Thứ hai 21/09/2026 16:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập của pháp luật về chào bán cổ phần riêng lẻ

Bài viết đề cập đến các nội dung cơ bản như điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng, thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ, mức độ xử phạt đối với hành vi vi phạm việc chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty chưa đại chúng.

1. Điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng

1.1. Điều kiện về phương án chào bán
Theo quy định tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26/6/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (Nghị định số 60/2015/NĐ-CP), thì có hai trường hợp buộc tổ chức phát hành xác định rõ nhà đầu tư trong phương án chào bán để Đại hội đồng cổ đông thông qua và chỉ được thay đổi sau khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận là: (i) Chào bán cho một tổ chức, cá nhân hoặc một nhóm tổ chức, cá nhân và người có liên quan của tổ chức, cá nhân đó dẫn đến tỷ lệ sở hữu của các đối tượng này vượt mức sở hữu được quy định tại khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (sau đây gọi là Luật Chứng khoán sửa đổi); (ii) Chào bán cho một tổ chức, cá nhân hoặc một nhóm tổ chức, cá nhân và người có liên quan của tổ chức, cá nhân đó từ 10% trở lên vốn điều lệ của tổ chức phát hành trong một đợt chào bán hoặc trong các đợt chào bán trong 12 tháng gần nhất. Mục đích của quy định này nhằm tăng tính minh bạch trong các đợt chào bán riêng lẻ, đảm bảo quyền lợi cổ đông, tránh tình trạng tổ chức phát hành chào bán “âm thầm” một tỷ lệ lớn cho các đối tác chiến lược hoặc nhóm nhà đầu tư và chỉ được công bố khi “ván đã đóng thuyền”. Tuy nhiên, tổ chức phát hành và nhóm các nhà đầu tư hoàn toàn có thể “lách” được quy định này bằng việc vận dụng các quy định có liên quan khác của pháp luật thông qua cách thức: Nhà đầu tư hoặc nhóm nhà đầu tư chỉ đăng ký mua dưới tỷ lệ theo quy định ở hai trường hợp trên còn số cổ phiếu còn lại sẽ để một số tổ chức, cá nhân khác không phải là người có liên quan đứng tên đăng ký mua. Việc tách số lượng cổ phần đăng ký mua sẽ giúp cho tổ chức phát hành không phải xác định rõ nhà đầu tư trong phương án và không cần sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, trong khi nhà đầu tư hay nhóm nhà đầu tư không phải công khai danh tính. Ở góc độ pháp lý, cách làm này là hợp pháp vì các tổ chức, cá nhân đăng ký mua đều đáp ứng các điều kiện luật định, không có mối quan hệ là người có liên quan với nhóm nhà đầu tư. Ngay cả trong trường hợp có đầy đủ bằng chứng chứng minh mối quan hệ “bên trong” giữa những nhà đầu tư này với nhau thông qua các chứng từ thể hiện nguồn tiền dùng để mua cổ phiếu chào bán đều thuộc về nhóm nhà đầu tư và việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ cổ đông của các tổ chức, cá nhân này đều do nhóm nhà đầu tư đứng sau thực hiện, thì cũng không có đủ cơ sở pháp lý vững chắc để khẳng định hành vi đăng ký mua của các tổ chức, cá nhân kia đã vi phạm quy định. Trong lĩnh kinh doanh ngân hàng, nội dung nêu trên đã được xử lý một phần[1] nhưng pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật chứng khoán chưa giải quyết được vấn đề này. Đây là kẽ hở xuất phát từ việc các nhà làm luật đã dựa vào hình thức của mối quan hệ để đưa ra quy định hạn chế, trong khi bản chất mối quan hệ bên trong mới là yếu tố có tính chất quan trọng và quyết định.

Nếu xảy ra một trong hai trường hợp nêu trên, pháp luật quy định phương án chào bán cổ phần phải xác định rõ nhà đầu tư được chào bán để Đại hội đồng cổ đông thông qua nhưng lại không quy định chi tiết "mức độ rõ" là rõ về danh tính hay rõ về số lượng cổ phần mua hay cả hai? Sự không rõ ràng này sẽ gây khó khăn cho các tổ chức phát hành khi áp dụng cũng như các cơ quan quản lý khi xem xét tính hợp lệ của hồ sơ chào bán. Để khắc phục tình trạng này, các nhà làm luật nên quy định chi tiết theo hướng “phải xác định rõ danh tính nhà đầu tư và số lượng cổ phiếu dự kiến chào bán cho từng nhà đầu tư”.

1.2. Điều kiện về thời gian hạn chế chuyển nhượng và khoảng cách giữa các đợt chào bán

Thông thường, công ty đại chúng thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng đều hướng tới mục đích quan trọng nhất là huy động thêm vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh nên không đặt ra tiêu chí riêng biệt cho các đối tượng mua. Tuy nhiên, công ty đại chúng thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ ngoài mục đích bổ sung vốn kinh doanh còn mong muốn quan trọng là nhận được sự hỗ trợ về kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ mới, đào tạo nguồn nhân lực, mạng lưới khách hàng… từ phía các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Do vậy, phương án chào bán cổ phần riêng lẻ thường được các tổ chức phát hành quy định rõ tiêu chí lựa chọn các nhà đầu tư về năng lực vốn, công nghệ, quản trị… Đây cũng là lý do chính đáng, thuyết phục các cổ đông hiện hữu của công ty đại chúng từ bỏ quyền được mua thêm cổ phiếu của mình để thông qua phương án chào bán cho các đối tượng khác. Để đảm bảo phát huy tối đa ưu thế của phương thức chào bán này, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các cổ đông hiện hữu, tránh tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng thủ tục đơn giản của phương thức chào bán cổ phần riêng lẻ để thực hiện chào bán ra công chúng (thông qua việc sau khi hoàn tất chào bán riêng lẻ, các cổ đông sẽ chuyển nhượng cổ phần vừa mua cho số lượng lớn các nhà đầu tư khác), các nhà làm luật đã đặt ra quy định hạn chế chuyển nhượng đối với cổ phần chào bán riêng lẻ. Khoản 6 Điều 1 Luật Chứng khoán sửa đổi quy định: “Việc chuyển nhượng cổ phần, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ bị hạn chế tối thiểu 01 năm, kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán, trừ trường hợp chào bán riêng lẻ theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty, chuyển nhượng chứng khoán đã chào bán của cá nhân cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, chuyển nhượng chứng khoán giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, theo quyết định của tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, Luật Chứng khoán sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành lại không quy định rõ số cổ phần sau khi đã chuyển nhượng trong các trường hợp được phép chuyển nhượng nêu trên có tiếp tục bị hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn còn lại không hay được tự do chuyển nhượng tiếp. Theo quan điểm của tác giả, cần thiết phải quy định rõ theo hướng tiếp tục hạn chế quyền chuyển nhượng số cổ phần này trong thời gian còn lại để đảm bảo các mục tiêu đã đề cập ở trên.

Tương tự như vậy, các nhà làm luật cũng yêu cầu “các đợt chào bán cổ phần hoặc trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải cách nhau ít nhất 06 tháng”[2] nhưng lại không quy định rõ thời điểm bắt đầu tính thời hạn 06 tháng (là thời điểm bắt đầu chào bán của đợt gần nhất hay thời điểm kết thúc chào bán của đợt gần nhất). Thực tế, việc đặt ra quy định hạn chế này không hợp lý, vô hình chung gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình cần huy động vốn gấp để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình trong khi đã có sẵn các nhà đầu tư sẵn sàng mua tiếp cổ phiếu chào bán. Để giải quyết nhu cầu vốn, các doanh nghiệp có thể xem xét lựa chọn phương thức huy động vốn khác như phát hành trái phiếu hay vay vốn ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, các phương thức này thường đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài sản để đảm bảo cho khoản vay[3] hoặc đã vượt quá giới hạn được cấp tín dụng[4], đó là vấn đề không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được.

Mục đích chính của quy định hạn chế trên nhằm bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ lẻ và ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp tăng vốn một cách tràn lan, khó kiểm soát. Tuy vậy, trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu tăng vốn của doanh nghiệp là một nhu cầu tất yếu và việc chào bán cổ phiếu hoàn toàn dựa vào nguyên tắc thỏa thuận, tự nguyện, không có tính chất ép buộc. Các đợt chào bán cổ phần hay trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ diễn ra liên tiếp sẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực tới bất kỳ chủ thể nào nếu nó đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua, có nhà đầu tư sẵn sàng mua và thỏa mãn các điều kiện khác của pháp luật. Khi nhu cầu vốn được đáp ứng, kế hoạch kinh doanh được triển khai, doanh nghiệp có nhiều cơ hội tạo ra doanh thu và lợi nhuận. Điều này không chỉ tốt cho các cổ đông lớn, các nhà đầu tư đã bỏ tiền mua cổ phiếu mà còn tốt cho cả các cổ đông nhỏ lẻ của doanh nghiệp. Thiết nghĩ, các nhà làm luật nên xem xét bỏ quy định trên để mở rộng cơ hội đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp.

1.3. Điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ để hoán đổi các khoản nợ, để hoán đổi lấy cổ phần của công ty cổ phần hoặc hoặc hoán đổi lấy phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn

Chào bán cổ phần để hoán đổi được hiểu là việc chào bán, phát hành thêm cổ phần và dùng cổ phần đó để đổi lấy cổ phần, phần vốn góp tại doanh nghiệp khác hoặc khoản nợ của tổ chức phát hành đối với chủ nợ[5]. Trước khi Nghị định số 60/2015/NĐ-CP được ban hành, các doanh nghiệp thực hiện việc chào bán cổ phần riêng lẻ để hoán đổi khá dễ dàng khi được trao quyền tự quyết tương đối rộng trên cơ sở hành lang pháp lý còn lỏng lẻo, các điều kiện không rõ ràng. Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP yêu cầu phải có sự tham gia của tổ chức có chức năng thẩm định giá rất hợp lý, đảm bảo tính khách quan, tránh tình trạng các cổ đông lớn sử dụng quyền biểu quyết của mình để quyết định tỷ lệ hoán đổi theo chiều hướng có lợi cho các cổ đông lớn, bất lợi cho các cổ đông nhỏ lẻ. Điểm hạn chế ở đây là giới hạn tổ chức thẩm định giá chỉ bao gồm công ty chứng khoán có chức năng thẩm định giá trong khi theo quy định hiện hành, phạm vi các tổ chức có chức năng thẩm định giá được Bộ Tài chính cấp phép khá rộng. Bên cạnh đó, việc các nhà làm luật diễn giải chi tiết điều kiện chào bán cổ phần để hoán đổi lấy cổ phần của công ty phần thành“điều kiện chào bán cổ phiếu để hoán đổi lấy cổ phiếu của công ty cổ phần chưa đại chúng hoặc chào bán cho một hoặc một số cổ đông xác định để hoán đổi cổ phiếu của công ty đại chúng khác” không thật sự cần thiết, thậm chí gây khó hiểu cho chủ thể áp dụng. Theo quy định hiện hành, điều kiện chào bán cổ phiếu để hoán đổi lấy cổ phiếu của công ty chưa đại giống giống với điều kiện chào bán cổ phiếu để hoán đổi lấy cổ phiếu của công ty đại chúng. Ngoài ra, yêu cầu phải có báo cáo tài chính của công ty có cổ phần hoặc phần vốn góp được hoán đổi đã được kiểm toán và ý kiến kiểm toán chấp thuận toàn bộ, không có ý kiến ngoại trừ là hợp lý song các nhà làm luật lại không quy định rõ báo cáo tài chính năm nào và có cần báo cáo soát xét 06 tháng đầu năm không (đối với trường hợp thời điểm hoán đổi thực hiện vào khoảng thời gian 06 tháng cuối năm). Theo tác giả, cần thiết phải quy định rõ đây là báo cáo tài chính năm gần nhất, trường hợp việc chào bán thực hiện vào khoảng thời gian 06 tháng cuối năm. thì phải bổ sung thêm báo cáo soát xét 06 tháng đầu năm với ý kiến kiểm toán chấp thuận toàn bộ, không có ý kiến ngoại trừ.

2. Thủ tục chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty chưa đại chúng và công ty đại chúng

Điều 123 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty chưa đại chúng liệt kê các tài liệu tổ chức phát hành phải gửi tới cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng lại không quy định rõ loại hồ sơ là bản chính hay bản sao như trong Nghị định số 60/2015/NĐ-CP và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp cũng không có bất kỳ quy định nào đề cập tới. Nội dung bắt buộc phải có trong thông báo chào bán cổ phần riêng lẻ vừa thừa (quy định phải có “họ tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty” vì điều này là đương nhiên) lại vừa thiếu (không yêu cầu phải có nội dung về số lượng nhà đầu tư dự kiến chào bán, tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư, thời hạn thực hiện chào bán…); không quy định rõ hình thức phản hồi của cơ quan đăng ký kinh doanh (bằng văn bản hay hình thức cụ thể nào khác) sau khi nhận được hồ sơ chào bán của tổ chức phát hành.

Đối với quy định về thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP cũng xảy ra tình trạng tương tự khi không quy định rõ thông báo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đến tổ chức phát hành có phải bằng văn bản không? Điều này vô hình chung đặt nhẹ trách nhiệm của các cơ quan quản lý đối với các tổ chức phát hành và tạo điều kiện làm nảy sinh sự tùy tiện trong quá trình thực hiện.

Pháp luật hiện hành còn đặt ra yêu cầu phong tỏa tài khoản đối với tổ chức phát hành thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ. Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 4 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định số 108/2013/NĐ-CP), tổ chức phát hành thực hiện hành vi “giải tỏa hoặc sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán trước khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thông báo bằng văn bản về việc xác nhận kết quả chào bán” sẽ bị phạt từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, trách nhiệm gửi thông báo bằng văn bản về việc xác nhận kết quả chào bán của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho tổ chức phát hành lại không được quy định trong một văn bản pháp luật nào. Nghị định số 60/2015/NĐ-CP chỉ quy định tổ chức phát hành phải mở tài khoản phong tỏa và tiếp nhận vốn huy động, gửi báo cáo kết quả đợt chào bán kèm theo xác nhận của ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản phong tỏa về số tiền thu được từ đợt chào bán cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán. Như vậy, các nhà làm luật đã “bỏ quên” quy định trên mà nếu các tổ chức phát hành không chú ý sẽ rất dễ bị xử phạt. Để khắc phục vấn đề này, Nghị định số 60/2015/NĐ-CP cần bổ sung quy định về trách nhiệm của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thông báo xác nhận kết quả chào bán cho tổ chức phát hành. Nhằm tạo điều kiện cho tổ chức phát hành sớm giải tỏa được tiền trong tài khoản tăng vốn, phương thức gửi thông báo bằng văn bản nên được thay thế bằng phương thức thông báo trên trang thông tin điện tử của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và thời hạn thông báo tối đa là 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả chào bán và xác nhận phong tỏa tài khoản do tổ chức phát hành gửi đến.

3. Mức độ xử phạt đối với hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty chưa đại chúng

Nghị định số 108/2013/NĐ-CP và Nghị định số 145/2016/NĐ-CP ngày 01/11/2016 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 108/2013/NĐ-CP quy định tương đối chặt chẽ và đầy đủ các hành vi vi phạm của tổ chức phát hành trong quá trình thực hiện hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Ngoài việc phạt tiền, thì tổ chức phát hành còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc hậu quả buộc thu hồi cổ phần đã chào bán, hoàn trả tiền gốc và lãi cho nhà đầu tư tùy theo mức độ vi phạm. Trong khi đó, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư chỉ quy định xử phạt đối với hai hành vi “không thông báo hoặc thông báo không đúng thời hạn đến cơ quan đăng ký kinh doanh về việc chào bán cổ phần riêng lẻ đối với công ty cổ phần không phải là công ty cổ phần đại chúng”[6] với mức xử phạt rất thấp, từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Một loạt các hành vi vi phạm của tổ chức phát hành như: Tài liệu cung cấp cho cơ quan đăng ký kinh doanh có thông tin sai sự thật hoặc che giấu sự thật, thực hiện chào bán cổ phiếu khi chưa được cấp có thẩm quyền chấp thuận phương án phát hành, làm giả hồ sơ tài liệu… không được đề cập và chưa có chế tài xử lý. Có thể nói, việc giám sát và quản lý hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty chưa đại chúng đang bị bỏ ngỏ, tiềm ẩn nguy cơ trở thành “kẽ hở” cho các công ty chưa đại chúng lợi dụng. Vấn đề đặt ra cho các nhà làm luật là phải sớm bổ sung quy định chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm của tổ chức phát hành trong quá trình thực hiện hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ, đảm bảo tính răn đe của pháp luật.

Trong gần hai mươi năm tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, chúng ta đã quá tập trung vào việc xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng mà “sao nhãng” việc hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Chúng ta công nhận vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng trong việc cung cấp hàng hóa và tạo tính thanh khoản cho thị trường nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ. Những bất cập trong quy định hiện hành về chào bán cổ phần riêng lẻ như đã phân tích ở trên ảnh hưởng không nhỏ đến các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nói riêng và công tác quản lý nhà nước nói chung, rất cần được các nhà làm luật quan tâm xem xét để hoàn thiện. Có như vậy, những ưu thế của phương thức chào bán này mới có điều kiện phát huy tối đa và tính toàn diện, thống nhất của pháp luật mới được đảm bảo.

ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo

Công ty cổ phần Chứng khoán Đại Dương


[1] Xem khoản 15 Điều 5 Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

[2] Khoản 6 Điều 1 Luật Chứng khoán sửa đổi.

[3] Xem Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

[4] Xem Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[5]Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ký ngày 26/6/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP.

[6] Nghị định số 50/2016/NĐ-CP ngày 01/06/2016, điểm b Khoản 1 Điều 32

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: