Chủ nhật 08/02/2026 05:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về việc kiểm soát pháp luật đối với điều kiện thương mại chung

Trong điều kiện nền kinh tế sản xuất và thương mại dịch vụ phát triển, việc các nhà cung cấp áp dụng hình thức hợp đồng mẫu và điều kiện thương mại chung (ĐKTMC) cho tất cả khách hàng là tất yếu khách quan. Một điều được mặc nhiên thừa nhận là đối với việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ rộng rãi, nhà cung cấp không thể thương lượng, đàm phán hợp đồng đối với từng cá nhân trong hàng triệu người sử dụng và việc áp dụng các ĐKTMC trong giao dịch hợp đồng được thực hiện trên hầu hết các hoạt động kinh doanh mà khách hàng là số đông, chủ yếu là người tiêu dùng (NTD) với quan niệm họ là “bên yếu thế”.


Việc thiết lập hợp đồng với các ĐKTMC mà không xuất phát từ kết quả thương lượng giữa các bên cho thấy, sự tự do ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng bị hạn chế. Xét về mặt biểu hiện khách quan, ý chí chung được thể hiện thông qua việc cả hai bên cùng mong muốn tham gia vào quan hệ hợp đồng và đã chấp nhận giao kết hợp đồng (bằng nhiều phương thức khác nhau như lời nói, hành vi, ký văn bản…). Trong trường hợp này, ý chí của bên còn lại (không được soạn thảo điều khoản về ĐKTMC) được thể hiện ở sự chấp thuận và quyết định tham gia giao kết hợp đồng. Họ có quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia vào quan hệ giao dịch với những ĐKTMC như vậy. Tuy nhiên, ý nghĩa của nguyên tắc tự do khế ước trong trường hợp giao kết hợp đồng sử dụng ĐKTMC chỉ mang tính hình thức, bởi lúc này, hợp đồng được thiết lập chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của một bên và bên còn lại ở thế tham gia hoặc không tham gia - phương thức xác lập nền tảng của các hợp đồng không được thương lượng giữa hai bên. Hợp đồng hình thành trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận từng nội dung cụ thể rõ ràng khác với hợp đồng xác lập trên nền tảng “tham gia hoặc không tham gia”. Chính vì lẽ đó, bên cạnh pháp luật hợp đồng nói chung, đòi hỏi phải có sự can thiệp đặc thù đến các quan hệ hợp đồng này nhằm đảm bảo sự tự do ý chí và sự công bằng thỏa đáng giữa các bên mà chủ yếu là người tiêu dùng với tư cách là bên yếu thế trong giao dịch. Mặc dầu vậy, sự can thiệp của các bên vào tự do ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng sử dụng ĐKTMC là vấn đề phức tạp, cần thiết phải lý giải thấu đáo căn nguyên của việc can thiệp pháp luật trong trường hợp này. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi về các học thuyết pháp lý có liên quan đến vấn đề này.

Hai học thuyết cơ bản được biết đến đó là học thuyết vềcông lý theo thủ tục (procedural justice) của Werner Flume (một học giả người Đức nổi tiếng trong lĩnh vực luật tư) và học thuyết công lý theo bản thể (substative justice) của Karl Larenz (cũng là một học giả nổi tiếng của Đức) trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng[1].

Học thuyết công lý theo thủ tục dựa vào yếu tố chi phí giao dịch (transaction cost) với tính chất là đặc điểm cố hữu của ĐKTMC, nhấn mạnh sự bất cân xứng về chi phí giao dịch giữa bên sử dụng ĐKTMC và bên đối tác. Bởi vì bên sử dụng ĐKTMC chỉ phải trả chi phí một lần cho hàng loạt giao dịch, họ luôn có thông tin tốt hơn và những thông tin này cho phép họ đơn phương quyết định nội dung của hợp đồng. Trong khi đó, đối với bên đối tác, để có được các thông tin cần thiết trong quá trình đàm phán đòi hỏi rất tốn kém về chi phí. Hậu quả là, việc sử dụng các ĐKTMC cho thấy, đó là sự tước đi cơ hội xem xét lại các điều khoản hợp đồng một cách chi tiết và đòi hỏi sự can thiệp của luật pháp (can thiệp ngoài) đối với sự công bằng của giao dịch. Với vấn đề này, luật pháp cần thể hiện vai trò quan trọng để đưa ra giải pháp đối với sự thất bại của thị trường do thông tin bất cân xứng để tạo sự cạnh tranh và sự tin cậy cho các tất cả các chủ thể giao dịch trên thị trường, không phân biệt là doanh nghiệp hay NTD.

Học thuyết công lý theo bản thế dựa vào yếu tố “sự lạm dụng của bên mạnh hơn” (abuse of stronger position). Học thuyết này dựa trên khái niệm “quyền lực giao dịch không công bằng” (unequal bargaining). Theo đó, nguyên nhân ẩn giấu đằng sau việc điều chỉnh đối với ĐKTMC, đối lập với học thuyết chi phí giao dịch, nó không phải là rủi ro cố hữu của ĐKTMC mà là nhằm hướng đến bảo vệ một tầng lớp xã hội nhất định. Do có vị thế cao hơn, ưu việt hơn về kinh tế, xã hội, thị trường, một doanh nghiệp có khả năng áp đặt các điều kiện hợp đồng đơn phương gây hại cho bên không được soạn thảo nội dung hợp đồng. Sự điều chỉnh của luật pháp có nguồn gốc từ việc bảo vệ công lý trong phân phối (distributive justice), có nguồn gốc từ Lý thuyết công lý của Aristoste (384-322 TCN), một trong những người thầy có ảnh hưởng nhất đối với bộ môn triết học chính trị, được trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Đạo đức học Nicomachus” (Nicomachean Ethics). Theo Aristoste, công lý cốt ở việc đối xử bình đẳng với những người ngang nhau và bất công bằng với những người không ngang hàng, tương xứng với sự khác nhau về địa vị của họ.Do đó, sự điều chỉnh của pháp luật về ĐKTMC được lý giải theo nguyên lý bảo vệ bên yếu thế, chủ yếu là NTD[2].

Học thuyết này được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ và cho rằng lý do của việc can thiệp pháp luật đối với ĐKTMC là nhằm bảo vệ bên yếu thế trước việc lạm dụng của bên ban hành ĐKTMC, do vị thế của bên ban hành ĐKTMC mang lại. Sự áp đặt các ĐKTMC có nguồn gốc từ vị thế mạnh hơn (có thể do vị trí độc quyền hoặc chiếm nhiều thị phần trên thị trường) mang lại. Friedrich Kessler, nhà nghiên cứu nổi tiếng đầu tiên về lĩnh vực pháp luật này trong bài viết từ năm 1943 đã cho rằng người bán với quyền lực thị trường đã bóc lột những NTD bằng việc áp đặt các điều khoản hợp đồng thô thiển vì người mua phải ở thế gia nhập hợp đồng “tham gia hoặc không tham gia”. Kessler cũng cho rằng: “ĐKTMC được sử dụng phổ biến bởi những doanh nghiệp với vị trí giao dịch mạnh thế trên thị trường. Bên yếu thế, do sự cần thiết đối với hàng hóa và dịch vụ, thường xuyên không được lựa chọn điều khoản tốt hơn bởi vì tác giả của các ĐKTMC có vị trí độc quyền (tự nhiên hoặc chủ ý) hoặc bởi tất cả các nhà kinh doanh trong bối cảnh đó đều sử dụng cùng ĐKTMC như nhau”. Và Friedrich Kessler e ngại rằng thiếu đi bóng dáng của cạnh tranh, NTD sẽ thiệt hại đủ đường với giá cao và những điều kiện giao dịch hợp đồng tệ hại[3].

Lý giải căn nguyên về mặt kinh tế, có thể thấy, nguyên nhân sâu xa của việc điều chỉnh pháp luật đối với ĐKTMC không phải xuất phát từ việc bảo vệ bên yếu thế, do bên được ban hành ĐKTMC có vị trí độc quyền hoặc mạnh hơn trên thị trường áp đặt các điều kiện hợp đồng có lợi hơn cho họ. Trong bối cảnh của cạnh tranh cũng không làm cho bên ban hành ĐKTMC đưa ra các điều kiện hợp đồng tốt hơn. Điều này cũng đã được thử nghiệm bằng các khảo sát trên thực tế và kết quả cho thấy, cùng việc bán các mặt hàng software trên mạng, các tập đoàn lớn và những doanh nghiệp nhỏ bán lẻ, đều đưa ra các điều kiện giao dịch gần như là giống hệt nhau[4].

Theo định lý Coase, căn nguyên của việc can thiệp điều chỉnh của luật pháp có nguyên nhân từ kinh tế. Nếu thông tin trên thị trường là hoàn hảo là thị trường sẽ tự điều tiết ai được làm gì mà không cần đến pháp luật. Như vậy, việc can thiệp của luật pháp là do có sự bất cân xứng thông tin trên thị trường (information asymmetry) dẫn đến nguy cơ đổ vỡ của thị trường (market failure). Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước khi ký kết hợp đồng. Bên ban hành ĐKTMC thường có xu hướng cố tình che giấu thông tin ví dụ như các thông tin về bảo hành hoặc điều khoản về khiếu nại đối với chất lượng sản phẩm. ĐKTMC cũng thường được lạm dụng với mục đích che đậy thông tin nhằm đạt được các lợi ích trên thị trường. Bên đưa ra ĐKTMC là bên đã có những tìm hiểu kỹ lưỡng đối với lĩnh vực mà mình kinh doanh bao gồm cả những quy định của luật pháp có liên quan. Việc lựa chọn nội dung nào để đưa vào ĐKTMC đã được tính toán, lường trước các biến động của thị trường có thể ảnh hưởng tới các thương vụ. Bên được đề nghị áp dụng ĐKTMC lúc này sẽ rơi vào thế bị động và ít thông tin hơn do không trực tiếp khảo sát thị trường và soạn thảo điều khoản đó, do đó, dễ gặp tổn thất lớn nếu có rủi ro xảy ra. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa cũng cho rằng, thông tin là sức mạnh vì thông tin định hướng hành vi con người. Từ chính sách kinh tế vĩ mô cho tới giao dịch hàng ngày của doanh nhân, điều phối thông tin quan trọng không kém huy động vốn hoặc tổ chức sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt trong xã hội hiện đại, thông tin ngày càng trở thành một lĩnh vực được kinh tế học và luật học quan tâm nghiên cứu, nhất là vấn đề pháp luật hợp đồng cần can thiệp ra sao đối với quá trình tích luỹ và sử dụng thông tin của doanh nghiệp. Đặc biệt, nếu doanh nghiệp lạm dụng sự không hiểu biết của bạn hàng để giành lợi ích kinh tế, xuất hiện tình trạng lạm dụng thông tin bất cân xứng mà pháp luật cần can thiệp để bảo vệ lẽ công bằng[5].

Như vậy, chúng tôi cho rằng, căn nguyên kiểm soát của pháp luật đối với ĐKTMC là nhằm bảo vệ giá trị đích thực (equilibrium price), được phản ánh qua việc tái phân phối lại rủi ro hợp đồng giữa bên bán/bên cung cấp và mua/bên sử dụng dịch vụ sao cho tối thiểu nhất chi phí rủi ro cho các bên. Như vậỵ, mục đích điều chỉnh pháp luật không phải là để loại trừ sự bất lợi bất hợp lý có nguồn gốc từ sức mạnh thị trường của một bên so với bên khác. Thực vậy, kể cả là doanh nghiệp độc quyền, nó cũng không cần thiết để đẩy rủi ro cho người mua, bởi vì điều này không làm giảm đi quyền lực độc quyền của doanh nghiệp đó trên thị trường. Việc điều chỉnh của pháp luật là nhằm loại bỏ một phần sự thất bại thị trường có nguồn gốc từ sự bất đối xứng về thông tin giữa các bên giao kết hợp đồng. Chi phí để có được thông tin liên quan tới nội dung của điều khoản hợp đồng soạn sẵn thường cao hơn lợi ích dự kiến. Do vậy, việc các bên bỏ qua nội dung của các điều khoản soạn sẵn là tất yếu. Hậu quả của việc bỏ qua một cách hợp lý này là làm thui chột cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để đưa ra điều khoản soạn sẵn tốt nhất. Những người sử dụng các điều khoản soạn sẵn thì lại bị cuốn vào cuộc cạnh tranh hướng tới điều khoản soạn sẵn bất công bằng nhất (kéo nhau cùng chìm “race to the bottom”). Việc trông chờ những người bán, cung cấp dịch vụ tự nguyện cung cấp thông tin, minh bạch khả năng và hoạt động của mình là sự duy ý chí. Thị trường với tư cách một cơ chế tự điều chỉnh cũng không thể giải quyết vấn đề hiệu quả bằng quy định của luật pháp.Mặt khác, nếu quan niệm rằng căn nguyên của việc điều chỉnh pháp luật là nhằm bảo vệ bên yếu thế - là bên có địa vị xã hội, kinh tế yếu hơn bên ban hành ĐKTMC, sẽ gặp phải những vấn đề khó lý giải sau đây:

Thứ nhất, nếu việc lạm dụng quyền lực đàm phán (bargaining power) là vấn đề mà pháp luật phải quan tâm thì khó lý giải tại sao vấn đề giá lại được loại trừ ra khỏi sự điều chỉnh của luật pháp. Rõ ràng, bên có lợi thế hơn sẽ sử dụng quyền lực đàm phán cao hơn để đưa ra mức giá tốt nhất cho họ và như vậy lẽ ra pháp luật phải can thiệp;

Thứ hai, các điều khoản hợp đồng soạn sẵn không chỉ được sử dụng trong các hợp đồng với NTD mà còn được sử dụng trong các hợp đồng kinh doanh mà bên sử dụng ĐKTMC không phải lúc nào cũng là bên có vị thế kinh tế mạnh hơn. Ngay cả giữa những đối tượng tham gia thị trường có uy tín cao như ngân hàng, cũng vẫn tồn tại các hợp đồng bất công bằng hay cùng mặt hàng phần mềm máy tính, nhà cung cấp là doanh nghiệp lớn hay các nhà bán lẻ thì đều áp dụng các ĐKTMC giống hệt nhau;

Thứ ba, nguyên lý của việc bảo vệ bên yếu thế, mà số đông là NTD, là nhằm điều tiết lại phân phối bất công bằng xã hội (giàu, nghèo) cũng không thực sự thuyết phục vì không phải NTD nào cũng nghèo (rất nhiều NTD mua đồ dùng đắt tiền, xa xỉ), trong khi bên bán, bên cung cấp chỉ là doanh nghiệp nhỏ hoặc nhiều ông chủ doanh nghiệp chỉ là người làm thuê ăn lương.

Như vậy, về mặt lý luận có thể kết luận rằng nguồn gốc về kinh tế của việc điều chỉnh luật pháp về ĐKTMC là nhằm hướng đến sự điều tiết giá trị công bằng, kiểm soát bất cân xứng thông tin và sự đổ vỡ của thị trường. Vì vậy, căn nguyên của việc can thiệp của pháp luật là nhằm bảo vệ bên không có cơ hội tiếp cận thông tin, hạn chế sự lạm dụng của các điều khoản hợp đồng soạn sẵn bất công bằng không mang ý nghĩa chỉ bảo vệ bên có vị trí yếu thế trên thị trường. Theo lẽ đó, chúng tôi cho rằng, pháp luật về ĐKTMC không nhất thiết chỉ đặt ra vấn đề bảo vệ bên yếu thế chủ yếu là NTD theo tư duy tiếp cận phổ biến hiện nay.

TS. Nguyễn Thị Hằng Nga

Đại học Đại Nam


[1] Florial Rodl (2013), Contractual Freedom, Contractual Justice and Contract Law (theory), http://lcp.law.duke.edu/.

[2] https://ebooks.adelaide.edu.au/a/aristotle/nicomachean/

[3] Friedrich Kessler, Contract of Adhesion- Some Thought about Freedom of Contract, Columbia University Review, (Mỹ), Vol 43, 3, 1943.

[4]Florencia Marotta-Wurgler (2008), Competition and the Quality of Standard Form Contracts: The Case of Software License Agreements, Law & Economic research paper series working paper No. 08-36, New York University school of law.gia

[5]PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: