Thứ tư 24/06/2026 05:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về việc kiểm soát pháp luật đối với điều kiện thương mại chung

Trong điều kiện nền kinh tế sản xuất và thương mại dịch vụ phát triển, việc các nhà cung cấp áp dụng hình thức hợp đồng mẫu và điều kiện thương mại chung (ĐKTMC) cho tất cả khách hàng là tất yếu khách quan. Một điều được mặc nhiên thừa nhận là đối với việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ rộng rãi, nhà cung cấp không thể thương lượng, đàm phán hợp đồng đối với từng cá nhân trong hàng triệu người sử dụng và việc áp dụng các ĐKTMC trong giao dịch hợp đồng được thực hiện trên hầu hết các hoạt động kinh doanh mà khách hàng là số đông, chủ yếu là người tiêu dùng (NTD) với quan niệm họ là “bên yếu thế”.


Việc thiết lập hợp đồng với các ĐKTMC mà không xuất phát từ kết quả thương lượng giữa các bên cho thấy, sự tự do ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng bị hạn chế. Xét về mặt biểu hiện khách quan, ý chí chung được thể hiện thông qua việc cả hai bên cùng mong muốn tham gia vào quan hệ hợp đồng và đã chấp nhận giao kết hợp đồng (bằng nhiều phương thức khác nhau như lời nói, hành vi, ký văn bản…). Trong trường hợp này, ý chí của bên còn lại (không được soạn thảo điều khoản về ĐKTMC) được thể hiện ở sự chấp thuận và quyết định tham gia giao kết hợp đồng. Họ có quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia vào quan hệ giao dịch với những ĐKTMC như vậy. Tuy nhiên, ý nghĩa của nguyên tắc tự do khế ước trong trường hợp giao kết hợp đồng sử dụng ĐKTMC chỉ mang tính hình thức, bởi lúc này, hợp đồng được thiết lập chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của một bên và bên còn lại ở thế tham gia hoặc không tham gia - phương thức xác lập nền tảng của các hợp đồng không được thương lượng giữa hai bên. Hợp đồng hình thành trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận từng nội dung cụ thể rõ ràng khác với hợp đồng xác lập trên nền tảng “tham gia hoặc không tham gia”. Chính vì lẽ đó, bên cạnh pháp luật hợp đồng nói chung, đòi hỏi phải có sự can thiệp đặc thù đến các quan hệ hợp đồng này nhằm đảm bảo sự tự do ý chí và sự công bằng thỏa đáng giữa các bên mà chủ yếu là người tiêu dùng với tư cách là bên yếu thế trong giao dịch. Mặc dầu vậy, sự can thiệp của các bên vào tự do ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng sử dụng ĐKTMC là vấn đề phức tạp, cần thiết phải lý giải thấu đáo căn nguyên của việc can thiệp pháp luật trong trường hợp này. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi về các học thuyết pháp lý có liên quan đến vấn đề này.

Hai học thuyết cơ bản được biết đến đó là học thuyết vềcông lý theo thủ tục (procedural justice) của Werner Flume (một học giả người Đức nổi tiếng trong lĩnh vực luật tư) và học thuyết công lý theo bản thể (substative justice) của Karl Larenz (cũng là một học giả nổi tiếng của Đức) trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng[1].

Học thuyết công lý theo thủ tục dựa vào yếu tố chi phí giao dịch (transaction cost) với tính chất là đặc điểm cố hữu của ĐKTMC, nhấn mạnh sự bất cân xứng về chi phí giao dịch giữa bên sử dụng ĐKTMC và bên đối tác. Bởi vì bên sử dụng ĐKTMC chỉ phải trả chi phí một lần cho hàng loạt giao dịch, họ luôn có thông tin tốt hơn và những thông tin này cho phép họ đơn phương quyết định nội dung của hợp đồng. Trong khi đó, đối với bên đối tác, để có được các thông tin cần thiết trong quá trình đàm phán đòi hỏi rất tốn kém về chi phí. Hậu quả là, việc sử dụng các ĐKTMC cho thấy, đó là sự tước đi cơ hội xem xét lại các điều khoản hợp đồng một cách chi tiết và đòi hỏi sự can thiệp của luật pháp (can thiệp ngoài) đối với sự công bằng của giao dịch. Với vấn đề này, luật pháp cần thể hiện vai trò quan trọng để đưa ra giải pháp đối với sự thất bại của thị trường do thông tin bất cân xứng để tạo sự cạnh tranh và sự tin cậy cho các tất cả các chủ thể giao dịch trên thị trường, không phân biệt là doanh nghiệp hay NTD.

Học thuyết công lý theo bản thế dựa vào yếu tố “sự lạm dụng của bên mạnh hơn” (abuse of stronger position). Học thuyết này dựa trên khái niệm “quyền lực giao dịch không công bằng” (unequal bargaining). Theo đó, nguyên nhân ẩn giấu đằng sau việc điều chỉnh đối với ĐKTMC, đối lập với học thuyết chi phí giao dịch, nó không phải là rủi ro cố hữu của ĐKTMC mà là nhằm hướng đến bảo vệ một tầng lớp xã hội nhất định. Do có vị thế cao hơn, ưu việt hơn về kinh tế, xã hội, thị trường, một doanh nghiệp có khả năng áp đặt các điều kiện hợp đồng đơn phương gây hại cho bên không được soạn thảo nội dung hợp đồng. Sự điều chỉnh của luật pháp có nguồn gốc từ việc bảo vệ công lý trong phân phối (distributive justice), có nguồn gốc từ Lý thuyết công lý của Aristoste (384-322 TCN), một trong những người thầy có ảnh hưởng nhất đối với bộ môn triết học chính trị, được trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Đạo đức học Nicomachus” (Nicomachean Ethics). Theo Aristoste, công lý cốt ở việc đối xử bình đẳng với những người ngang nhau và bất công bằng với những người không ngang hàng, tương xứng với sự khác nhau về địa vị của họ.Do đó, sự điều chỉnh của pháp luật về ĐKTMC được lý giải theo nguyên lý bảo vệ bên yếu thế, chủ yếu là NTD[2].

Học thuyết này được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ và cho rằng lý do của việc can thiệp pháp luật đối với ĐKTMC là nhằm bảo vệ bên yếu thế trước việc lạm dụng của bên ban hành ĐKTMC, do vị thế của bên ban hành ĐKTMC mang lại. Sự áp đặt các ĐKTMC có nguồn gốc từ vị thế mạnh hơn (có thể do vị trí độc quyền hoặc chiếm nhiều thị phần trên thị trường) mang lại. Friedrich Kessler, nhà nghiên cứu nổi tiếng đầu tiên về lĩnh vực pháp luật này trong bài viết từ năm 1943 đã cho rằng người bán với quyền lực thị trường đã bóc lột những NTD bằng việc áp đặt các điều khoản hợp đồng thô thiển vì người mua phải ở thế gia nhập hợp đồng “tham gia hoặc không tham gia”. Kessler cũng cho rằng: “ĐKTMC được sử dụng phổ biến bởi những doanh nghiệp với vị trí giao dịch mạnh thế trên thị trường. Bên yếu thế, do sự cần thiết đối với hàng hóa và dịch vụ, thường xuyên không được lựa chọn điều khoản tốt hơn bởi vì tác giả của các ĐKTMC có vị trí độc quyền (tự nhiên hoặc chủ ý) hoặc bởi tất cả các nhà kinh doanh trong bối cảnh đó đều sử dụng cùng ĐKTMC như nhau”. Và Friedrich Kessler e ngại rằng thiếu đi bóng dáng của cạnh tranh, NTD sẽ thiệt hại đủ đường với giá cao và những điều kiện giao dịch hợp đồng tệ hại[3].

Lý giải căn nguyên về mặt kinh tế, có thể thấy, nguyên nhân sâu xa của việc điều chỉnh pháp luật đối với ĐKTMC không phải xuất phát từ việc bảo vệ bên yếu thế, do bên được ban hành ĐKTMC có vị trí độc quyền hoặc mạnh hơn trên thị trường áp đặt các điều kiện hợp đồng có lợi hơn cho họ. Trong bối cảnh của cạnh tranh cũng không làm cho bên ban hành ĐKTMC đưa ra các điều kiện hợp đồng tốt hơn. Điều này cũng đã được thử nghiệm bằng các khảo sát trên thực tế và kết quả cho thấy, cùng việc bán các mặt hàng software trên mạng, các tập đoàn lớn và những doanh nghiệp nhỏ bán lẻ, đều đưa ra các điều kiện giao dịch gần như là giống hệt nhau[4].

Theo định lý Coase, căn nguyên của việc can thiệp điều chỉnh của luật pháp có nguyên nhân từ kinh tế. Nếu thông tin trên thị trường là hoàn hảo là thị trường sẽ tự điều tiết ai được làm gì mà không cần đến pháp luật. Như vậy, việc can thiệp của luật pháp là do có sự bất cân xứng thông tin trên thị trường (information asymmetry) dẫn đến nguy cơ đổ vỡ của thị trường (market failure). Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước khi ký kết hợp đồng. Bên ban hành ĐKTMC thường có xu hướng cố tình che giấu thông tin ví dụ như các thông tin về bảo hành hoặc điều khoản về khiếu nại đối với chất lượng sản phẩm. ĐKTMC cũng thường được lạm dụng với mục đích che đậy thông tin nhằm đạt được các lợi ích trên thị trường. Bên đưa ra ĐKTMC là bên đã có những tìm hiểu kỹ lưỡng đối với lĩnh vực mà mình kinh doanh bao gồm cả những quy định của luật pháp có liên quan. Việc lựa chọn nội dung nào để đưa vào ĐKTMC đã được tính toán, lường trước các biến động của thị trường có thể ảnh hưởng tới các thương vụ. Bên được đề nghị áp dụng ĐKTMC lúc này sẽ rơi vào thế bị động và ít thông tin hơn do không trực tiếp khảo sát thị trường và soạn thảo điều khoản đó, do đó, dễ gặp tổn thất lớn nếu có rủi ro xảy ra. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa cũng cho rằng, thông tin là sức mạnh vì thông tin định hướng hành vi con người. Từ chính sách kinh tế vĩ mô cho tới giao dịch hàng ngày của doanh nhân, điều phối thông tin quan trọng không kém huy động vốn hoặc tổ chức sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt trong xã hội hiện đại, thông tin ngày càng trở thành một lĩnh vực được kinh tế học và luật học quan tâm nghiên cứu, nhất là vấn đề pháp luật hợp đồng cần can thiệp ra sao đối với quá trình tích luỹ và sử dụng thông tin của doanh nghiệp. Đặc biệt, nếu doanh nghiệp lạm dụng sự không hiểu biết của bạn hàng để giành lợi ích kinh tế, xuất hiện tình trạng lạm dụng thông tin bất cân xứng mà pháp luật cần can thiệp để bảo vệ lẽ công bằng[5].

Như vậy, chúng tôi cho rằng, căn nguyên kiểm soát của pháp luật đối với ĐKTMC là nhằm bảo vệ giá trị đích thực (equilibrium price), được phản ánh qua việc tái phân phối lại rủi ro hợp đồng giữa bên bán/bên cung cấp và mua/bên sử dụng dịch vụ sao cho tối thiểu nhất chi phí rủi ro cho các bên. Như vậỵ, mục đích điều chỉnh pháp luật không phải là để loại trừ sự bất lợi bất hợp lý có nguồn gốc từ sức mạnh thị trường của một bên so với bên khác. Thực vậy, kể cả là doanh nghiệp độc quyền, nó cũng không cần thiết để đẩy rủi ro cho người mua, bởi vì điều này không làm giảm đi quyền lực độc quyền của doanh nghiệp đó trên thị trường. Việc điều chỉnh của pháp luật là nhằm loại bỏ một phần sự thất bại thị trường có nguồn gốc từ sự bất đối xứng về thông tin giữa các bên giao kết hợp đồng. Chi phí để có được thông tin liên quan tới nội dung của điều khoản hợp đồng soạn sẵn thường cao hơn lợi ích dự kiến. Do vậy, việc các bên bỏ qua nội dung của các điều khoản soạn sẵn là tất yếu. Hậu quả của việc bỏ qua một cách hợp lý này là làm thui chột cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để đưa ra điều khoản soạn sẵn tốt nhất. Những người sử dụng các điều khoản soạn sẵn thì lại bị cuốn vào cuộc cạnh tranh hướng tới điều khoản soạn sẵn bất công bằng nhất (kéo nhau cùng chìm “race to the bottom”). Việc trông chờ những người bán, cung cấp dịch vụ tự nguyện cung cấp thông tin, minh bạch khả năng và hoạt động của mình là sự duy ý chí. Thị trường với tư cách một cơ chế tự điều chỉnh cũng không thể giải quyết vấn đề hiệu quả bằng quy định của luật pháp.Mặt khác, nếu quan niệm rằng căn nguyên của việc điều chỉnh pháp luật là nhằm bảo vệ bên yếu thế - là bên có địa vị xã hội, kinh tế yếu hơn bên ban hành ĐKTMC, sẽ gặp phải những vấn đề khó lý giải sau đây:

Thứ nhất, nếu việc lạm dụng quyền lực đàm phán (bargaining power) là vấn đề mà pháp luật phải quan tâm thì khó lý giải tại sao vấn đề giá lại được loại trừ ra khỏi sự điều chỉnh của luật pháp. Rõ ràng, bên có lợi thế hơn sẽ sử dụng quyền lực đàm phán cao hơn để đưa ra mức giá tốt nhất cho họ và như vậy lẽ ra pháp luật phải can thiệp;

Thứ hai, các điều khoản hợp đồng soạn sẵn không chỉ được sử dụng trong các hợp đồng với NTD mà còn được sử dụng trong các hợp đồng kinh doanh mà bên sử dụng ĐKTMC không phải lúc nào cũng là bên có vị thế kinh tế mạnh hơn. Ngay cả giữa những đối tượng tham gia thị trường có uy tín cao như ngân hàng, cũng vẫn tồn tại các hợp đồng bất công bằng hay cùng mặt hàng phần mềm máy tính, nhà cung cấp là doanh nghiệp lớn hay các nhà bán lẻ thì đều áp dụng các ĐKTMC giống hệt nhau;

Thứ ba, nguyên lý của việc bảo vệ bên yếu thế, mà số đông là NTD, là nhằm điều tiết lại phân phối bất công bằng xã hội (giàu, nghèo) cũng không thực sự thuyết phục vì không phải NTD nào cũng nghèo (rất nhiều NTD mua đồ dùng đắt tiền, xa xỉ), trong khi bên bán, bên cung cấp chỉ là doanh nghiệp nhỏ hoặc nhiều ông chủ doanh nghiệp chỉ là người làm thuê ăn lương.

Như vậy, về mặt lý luận có thể kết luận rằng nguồn gốc về kinh tế của việc điều chỉnh luật pháp về ĐKTMC là nhằm hướng đến sự điều tiết giá trị công bằng, kiểm soát bất cân xứng thông tin và sự đổ vỡ của thị trường. Vì vậy, căn nguyên của việc can thiệp của pháp luật là nhằm bảo vệ bên không có cơ hội tiếp cận thông tin, hạn chế sự lạm dụng của các điều khoản hợp đồng soạn sẵn bất công bằng không mang ý nghĩa chỉ bảo vệ bên có vị trí yếu thế trên thị trường. Theo lẽ đó, chúng tôi cho rằng, pháp luật về ĐKTMC không nhất thiết chỉ đặt ra vấn đề bảo vệ bên yếu thế chủ yếu là NTD theo tư duy tiếp cận phổ biến hiện nay.

TS. Nguyễn Thị Hằng Nga

Đại học Đại Nam


[1] Florial Rodl (2013), Contractual Freedom, Contractual Justice and Contract Law (theory), http://lcp.law.duke.edu/.

[2] https://ebooks.adelaide.edu.au/a/aristotle/nicomachean/

[3] Friedrich Kessler, Contract of Adhesion- Some Thought about Freedom of Contract, Columbia University Review, (Mỹ), Vol 43, 3, 1943.

[4]Florencia Marotta-Wurgler (2008), Competition and the Quality of Standard Form Contracts: The Case of Software License Agreements, Law & Economic research paper series working paper No. 08-36, New York University school of law.gia

[5]PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: