Thứ bảy 20/06/2026 08:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập của pháp luật về chào bán cổ phần riêng lẻ

Bài viết đề cập đến các nội dung cơ bản như điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng, thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ, mức độ xử phạt đối với hành vi vi phạm việc chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty chưa đại chúng.

1. Điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng

1.1. Điều kiện về phương án chào bán
Theo quy định tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26/6/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (Nghị định số 60/2015/NĐ-CP), thì có hai trường hợp buộc tổ chức phát hành xác định rõ nhà đầu tư trong phương án chào bán để Đại hội đồng cổ đông thông qua và chỉ được thay đổi sau khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận là: (i) Chào bán cho một tổ chức, cá nhân hoặc một nhóm tổ chức, cá nhân và người có liên quan của tổ chức, cá nhân đó dẫn đến tỷ lệ sở hữu của các đối tượng này vượt mức sở hữu được quy định tại khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (sau đây gọi là Luật Chứng khoán sửa đổi); (ii) Chào bán cho một tổ chức, cá nhân hoặc một nhóm tổ chức, cá nhân và người có liên quan của tổ chức, cá nhân đó từ 10% trở lên vốn điều lệ của tổ chức phát hành trong một đợt chào bán hoặc trong các đợt chào bán trong 12 tháng gần nhất. Mục đích của quy định này nhằm tăng tính minh bạch trong các đợt chào bán riêng lẻ, đảm bảo quyền lợi cổ đông, tránh tình trạng tổ chức phát hành chào bán “âm thầm” một tỷ lệ lớn cho các đối tác chiến lược hoặc nhóm nhà đầu tư và chỉ được công bố khi “ván đã đóng thuyền”. Tuy nhiên, tổ chức phát hành và nhóm các nhà đầu tư hoàn toàn có thể “lách” được quy định này bằng việc vận dụng các quy định có liên quan khác của pháp luật thông qua cách thức: Nhà đầu tư hoặc nhóm nhà đầu tư chỉ đăng ký mua dưới tỷ lệ theo quy định ở hai trường hợp trên còn số cổ phiếu còn lại sẽ để một số tổ chức, cá nhân khác không phải là người có liên quan đứng tên đăng ký mua. Việc tách số lượng cổ phần đăng ký mua sẽ giúp cho tổ chức phát hành không phải xác định rõ nhà đầu tư trong phương án và không cần sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, trong khi nhà đầu tư hay nhóm nhà đầu tư không phải công khai danh tính. Ở góc độ pháp lý, cách làm này là hợp pháp vì các tổ chức, cá nhân đăng ký mua đều đáp ứng các điều kiện luật định, không có mối quan hệ là người có liên quan với nhóm nhà đầu tư. Ngay cả trong trường hợp có đầy đủ bằng chứng chứng minh mối quan hệ “bên trong” giữa những nhà đầu tư này với nhau thông qua các chứng từ thể hiện nguồn tiền dùng để mua cổ phiếu chào bán đều thuộc về nhóm nhà đầu tư và việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ cổ đông của các tổ chức, cá nhân này đều do nhóm nhà đầu tư đứng sau thực hiện, thì cũng không có đủ cơ sở pháp lý vững chắc để khẳng định hành vi đăng ký mua của các tổ chức, cá nhân kia đã vi phạm quy định. Trong lĩnh kinh doanh ngân hàng, nội dung nêu trên đã được xử lý một phần[1] nhưng pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật chứng khoán chưa giải quyết được vấn đề này. Đây là kẽ hở xuất phát từ việc các nhà làm luật đã dựa vào hình thức của mối quan hệ để đưa ra quy định hạn chế, trong khi bản chất mối quan hệ bên trong mới là yếu tố có tính chất quan trọng và quyết định.

Nếu xảy ra một trong hai trường hợp nêu trên, pháp luật quy định phương án chào bán cổ phần phải xác định rõ nhà đầu tư được chào bán để Đại hội đồng cổ đông thông qua nhưng lại không quy định chi tiết "mức độ rõ" là rõ về danh tính hay rõ về số lượng cổ phần mua hay cả hai? Sự không rõ ràng này sẽ gây khó khăn cho các tổ chức phát hành khi áp dụng cũng như các cơ quan quản lý khi xem xét tính hợp lệ của hồ sơ chào bán. Để khắc phục tình trạng này, các nhà làm luật nên quy định chi tiết theo hướng “phải xác định rõ danh tính nhà đầu tư và số lượng cổ phiếu dự kiến chào bán cho từng nhà đầu tư”.

1.2. Điều kiện về thời gian hạn chế chuyển nhượng và khoảng cách giữa các đợt chào bán

Thông thường, công ty đại chúng thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng đều hướng tới mục đích quan trọng nhất là huy động thêm vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh nên không đặt ra tiêu chí riêng biệt cho các đối tượng mua. Tuy nhiên, công ty đại chúng thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ ngoài mục đích bổ sung vốn kinh doanh còn mong muốn quan trọng là nhận được sự hỗ trợ về kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ mới, đào tạo nguồn nhân lực, mạng lưới khách hàng… từ phía các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Do vậy, phương án chào bán cổ phần riêng lẻ thường được các tổ chức phát hành quy định rõ tiêu chí lựa chọn các nhà đầu tư về năng lực vốn, công nghệ, quản trị… Đây cũng là lý do chính đáng, thuyết phục các cổ đông hiện hữu của công ty đại chúng từ bỏ quyền được mua thêm cổ phiếu của mình để thông qua phương án chào bán cho các đối tượng khác. Để đảm bảo phát huy tối đa ưu thế của phương thức chào bán này, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các cổ đông hiện hữu, tránh tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng thủ tục đơn giản của phương thức chào bán cổ phần riêng lẻ để thực hiện chào bán ra công chúng (thông qua việc sau khi hoàn tất chào bán riêng lẻ, các cổ đông sẽ chuyển nhượng cổ phần vừa mua cho số lượng lớn các nhà đầu tư khác), các nhà làm luật đã đặt ra quy định hạn chế chuyển nhượng đối với cổ phần chào bán riêng lẻ. Khoản 6 Điều 1 Luật Chứng khoán sửa đổi quy định: “Việc chuyển nhượng cổ phần, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ bị hạn chế tối thiểu 01 năm, kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán, trừ trường hợp chào bán riêng lẻ theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty, chuyển nhượng chứng khoán đã chào bán của cá nhân cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, chuyển nhượng chứng khoán giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, theo quyết định của tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, Luật Chứng khoán sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành lại không quy định rõ số cổ phần sau khi đã chuyển nhượng trong các trường hợp được phép chuyển nhượng nêu trên có tiếp tục bị hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn còn lại không hay được tự do chuyển nhượng tiếp. Theo quan điểm của tác giả, cần thiết phải quy định rõ theo hướng tiếp tục hạn chế quyền chuyển nhượng số cổ phần này trong thời gian còn lại để đảm bảo các mục tiêu đã đề cập ở trên.

Tương tự như vậy, các nhà làm luật cũng yêu cầu “các đợt chào bán cổ phần hoặc trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải cách nhau ít nhất 06 tháng”[2] nhưng lại không quy định rõ thời điểm bắt đầu tính thời hạn 06 tháng (là thời điểm bắt đầu chào bán của đợt gần nhất hay thời điểm kết thúc chào bán của đợt gần nhất). Thực tế, việc đặt ra quy định hạn chế này không hợp lý, vô hình chung gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình cần huy động vốn gấp để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình trong khi đã có sẵn các nhà đầu tư sẵn sàng mua tiếp cổ phiếu chào bán. Để giải quyết nhu cầu vốn, các doanh nghiệp có thể xem xét lựa chọn phương thức huy động vốn khác như phát hành trái phiếu hay vay vốn ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, các phương thức này thường đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài sản để đảm bảo cho khoản vay[3] hoặc đã vượt quá giới hạn được cấp tín dụng[4], đó là vấn đề không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được.

Mục đích chính của quy định hạn chế trên nhằm bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ lẻ và ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp tăng vốn một cách tràn lan, khó kiểm soát. Tuy vậy, trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu tăng vốn của doanh nghiệp là một nhu cầu tất yếu và việc chào bán cổ phiếu hoàn toàn dựa vào nguyên tắc thỏa thuận, tự nguyện, không có tính chất ép buộc. Các đợt chào bán cổ phần hay trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ diễn ra liên tiếp sẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực tới bất kỳ chủ thể nào nếu nó đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua, có nhà đầu tư sẵn sàng mua và thỏa mãn các điều kiện khác của pháp luật. Khi nhu cầu vốn được đáp ứng, kế hoạch kinh doanh được triển khai, doanh nghiệp có nhiều cơ hội tạo ra doanh thu và lợi nhuận. Điều này không chỉ tốt cho các cổ đông lớn, các nhà đầu tư đã bỏ tiền mua cổ phiếu mà còn tốt cho cả các cổ đông nhỏ lẻ của doanh nghiệp. Thiết nghĩ, các nhà làm luật nên xem xét bỏ quy định trên để mở rộng cơ hội đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp.

1.3. Điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ để hoán đổi các khoản nợ, để hoán đổi lấy cổ phần của công ty cổ phần hoặc hoặc hoán đổi lấy phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn

Chào bán cổ phần để hoán đổi được hiểu là việc chào bán, phát hành thêm cổ phần và dùng cổ phần đó để đổi lấy cổ phần, phần vốn góp tại doanh nghiệp khác hoặc khoản nợ của tổ chức phát hành đối với chủ nợ[5]. Trước khi Nghị định số 60/2015/NĐ-CP được ban hành, các doanh nghiệp thực hiện việc chào bán cổ phần riêng lẻ để hoán đổi khá dễ dàng khi được trao quyền tự quyết tương đối rộng trên cơ sở hành lang pháp lý còn lỏng lẻo, các điều kiện không rõ ràng. Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP yêu cầu phải có sự tham gia của tổ chức có chức năng thẩm định giá rất hợp lý, đảm bảo tính khách quan, tránh tình trạng các cổ đông lớn sử dụng quyền biểu quyết của mình để quyết định tỷ lệ hoán đổi theo chiều hướng có lợi cho các cổ đông lớn, bất lợi cho các cổ đông nhỏ lẻ. Điểm hạn chế ở đây là giới hạn tổ chức thẩm định giá chỉ bao gồm công ty chứng khoán có chức năng thẩm định giá trong khi theo quy định hiện hành, phạm vi các tổ chức có chức năng thẩm định giá được Bộ Tài chính cấp phép khá rộng. Bên cạnh đó, việc các nhà làm luật diễn giải chi tiết điều kiện chào bán cổ phần để hoán đổi lấy cổ phần của công ty phần thành“điều kiện chào bán cổ phiếu để hoán đổi lấy cổ phiếu của công ty cổ phần chưa đại chúng hoặc chào bán cho một hoặc một số cổ đông xác định để hoán đổi cổ phiếu của công ty đại chúng khác” không thật sự cần thiết, thậm chí gây khó hiểu cho chủ thể áp dụng. Theo quy định hiện hành, điều kiện chào bán cổ phiếu để hoán đổi lấy cổ phiếu của công ty chưa đại giống giống với điều kiện chào bán cổ phiếu để hoán đổi lấy cổ phiếu của công ty đại chúng. Ngoài ra, yêu cầu phải có báo cáo tài chính của công ty có cổ phần hoặc phần vốn góp được hoán đổi đã được kiểm toán và ý kiến kiểm toán chấp thuận toàn bộ, không có ý kiến ngoại trừ là hợp lý song các nhà làm luật lại không quy định rõ báo cáo tài chính năm nào và có cần báo cáo soát xét 06 tháng đầu năm không (đối với trường hợp thời điểm hoán đổi thực hiện vào khoảng thời gian 06 tháng cuối năm). Theo tác giả, cần thiết phải quy định rõ đây là báo cáo tài chính năm gần nhất, trường hợp việc chào bán thực hiện vào khoảng thời gian 06 tháng cuối năm. thì phải bổ sung thêm báo cáo soát xét 06 tháng đầu năm với ý kiến kiểm toán chấp thuận toàn bộ, không có ý kiến ngoại trừ.

2. Thủ tục chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty chưa đại chúng và công ty đại chúng

Điều 123 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty chưa đại chúng liệt kê các tài liệu tổ chức phát hành phải gửi tới cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng lại không quy định rõ loại hồ sơ là bản chính hay bản sao như trong Nghị định số 60/2015/NĐ-CP và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp cũng không có bất kỳ quy định nào đề cập tới. Nội dung bắt buộc phải có trong thông báo chào bán cổ phần riêng lẻ vừa thừa (quy định phải có “họ tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty” vì điều này là đương nhiên) lại vừa thiếu (không yêu cầu phải có nội dung về số lượng nhà đầu tư dự kiến chào bán, tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư, thời hạn thực hiện chào bán…); không quy định rõ hình thức phản hồi của cơ quan đăng ký kinh doanh (bằng văn bản hay hình thức cụ thể nào khác) sau khi nhận được hồ sơ chào bán của tổ chức phát hành.

Đối với quy định về thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP cũng xảy ra tình trạng tương tự khi không quy định rõ thông báo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đến tổ chức phát hành có phải bằng văn bản không? Điều này vô hình chung đặt nhẹ trách nhiệm của các cơ quan quản lý đối với các tổ chức phát hành và tạo điều kiện làm nảy sinh sự tùy tiện trong quá trình thực hiện.

Pháp luật hiện hành còn đặt ra yêu cầu phong tỏa tài khoản đối với tổ chức phát hành thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ. Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 4 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định số 108/2013/NĐ-CP), tổ chức phát hành thực hiện hành vi “giải tỏa hoặc sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán trước khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thông báo bằng văn bản về việc xác nhận kết quả chào bán” sẽ bị phạt từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, trách nhiệm gửi thông báo bằng văn bản về việc xác nhận kết quả chào bán của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho tổ chức phát hành lại không được quy định trong một văn bản pháp luật nào. Nghị định số 60/2015/NĐ-CP chỉ quy định tổ chức phát hành phải mở tài khoản phong tỏa và tiếp nhận vốn huy động, gửi báo cáo kết quả đợt chào bán kèm theo xác nhận của ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản phong tỏa về số tiền thu được từ đợt chào bán cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán. Như vậy, các nhà làm luật đã “bỏ quên” quy định trên mà nếu các tổ chức phát hành không chú ý sẽ rất dễ bị xử phạt. Để khắc phục vấn đề này, Nghị định số 60/2015/NĐ-CP cần bổ sung quy định về trách nhiệm của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thông báo xác nhận kết quả chào bán cho tổ chức phát hành. Nhằm tạo điều kiện cho tổ chức phát hành sớm giải tỏa được tiền trong tài khoản tăng vốn, phương thức gửi thông báo bằng văn bản nên được thay thế bằng phương thức thông báo trên trang thông tin điện tử của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và thời hạn thông báo tối đa là 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả chào bán và xác nhận phong tỏa tài khoản do tổ chức phát hành gửi đến.

3. Mức độ xử phạt đối với hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty chưa đại chúng

Nghị định số 108/2013/NĐ-CP và Nghị định số 145/2016/NĐ-CP ngày 01/11/2016 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 108/2013/NĐ-CP quy định tương đối chặt chẽ và đầy đủ các hành vi vi phạm của tổ chức phát hành trong quá trình thực hiện hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Ngoài việc phạt tiền, thì tổ chức phát hành còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc hậu quả buộc thu hồi cổ phần đã chào bán, hoàn trả tiền gốc và lãi cho nhà đầu tư tùy theo mức độ vi phạm. Trong khi đó, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư chỉ quy định xử phạt đối với hai hành vi “không thông báo hoặc thông báo không đúng thời hạn đến cơ quan đăng ký kinh doanh về việc chào bán cổ phần riêng lẻ đối với công ty cổ phần không phải là công ty cổ phần đại chúng”[6] với mức xử phạt rất thấp, từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Một loạt các hành vi vi phạm của tổ chức phát hành như: Tài liệu cung cấp cho cơ quan đăng ký kinh doanh có thông tin sai sự thật hoặc che giấu sự thật, thực hiện chào bán cổ phiếu khi chưa được cấp có thẩm quyền chấp thuận phương án phát hành, làm giả hồ sơ tài liệu… không được đề cập và chưa có chế tài xử lý. Có thể nói, việc giám sát và quản lý hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty chưa đại chúng đang bị bỏ ngỏ, tiềm ẩn nguy cơ trở thành “kẽ hở” cho các công ty chưa đại chúng lợi dụng. Vấn đề đặt ra cho các nhà làm luật là phải sớm bổ sung quy định chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm của tổ chức phát hành trong quá trình thực hiện hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ, đảm bảo tính răn đe của pháp luật.

Trong gần hai mươi năm tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, chúng ta đã quá tập trung vào việc xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng mà “sao nhãng” việc hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Chúng ta công nhận vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng trong việc cung cấp hàng hóa và tạo tính thanh khoản cho thị trường nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ. Những bất cập trong quy định hiện hành về chào bán cổ phần riêng lẻ như đã phân tích ở trên ảnh hưởng không nhỏ đến các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nói riêng và công tác quản lý nhà nước nói chung, rất cần được các nhà làm luật quan tâm xem xét để hoàn thiện. Có như vậy, những ưu thế của phương thức chào bán này mới có điều kiện phát huy tối đa và tính toàn diện, thống nhất của pháp luật mới được đảm bảo.

ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo

Công ty cổ phần Chứng khoán Đại Dương


[1] Xem khoản 15 Điều 5 Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

[2] Khoản 6 Điều 1 Luật Chứng khoán sửa đổi.

[3] Xem Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

[4] Xem Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[5]Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ký ngày 26/6/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP.

[6] Nghị định số 50/2016/NĐ-CP ngày 01/06/2016, điểm b Khoản 1 Điều 32

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.

Theo dõi chúng tôi trên: