Thứ bảy 14/03/2026 03:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về việc kiểm soát pháp luật đối với điều kiện thương mại chung

Trong điều kiện nền kinh tế sản xuất và thương mại dịch vụ phát triển, việc các nhà cung cấp áp dụng hình thức hợp đồng mẫu và điều kiện thương mại chung (ĐKTMC) cho tất cả khách hàng là tất yếu khách quan. Một điều được mặc nhiên thừa nhận là đối với việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ rộng rãi, nhà cung cấp không thể thương lượng, đàm phán hợp đồng đối với từng cá nhân trong hàng triệu người sử dụng và việc áp dụng các ĐKTMC trong giao dịch hợp đồng được thực hiện trên hầu hết các hoạt động kinh doanh mà khách hàng là số đông, chủ yếu là người tiêu dùng (NTD) với quan niệm họ là “bên yếu thế”.


Việc thiết lập hợp đồng với các ĐKTMC mà không xuất phát từ kết quả thương lượng giữa các bên cho thấy, sự tự do ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng bị hạn chế. Xét về mặt biểu hiện khách quan, ý chí chung được thể hiện thông qua việc cả hai bên cùng mong muốn tham gia vào quan hệ hợp đồng và đã chấp nhận giao kết hợp đồng (bằng nhiều phương thức khác nhau như lời nói, hành vi, ký văn bản…). Trong trường hợp này, ý chí của bên còn lại (không được soạn thảo điều khoản về ĐKTMC) được thể hiện ở sự chấp thuận và quyết định tham gia giao kết hợp đồng. Họ có quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia vào quan hệ giao dịch với những ĐKTMC như vậy. Tuy nhiên, ý nghĩa của nguyên tắc tự do khế ước trong trường hợp giao kết hợp đồng sử dụng ĐKTMC chỉ mang tính hình thức, bởi lúc này, hợp đồng được thiết lập chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của một bên và bên còn lại ở thế tham gia hoặc không tham gia - phương thức xác lập nền tảng của các hợp đồng không được thương lượng giữa hai bên. Hợp đồng hình thành trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận từng nội dung cụ thể rõ ràng khác với hợp đồng xác lập trên nền tảng “tham gia hoặc không tham gia”. Chính vì lẽ đó, bên cạnh pháp luật hợp đồng nói chung, đòi hỏi phải có sự can thiệp đặc thù đến các quan hệ hợp đồng này nhằm đảm bảo sự tự do ý chí và sự công bằng thỏa đáng giữa các bên mà chủ yếu là người tiêu dùng với tư cách là bên yếu thế trong giao dịch. Mặc dầu vậy, sự can thiệp của các bên vào tự do ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng sử dụng ĐKTMC là vấn đề phức tạp, cần thiết phải lý giải thấu đáo căn nguyên của việc can thiệp pháp luật trong trường hợp này. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi về các học thuyết pháp lý có liên quan đến vấn đề này.

Hai học thuyết cơ bản được biết đến đó là học thuyết vềcông lý theo thủ tục (procedural justice) của Werner Flume (một học giả người Đức nổi tiếng trong lĩnh vực luật tư) và học thuyết công lý theo bản thể (substative justice) của Karl Larenz (cũng là một học giả nổi tiếng của Đức) trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng[1].

Học thuyết công lý theo thủ tục dựa vào yếu tố chi phí giao dịch (transaction cost) với tính chất là đặc điểm cố hữu của ĐKTMC, nhấn mạnh sự bất cân xứng về chi phí giao dịch giữa bên sử dụng ĐKTMC và bên đối tác. Bởi vì bên sử dụng ĐKTMC chỉ phải trả chi phí một lần cho hàng loạt giao dịch, họ luôn có thông tin tốt hơn và những thông tin này cho phép họ đơn phương quyết định nội dung của hợp đồng. Trong khi đó, đối với bên đối tác, để có được các thông tin cần thiết trong quá trình đàm phán đòi hỏi rất tốn kém về chi phí. Hậu quả là, việc sử dụng các ĐKTMC cho thấy, đó là sự tước đi cơ hội xem xét lại các điều khoản hợp đồng một cách chi tiết và đòi hỏi sự can thiệp của luật pháp (can thiệp ngoài) đối với sự công bằng của giao dịch. Với vấn đề này, luật pháp cần thể hiện vai trò quan trọng để đưa ra giải pháp đối với sự thất bại của thị trường do thông tin bất cân xứng để tạo sự cạnh tranh và sự tin cậy cho các tất cả các chủ thể giao dịch trên thị trường, không phân biệt là doanh nghiệp hay NTD.

Học thuyết công lý theo bản thế dựa vào yếu tố “sự lạm dụng của bên mạnh hơn” (abuse of stronger position). Học thuyết này dựa trên khái niệm “quyền lực giao dịch không công bằng” (unequal bargaining). Theo đó, nguyên nhân ẩn giấu đằng sau việc điều chỉnh đối với ĐKTMC, đối lập với học thuyết chi phí giao dịch, nó không phải là rủi ro cố hữu của ĐKTMC mà là nhằm hướng đến bảo vệ một tầng lớp xã hội nhất định. Do có vị thế cao hơn, ưu việt hơn về kinh tế, xã hội, thị trường, một doanh nghiệp có khả năng áp đặt các điều kiện hợp đồng đơn phương gây hại cho bên không được soạn thảo nội dung hợp đồng. Sự điều chỉnh của luật pháp có nguồn gốc từ việc bảo vệ công lý trong phân phối (distributive justice), có nguồn gốc từ Lý thuyết công lý của Aristoste (384-322 TCN), một trong những người thầy có ảnh hưởng nhất đối với bộ môn triết học chính trị, được trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Đạo đức học Nicomachus” (Nicomachean Ethics). Theo Aristoste, công lý cốt ở việc đối xử bình đẳng với những người ngang nhau và bất công bằng với những người không ngang hàng, tương xứng với sự khác nhau về địa vị của họ.Do đó, sự điều chỉnh của pháp luật về ĐKTMC được lý giải theo nguyên lý bảo vệ bên yếu thế, chủ yếu là NTD[2].

Học thuyết này được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ và cho rằng lý do của việc can thiệp pháp luật đối với ĐKTMC là nhằm bảo vệ bên yếu thế trước việc lạm dụng của bên ban hành ĐKTMC, do vị thế của bên ban hành ĐKTMC mang lại. Sự áp đặt các ĐKTMC có nguồn gốc từ vị thế mạnh hơn (có thể do vị trí độc quyền hoặc chiếm nhiều thị phần trên thị trường) mang lại. Friedrich Kessler, nhà nghiên cứu nổi tiếng đầu tiên về lĩnh vực pháp luật này trong bài viết từ năm 1943 đã cho rằng người bán với quyền lực thị trường đã bóc lột những NTD bằng việc áp đặt các điều khoản hợp đồng thô thiển vì người mua phải ở thế gia nhập hợp đồng “tham gia hoặc không tham gia”. Kessler cũng cho rằng: “ĐKTMC được sử dụng phổ biến bởi những doanh nghiệp với vị trí giao dịch mạnh thế trên thị trường. Bên yếu thế, do sự cần thiết đối với hàng hóa và dịch vụ, thường xuyên không được lựa chọn điều khoản tốt hơn bởi vì tác giả của các ĐKTMC có vị trí độc quyền (tự nhiên hoặc chủ ý) hoặc bởi tất cả các nhà kinh doanh trong bối cảnh đó đều sử dụng cùng ĐKTMC như nhau”. Và Friedrich Kessler e ngại rằng thiếu đi bóng dáng của cạnh tranh, NTD sẽ thiệt hại đủ đường với giá cao và những điều kiện giao dịch hợp đồng tệ hại[3].

Lý giải căn nguyên về mặt kinh tế, có thể thấy, nguyên nhân sâu xa của việc điều chỉnh pháp luật đối với ĐKTMC không phải xuất phát từ việc bảo vệ bên yếu thế, do bên được ban hành ĐKTMC có vị trí độc quyền hoặc mạnh hơn trên thị trường áp đặt các điều kiện hợp đồng có lợi hơn cho họ. Trong bối cảnh của cạnh tranh cũng không làm cho bên ban hành ĐKTMC đưa ra các điều kiện hợp đồng tốt hơn. Điều này cũng đã được thử nghiệm bằng các khảo sát trên thực tế và kết quả cho thấy, cùng việc bán các mặt hàng software trên mạng, các tập đoàn lớn và những doanh nghiệp nhỏ bán lẻ, đều đưa ra các điều kiện giao dịch gần như là giống hệt nhau[4].

Theo định lý Coase, căn nguyên của việc can thiệp điều chỉnh của luật pháp có nguyên nhân từ kinh tế. Nếu thông tin trên thị trường là hoàn hảo là thị trường sẽ tự điều tiết ai được làm gì mà không cần đến pháp luật. Như vậy, việc can thiệp của luật pháp là do có sự bất cân xứng thông tin trên thị trường (information asymmetry) dẫn đến nguy cơ đổ vỡ của thị trường (market failure). Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước khi ký kết hợp đồng. Bên ban hành ĐKTMC thường có xu hướng cố tình che giấu thông tin ví dụ như các thông tin về bảo hành hoặc điều khoản về khiếu nại đối với chất lượng sản phẩm. ĐKTMC cũng thường được lạm dụng với mục đích che đậy thông tin nhằm đạt được các lợi ích trên thị trường. Bên đưa ra ĐKTMC là bên đã có những tìm hiểu kỹ lưỡng đối với lĩnh vực mà mình kinh doanh bao gồm cả những quy định của luật pháp có liên quan. Việc lựa chọn nội dung nào để đưa vào ĐKTMC đã được tính toán, lường trước các biến động của thị trường có thể ảnh hưởng tới các thương vụ. Bên được đề nghị áp dụng ĐKTMC lúc này sẽ rơi vào thế bị động và ít thông tin hơn do không trực tiếp khảo sát thị trường và soạn thảo điều khoản đó, do đó, dễ gặp tổn thất lớn nếu có rủi ro xảy ra. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa cũng cho rằng, thông tin là sức mạnh vì thông tin định hướng hành vi con người. Từ chính sách kinh tế vĩ mô cho tới giao dịch hàng ngày của doanh nhân, điều phối thông tin quan trọng không kém huy động vốn hoặc tổ chức sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt trong xã hội hiện đại, thông tin ngày càng trở thành một lĩnh vực được kinh tế học và luật học quan tâm nghiên cứu, nhất là vấn đề pháp luật hợp đồng cần can thiệp ra sao đối với quá trình tích luỹ và sử dụng thông tin của doanh nghiệp. Đặc biệt, nếu doanh nghiệp lạm dụng sự không hiểu biết của bạn hàng để giành lợi ích kinh tế, xuất hiện tình trạng lạm dụng thông tin bất cân xứng mà pháp luật cần can thiệp để bảo vệ lẽ công bằng[5].

Như vậy, chúng tôi cho rằng, căn nguyên kiểm soát của pháp luật đối với ĐKTMC là nhằm bảo vệ giá trị đích thực (equilibrium price), được phản ánh qua việc tái phân phối lại rủi ro hợp đồng giữa bên bán/bên cung cấp và mua/bên sử dụng dịch vụ sao cho tối thiểu nhất chi phí rủi ro cho các bên. Như vậỵ, mục đích điều chỉnh pháp luật không phải là để loại trừ sự bất lợi bất hợp lý có nguồn gốc từ sức mạnh thị trường của một bên so với bên khác. Thực vậy, kể cả là doanh nghiệp độc quyền, nó cũng không cần thiết để đẩy rủi ro cho người mua, bởi vì điều này không làm giảm đi quyền lực độc quyền của doanh nghiệp đó trên thị trường. Việc điều chỉnh của pháp luật là nhằm loại bỏ một phần sự thất bại thị trường có nguồn gốc từ sự bất đối xứng về thông tin giữa các bên giao kết hợp đồng. Chi phí để có được thông tin liên quan tới nội dung của điều khoản hợp đồng soạn sẵn thường cao hơn lợi ích dự kiến. Do vậy, việc các bên bỏ qua nội dung của các điều khoản soạn sẵn là tất yếu. Hậu quả của việc bỏ qua một cách hợp lý này là làm thui chột cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để đưa ra điều khoản soạn sẵn tốt nhất. Những người sử dụng các điều khoản soạn sẵn thì lại bị cuốn vào cuộc cạnh tranh hướng tới điều khoản soạn sẵn bất công bằng nhất (kéo nhau cùng chìm “race to the bottom”). Việc trông chờ những người bán, cung cấp dịch vụ tự nguyện cung cấp thông tin, minh bạch khả năng và hoạt động của mình là sự duy ý chí. Thị trường với tư cách một cơ chế tự điều chỉnh cũng không thể giải quyết vấn đề hiệu quả bằng quy định của luật pháp.Mặt khác, nếu quan niệm rằng căn nguyên của việc điều chỉnh pháp luật là nhằm bảo vệ bên yếu thế - là bên có địa vị xã hội, kinh tế yếu hơn bên ban hành ĐKTMC, sẽ gặp phải những vấn đề khó lý giải sau đây:

Thứ nhất, nếu việc lạm dụng quyền lực đàm phán (bargaining power) là vấn đề mà pháp luật phải quan tâm thì khó lý giải tại sao vấn đề giá lại được loại trừ ra khỏi sự điều chỉnh của luật pháp. Rõ ràng, bên có lợi thế hơn sẽ sử dụng quyền lực đàm phán cao hơn để đưa ra mức giá tốt nhất cho họ và như vậy lẽ ra pháp luật phải can thiệp;

Thứ hai, các điều khoản hợp đồng soạn sẵn không chỉ được sử dụng trong các hợp đồng với NTD mà còn được sử dụng trong các hợp đồng kinh doanh mà bên sử dụng ĐKTMC không phải lúc nào cũng là bên có vị thế kinh tế mạnh hơn. Ngay cả giữa những đối tượng tham gia thị trường có uy tín cao như ngân hàng, cũng vẫn tồn tại các hợp đồng bất công bằng hay cùng mặt hàng phần mềm máy tính, nhà cung cấp là doanh nghiệp lớn hay các nhà bán lẻ thì đều áp dụng các ĐKTMC giống hệt nhau;

Thứ ba, nguyên lý của việc bảo vệ bên yếu thế, mà số đông là NTD, là nhằm điều tiết lại phân phối bất công bằng xã hội (giàu, nghèo) cũng không thực sự thuyết phục vì không phải NTD nào cũng nghèo (rất nhiều NTD mua đồ dùng đắt tiền, xa xỉ), trong khi bên bán, bên cung cấp chỉ là doanh nghiệp nhỏ hoặc nhiều ông chủ doanh nghiệp chỉ là người làm thuê ăn lương.

Như vậy, về mặt lý luận có thể kết luận rằng nguồn gốc về kinh tế của việc điều chỉnh luật pháp về ĐKTMC là nhằm hướng đến sự điều tiết giá trị công bằng, kiểm soát bất cân xứng thông tin và sự đổ vỡ của thị trường. Vì vậy, căn nguyên của việc can thiệp của pháp luật là nhằm bảo vệ bên không có cơ hội tiếp cận thông tin, hạn chế sự lạm dụng của các điều khoản hợp đồng soạn sẵn bất công bằng không mang ý nghĩa chỉ bảo vệ bên có vị trí yếu thế trên thị trường. Theo lẽ đó, chúng tôi cho rằng, pháp luật về ĐKTMC không nhất thiết chỉ đặt ra vấn đề bảo vệ bên yếu thế chủ yếu là NTD theo tư duy tiếp cận phổ biến hiện nay.

TS. Nguyễn Thị Hằng Nga

Đại học Đại Nam


[1] Florial Rodl (2013), Contractual Freedom, Contractual Justice and Contract Law (theory), http://lcp.law.duke.edu/.

[2] https://ebooks.adelaide.edu.au/a/aristotle/nicomachean/

[3] Friedrich Kessler, Contract of Adhesion- Some Thought about Freedom of Contract, Columbia University Review, (Mỹ), Vol 43, 3, 1943.

[4]Florencia Marotta-Wurgler (2008), Competition and the Quality of Standard Form Contracts: The Case of Software License Agreements, Law & Economic research paper series working paper No. 08-36, New York University school of law.gia

[5]PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: