thay người khác…

Thứ ba, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm (tin tố giác, tin báo về tội phạm, kiểm tra, xác minh nguồn tin…), cơ quan điều tra có thời hạn từ 20 ngày đến 2 tháng (sự việc có tình tiết phức tạp) để chuẩn bị và triển khai nghiệp vụ, nhưng luật không quy định Hội đồng xét xử có bao nhiêu thời gian chuẩn bị, xác minh những vấn đề cần thiết để chứng minh cho nhận định của mình. Luật chỉ đơn giản quy định: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra” hoặc “quyết định yêu cầu điều tra bổ sung”. Như vậy, rõ ràng là tính chủ động của Hội đồng xét xử không được đảm bảo.

Với những luận cứ nêu trên, có thể đi đến một số nhận định: (1) Hội đồng xét xử không có giai đoạn điều tra ban đầu một cách kỹ càng, chỉ thông qua xét hỏi với thời lượng ngắn; (2) Những câu trả lời, tranh tụng tại phiên tòa chưa đủ căn cứ để chứng minh kết luận của Hội đồng xét xử là đúng hay sai, sẽ dẫn tính khách quan của vụ án không được đảm bảo; (3) Hội đồng xét xử ở vào tình huống bị động và suy cho cùng đây là điều luật khó áp dụng trên thực tế. Khi có căn cứ quy định tại Điều 104 hoặc Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo tính khách quan, chính xác của vụ án, Hội đồng xét xử có thể lựa chọn phương án khác đó là ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung gửi cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung.

3. Hướng đề xuất

Điều 13 và Điều 104 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thẩm quyền khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử xét về mặt lý luận và thực tiễn là không phù hợp với Hiến pháp năm 1992 và không khả thi trên thực tế. Sau khi xem xét những khía cạnh pháp lý của vấn đề, chúng tôi kiến nghị cần phải sửa đổi quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, cụ thể:

Đối với quy định tại khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Tố tụng hình sự về quyết định khởi tố vụ án hình sự cần sửa đổi cho phù hợp như sau: “Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra, nếu Viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì Hội đồng xét xử có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án đó theo quy định tại Chương XXXV của Bộ luật này khi có căn cứ cho rằng quyết định không khởi tố vụ án của Viện kiểm sát là trái pháp luật”.

Ngoài ra, tại Điều 13 của Bộ luật Tố tụng hình sự về trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự cũng cần sửa đổi theo hướng không quy định thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án như phân tích nêu trên.

4. Kết luận

Từ những luận cứ nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung Điều 13 và Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 là cần thiết và là nhiệm vụ cấp bách. Nếu Hội đồng xét xử vừa là chủ thể khởi tố, vừa là người xét xử vụ án sẽ không đảm bảo tính khách quan cũng như không đảm bảo tính chủ động của Hội đồng xét xử, chưa tối ưu hóa nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự chính là “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân”. Thông qua việc sửa đổi, bổ sung sẽ đảm bảo hiệu lực pháp lý của Hiến pháp và trật tự của văn bản quy phạm pháp luật

Tài liệu tham khảo:

(1). GS - TSKH Lê Cảm, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội. Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng, Tạp chí Luật học, số 02/2004.

(2). Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.

(3). Điều 130 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001).

(4). Khoản 2 Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

(5). Theo quy định tại Điều 13 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.

(6). Theo quy định tại khoản 2 Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: “Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng”.

Nguyễn Văn Vinh

Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư là yêu cầu cấp thiết, nhất là ngay từ khâu kiểm soát đầu vào đóng vai trò then chốt. Bằng phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và cơ sở khoa học, chỉ ra những bất cập của cơ chế kiểm tra tập sự phân mảnh hiện hành. Đồng thời, so sánh kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thành văn (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức) cho thấy, vai trò chủ trì của cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát tiêu chuẩn đầu vào phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể chế, mô hình thực hiện và định hướng vận hành nhằm bảo đảm tính khả thi, minh bạch và hiệu quả.
Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).

Theo dõi chúng tôi trên: