Chủ nhật 12/07/2026 03:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về ủy quyền ban hành quyết định hành chính

Quyết định hành chính (QĐHC) là văn bản áp dụng pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhân danh quyền lực công. QĐHC phải tuân thủ pháp luật, đường lối. chính sách chung của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, thực tiễn quản lý nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể.

Hoạt động ủy quyền ban hành quyết định hành chính đóng vai trò hết sức quan trọng trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cho đến nay, trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách đầy đủ và thống nhất về vấn đề ủy quyền, dẫn đến việc ủy quyền diễn ra một cách tùy tiện, không rõ giới hạn, không rõ trách nhiệm của từng cấp, cơ quan, chủ thể. Bài viết bàn về một số quy định pháp luật hiện hành về ủy quyền và ủy quyền trong ban hành quyết định hành chính ở nước ta hiện nay như: Chế định ủy quyền theo pháp luật dân sự; ủy quyền trong xử phạt vi phạm hành chính; ủy quyền trong lĩnh vực quản lý đất đai, đồng thời tác giả cũng đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định về ủy quyền ban hành quyết định hành chính trong Dự thảo Luật Ban hành quyết định hành chính.

Hoạt động ủy quyền ban hành quyết định hành chính đóng vai trò hết sức quan trọng trong quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cho đến nay, trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách đầy đủ và thống nhất về vấn đề ủy quyền, dẫn đến việc ủy quyền diễn ra một cách tùy tiện, không rõ giới hạn, không rõ trách nhiệm của từng cấp, cơ quan, chủ thể. Vì thế, đã đến lúc chúng ta cần có cách nhìn nghiêm túc và cấp thiết hơn về vấn đề xây dựng chế định ủy quyền trong ban hành quyết định hành chính.

1. Một số quy định pháp luật về ủy quyền và ủy quyền trong ban hành quyết định hành chính ở nước ta hiện nay

1.1. Chế định ủy quyền theo pháp luật dân sự

Theo quy định của pháp luật dân sự, việc ủy quyền được xác lập thông qua hợp đồng ủy quyền, theo đó, đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo ủy quyền. Như vậy, một khi hai bên đã thỏa thuận xác lập hợp đồng ủy quyền, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền và trong phạm vi ủy quyền, người được ủy quyền có quyền thay mặt người ủy quyền thực hiện một số hành vi nhất định làm phát sinh hậu quả liên quan đến quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng hoặc lợi ích của người đã ủy quyền trong phạm vi ủy quyền.

1.2. Ủy quyền trong xử phạt vi phạm hành chính

Theo Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể ủy quyền cho cấp phó. Tuy nhiên, thay vì sử dụng thuật ngữ ủy quyền, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 lại sử dụng thuật ngữ “giao quyền”, theo đó, việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc, lĩnh vực cụ thể tùy vào tình hình thực tế. Việc giao quyền phải thực hiện bằng văn bản có chữ ký và đóng dấu của người có thẩm quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật, người được giao quyền không được ủy quyền lại cho bất kỳ người nào khác.

Như vậy, xét về mặt bản chất pháp lý, quan hệ ủy quyền theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 tồn tại 2 quan hệ: (i) Quan hệ giữa người ủy quyền và người được ủy quyền. Trong quan hệ này, người được ủy quyền có nghĩa vụ phải trực tiếp thực hiện các hành vi pháp lý trong phạm vi ủy quyền mà không được phép ủy quyền lại cho bên nào khác; (ii) Quan hệ giữa người được ủy quyền với bên thứ ba trong quan hệ pháp luật hành chính. Người được ủy quyền với tư cách của người ủy quyền thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật về hành chính. Người được ủy quyền có những quyền và nghĩa vụ nhất định đối với đối tượng bị xử phạt.

Theo các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở trên, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể ủy quyền cho cấp phó. Việc giao quyền phải thực hiện bằng văn bản có chữ ký và đóng dấu của người có thẩm quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng, trước pháp luật và không được ủy quyền lại cho bất kỳ người nào khác. Quy định này ban hành nhằm giảm áp lực cho cấp trưởng, đồng thời cải thiện vấn đề về thủ tục hành chính, giúp việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh hơn. Tuy nhiên, quy định này có thể phát sinh vướng mắc, có ý kiến cho rằng, một khi cấp trưởng đã giao quyền xử phạt thuộc thẩm quyền của mình cho cấp phó thì đồng nghĩa với việc cấp trưởng đã tạm chuyển giao thẩm quyền xử phạt của mình cho cấp phó, cấp phó phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật. Vì vậy, cấp trưởng không còn thẩm quyền để ký các quyết định xử phạt trong phạm vi đã ủy quyền nữa (?). Mặc dù thực tế chưa xảy ra vướng mắc nêu trên, nhưng đây cũng là một tình huống mà chúng ta cần dự liệu để xem xét.

1.3. Ủy quyền trong lĩnh vực quản lý đất đai

Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Quy định này mang đến nhiều cách hiểu khác nhau cho cơ quan áp dụng pháp luật. Một số ý kiến cho rằng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất vẫn do Ủy ban nhân dân ký tên và đóng dấu, vì đây mới thực sự là cơ quan có quyền. Nhưng quan điểm khác lại cho rằng, phải đóng dấu của Sở Tài nguyên và Môi trường mới hợp lý vì cơ quan này đã được ủy quyền, phải chịu mọi trách nhiệm trước cơ quan ủy quyền và trước pháp luật về vấn đề được ủy quyền, nên Ủy ban nhân dân không có quyền trong phạm vi này nữa (?).

Có thể thấy, trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, vấn đề ủy quyền đóng vai trò hết sức to lớn, nhưng chế định về ủy quyền trong ban hành quyết định hành chính vẫn chưa được xác lập một cách rõ ràng và thống nhất trong hệ thống pháp luật. Mặc dù, trong hầu hết các văn bản luật đã đề cập đến vấn đề ủy quyền, nhưng quy định một cách chung chung, việc ủy quyền thiếu nguyên tắc, dẫn đến tình trạng không rõ giới hạn, phạm vi và trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, cá nhân cụ thể.

2. Một số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định về ủy quyền ban hành quyết định hành chính

Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật Ban hành quyết định hành chính, hầu hết các ý kiến tham gia xây dựng đều thống nhất với Ban soạn thảo về sự cần thiết phải quy định về chế định ủy quyền trong Luật Ban hành quyết định hành chính. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, Luật cần quy định về chế định ủy quyền theo hướng phân biệt giữa ủy quyền theo thẩm quyền và ủy quyền ký. Theo đó, việc ủy quyền theo thẩm quyền được hiểu là người ủy quyền có thể ủy quyền cho cấp phó hoặc cấp dưới trực tiếp về một mảng công việc có tính chất thường xuyên, ổn định. Việc ủy quyền được lập thành văn bản quy định rõ phạm vi ủy quyền. Trên cơ sở văn bản ủy quyền, cấp phó hoặc cấp dưới trực tiếp được ủy quyền thực hiện công việc, hành vi được giao một cách mặc định và phải chịu trách nhiệm về nội dung quyết định hành chính do mình ban hành.

Ủy quyền ký là ủy quyền cho cấp phó hoặc cấp dưới trực tiếp ký ban hành quyết định hành chính theo vụ việc trong một thời gian nhất định và không thường xuyên. Trong trường hợp này, người ủy quyền vẫn phải chịu trách nhiệm về nội dung của quyết định hành chính do người được ủy quyền ban hành trong phạm vi giới hạn ủy quyền.

Ý kiến thứ hai cho rằng, Luật chỉ nên cho phép người ủy quyền được ủy quyền cho cấp phó hoặc cấp dưới trực tiếp. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại và trong mọi trường hợp, người ủy quyền vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định hành chính do người được ủy quyền ban hành, trừ trường hợp người được ủy quyền cố tình vượt quá phạm vi được ủy quyền.

Tác giả đồng ý với ý kiến thứ hai, bởi các lý do sau đây:

Một là, khác với các quan hệ dân sự hay lao động, quan hệ pháp luật hành chính mang tính đặc thù. Một bên chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính mang quyền lực nhà nước và nhân danh nhà nước tham gia vào các quan hệ hành chính. Trong quá trình quản lý nhà nước, các quyết định hành chính được ban hành có tầm ảnh hưởng rất lớn, nó không những tác động đến quyền và lợi ích của một cá nhân hay tập thể và còn có tác động mạnh mẽ đến lợi ích công đồng, của quốc gia như các quyết định về giải phóng mặt bằng, quyết định đầu tư… Vì vậy, pháp luật đã trao cho ai quyền thì người đó phải có trách nhiệm thực hiện thẩm quyền được giao, người ủy quyền cũng không thể lấy lý do đã ủy quyền mà thoái thác trách nhiệm đã được nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó. Do đó, pháp luật cần có những quy định mang tính cứng rắn và dứt khoát về trách nhiệm của người ủy quyền đối với các quyết định do người được ủy quyền ban hành.

Hai là, có một thực tế, nhiệm vụ đã được giao cho một cơ quan, một cá nhân cụ thể, nhưng cơ quan, cá nhân đó lại ủy quyền cho một cá nhân, cơ quan tiếp theo, cơ quan, cá nhân đó lại ủy quyền lại cho cơ quan, cá nhân khác... dẫn đến tình trạng rườm rà, thiếu minh bạch trong quá trình thực hiện pháp luật đặc biệt là trong tố tụng hành chính. Vì thế, sự cần thiết phải quy định rõ người được ủy quyền phải là cấp phó hoặc cấp dưới trực tiếp, đồng thời, người được ủy quyền không được phép ủy quyền lại và phải có trách nhiệm đối với quyết định do họ ban hành, điều này giúp xác định rõ chức năng, nhiệm vụ được giao tránh ủy quyền tràn lan, dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm giữa người ủy quyền và người được ủy quyền.

Ba là, để vấn đề ủy quyền được thực hiện một cách thống nhất, thiết nghĩ, nên xây dựng hệ thống các quy định có tính nguyên tắc bao gồm: (i) Người ủy quyền là người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính và được phép ủy quyền trong phạm vi thẩm quyền được giao; (ii) Người được ủy quyền phải là cấp phó trực tiếp hoặc cấp dưới trực tiếp; (iii) Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản; (iv) Người được ủy quyền phải chịu trác nhiệm trước người ủy quyền và trước pháp luật trong trường hợp vượt quá phạm vi ủy quyền dẫn đến vi phạm pháp luật...

ThS. Đặng Thị Hà

Đại học Luật thuộc Đại học Huế

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: