Thứ năm 12/03/2026 17:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập của pháp luật về chào bán cổ phần riêng lẻ

Bài viết đề cập đến các nội dung cơ bản như điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng, thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ, mức độ xử phạt đối với hành vi vi phạm việc chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty chưa đại chúng.

1. Điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng

1.1. Điều kiện về phương án chào bán
Theo quy định tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26/6/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (Nghị định số 60/2015/NĐ-CP), thì có hai trường hợp buộc tổ chức phát hành xác định rõ nhà đầu tư trong phương án chào bán để Đại hội đồng cổ đông thông qua và chỉ được thay đổi sau khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận là: (i) Chào bán cho một tổ chức, cá nhân hoặc một nhóm tổ chức, cá nhân và người có liên quan của tổ chức, cá nhân đó dẫn đến tỷ lệ sở hữu của các đối tượng này vượt mức sở hữu được quy định tại khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (sau đây gọi là Luật Chứng khoán sửa đổi); (ii) Chào bán cho một tổ chức, cá nhân hoặc một nhóm tổ chức, cá nhân và người có liên quan của tổ chức, cá nhân đó từ 10% trở lên vốn điều lệ của tổ chức phát hành trong một đợt chào bán hoặc trong các đợt chào bán trong 12 tháng gần nhất. Mục đích của quy định này nhằm tăng tính minh bạch trong các đợt chào bán riêng lẻ, đảm bảo quyền lợi cổ đông, tránh tình trạng tổ chức phát hành chào bán “âm thầm” một tỷ lệ lớn cho các đối tác chiến lược hoặc nhóm nhà đầu tư và chỉ được công bố khi “ván đã đóng thuyền”. Tuy nhiên, tổ chức phát hành và nhóm các nhà đầu tư hoàn toàn có thể “lách” được quy định này bằng việc vận dụng các quy định có liên quan khác của pháp luật thông qua cách thức: Nhà đầu tư hoặc nhóm nhà đầu tư chỉ đăng ký mua dưới tỷ lệ theo quy định ở hai trường hợp trên còn số cổ phiếu còn lại sẽ để một số tổ chức, cá nhân khác không phải là người có liên quan đứng tên đăng ký mua. Việc tách số lượng cổ phần đăng ký mua sẽ giúp cho tổ chức phát hành không phải xác định rõ nhà đầu tư trong phương án và không cần sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, trong khi nhà đầu tư hay nhóm nhà đầu tư không phải công khai danh tính. Ở góc độ pháp lý, cách làm này là hợp pháp vì các tổ chức, cá nhân đăng ký mua đều đáp ứng các điều kiện luật định, không có mối quan hệ là người có liên quan với nhóm nhà đầu tư. Ngay cả trong trường hợp có đầy đủ bằng chứng chứng minh mối quan hệ “bên trong” giữa những nhà đầu tư này với nhau thông qua các chứng từ thể hiện nguồn tiền dùng để mua cổ phiếu chào bán đều thuộc về nhóm nhà đầu tư và việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ cổ đông của các tổ chức, cá nhân này đều do nhóm nhà đầu tư đứng sau thực hiện, thì cũng không có đủ cơ sở pháp lý vững chắc để khẳng định hành vi đăng ký mua của các tổ chức, cá nhân kia đã vi phạm quy định. Trong lĩnh kinh doanh ngân hàng, nội dung nêu trên đã được xử lý một phần[1] nhưng pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật chứng khoán chưa giải quyết được vấn đề này. Đây là kẽ hở xuất phát từ việc các nhà làm luật đã dựa vào hình thức của mối quan hệ để đưa ra quy định hạn chế, trong khi bản chất mối quan hệ bên trong mới là yếu tố có tính chất quan trọng và quyết định.

Nếu xảy ra một trong hai trường hợp nêu trên, pháp luật quy định phương án chào bán cổ phần phải xác định rõ nhà đầu tư được chào bán để Đại hội đồng cổ đông thông qua nhưng lại không quy định chi tiết "mức độ rõ" là rõ về danh tính hay rõ về số lượng cổ phần mua hay cả hai? Sự không rõ ràng này sẽ gây khó khăn cho các tổ chức phát hành khi áp dụng cũng như các cơ quan quản lý khi xem xét tính hợp lệ của hồ sơ chào bán. Để khắc phục tình trạng này, các nhà làm luật nên quy định chi tiết theo hướng “phải xác định rõ danh tính nhà đầu tư và số lượng cổ phiếu dự kiến chào bán cho từng nhà đầu tư”.

1.2. Điều kiện về thời gian hạn chế chuyển nhượng và khoảng cách giữa các đợt chào bán

Thông thường, công ty đại chúng thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng đều hướng tới mục đích quan trọng nhất là huy động thêm vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh nên không đặt ra tiêu chí riêng biệt cho các đối tượng mua. Tuy nhiên, công ty đại chúng thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ ngoài mục đích bổ sung vốn kinh doanh còn mong muốn quan trọng là nhận được sự hỗ trợ về kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ mới, đào tạo nguồn nhân lực, mạng lưới khách hàng… từ phía các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Do vậy, phương án chào bán cổ phần riêng lẻ thường được các tổ chức phát hành quy định rõ tiêu chí lựa chọn các nhà đầu tư về năng lực vốn, công nghệ, quản trị… Đây cũng là lý do chính đáng, thuyết phục các cổ đông hiện hữu của công ty đại chúng từ bỏ quyền được mua thêm cổ phiếu của mình để thông qua phương án chào bán cho các đối tượng khác. Để đảm bảo phát huy tối đa ưu thế của phương thức chào bán này, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các cổ đông hiện hữu, tránh tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng thủ tục đơn giản của phương thức chào bán cổ phần riêng lẻ để thực hiện chào bán ra công chúng (thông qua việc sau khi hoàn tất chào bán riêng lẻ, các cổ đông sẽ chuyển nhượng cổ phần vừa mua cho số lượng lớn các nhà đầu tư khác), các nhà làm luật đã đặt ra quy định hạn chế chuyển nhượng đối với cổ phần chào bán riêng lẻ. Khoản 6 Điều 1 Luật Chứng khoán sửa đổi quy định: “Việc chuyển nhượng cổ phần, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ bị hạn chế tối thiểu 01 năm, kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán, trừ trường hợp chào bán riêng lẻ theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty, chuyển nhượng chứng khoán đã chào bán của cá nhân cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, chuyển nhượng chứng khoán giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, theo quyết định của tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, Luật Chứng khoán sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành lại không quy định rõ số cổ phần sau khi đã chuyển nhượng trong các trường hợp được phép chuyển nhượng nêu trên có tiếp tục bị hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn còn lại không hay được tự do chuyển nhượng tiếp. Theo quan điểm của tác giả, cần thiết phải quy định rõ theo hướng tiếp tục hạn chế quyền chuyển nhượng số cổ phần này trong thời gian còn lại để đảm bảo các mục tiêu đã đề cập ở trên.

Tương tự như vậy, các nhà làm luật cũng yêu cầu “các đợt chào bán cổ phần hoặc trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải cách nhau ít nhất 06 tháng”[2] nhưng lại không quy định rõ thời điểm bắt đầu tính thời hạn 06 tháng (là thời điểm bắt đầu chào bán của đợt gần nhất hay thời điểm kết thúc chào bán của đợt gần nhất). Thực tế, việc đặt ra quy định hạn chế này không hợp lý, vô hình chung gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình cần huy động vốn gấp để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình trong khi đã có sẵn các nhà đầu tư sẵn sàng mua tiếp cổ phiếu chào bán. Để giải quyết nhu cầu vốn, các doanh nghiệp có thể xem xét lựa chọn phương thức huy động vốn khác như phát hành trái phiếu hay vay vốn ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, các phương thức này thường đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài sản để đảm bảo cho khoản vay[3] hoặc đã vượt quá giới hạn được cấp tín dụng[4], đó là vấn đề không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được.

Mục đích chính của quy định hạn chế trên nhằm bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ lẻ và ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp tăng vốn một cách tràn lan, khó kiểm soát. Tuy vậy, trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu tăng vốn của doanh nghiệp là một nhu cầu tất yếu và việc chào bán cổ phiếu hoàn toàn dựa vào nguyên tắc thỏa thuận, tự nguyện, không có tính chất ép buộc. Các đợt chào bán cổ phần hay trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ diễn ra liên tiếp sẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực tới bất kỳ chủ thể nào nếu nó đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua, có nhà đầu tư sẵn sàng mua và thỏa mãn các điều kiện khác của pháp luật. Khi nhu cầu vốn được đáp ứng, kế hoạch kinh doanh được triển khai, doanh nghiệp có nhiều cơ hội tạo ra doanh thu và lợi nhuận. Điều này không chỉ tốt cho các cổ đông lớn, các nhà đầu tư đã bỏ tiền mua cổ phiếu mà còn tốt cho cả các cổ đông nhỏ lẻ của doanh nghiệp. Thiết nghĩ, các nhà làm luật nên xem xét bỏ quy định trên để mở rộng cơ hội đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp.

1.3. Điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ để hoán đổi các khoản nợ, để hoán đổi lấy cổ phần của công ty cổ phần hoặc hoặc hoán đổi lấy phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn

Chào bán cổ phần để hoán đổi được hiểu là việc chào bán, phát hành thêm cổ phần và dùng cổ phần đó để đổi lấy cổ phần, phần vốn góp tại doanh nghiệp khác hoặc khoản nợ của tổ chức phát hành đối với chủ nợ[5]. Trước khi Nghị định số 60/2015/NĐ-CP được ban hành, các doanh nghiệp thực hiện việc chào bán cổ phần riêng lẻ để hoán đổi khá dễ dàng khi được trao quyền tự quyết tương đối rộng trên cơ sở hành lang pháp lý còn lỏng lẻo, các điều kiện không rõ ràng. Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP yêu cầu phải có sự tham gia của tổ chức có chức năng thẩm định giá rất hợp lý, đảm bảo tính khách quan, tránh tình trạng các cổ đông lớn sử dụng quyền biểu quyết của mình để quyết định tỷ lệ hoán đổi theo chiều hướng có lợi cho các cổ đông lớn, bất lợi cho các cổ đông nhỏ lẻ. Điểm hạn chế ở đây là giới hạn tổ chức thẩm định giá chỉ bao gồm công ty chứng khoán có chức năng thẩm định giá trong khi theo quy định hiện hành, phạm vi các tổ chức có chức năng thẩm định giá được Bộ Tài chính cấp phép khá rộng. Bên cạnh đó, việc các nhà làm luật diễn giải chi tiết điều kiện chào bán cổ phần để hoán đổi lấy cổ phần của công ty phần thành“điều kiện chào bán cổ phiếu để hoán đổi lấy cổ phiếu của công ty cổ phần chưa đại chúng hoặc chào bán cho một hoặc một số cổ đông xác định để hoán đổi cổ phiếu của công ty đại chúng khác” không thật sự cần thiết, thậm chí gây khó hiểu cho chủ thể áp dụng. Theo quy định hiện hành, điều kiện chào bán cổ phiếu để hoán đổi lấy cổ phiếu của công ty chưa đại giống giống với điều kiện chào bán cổ phiếu để hoán đổi lấy cổ phiếu của công ty đại chúng. Ngoài ra, yêu cầu phải có báo cáo tài chính của công ty có cổ phần hoặc phần vốn góp được hoán đổi đã được kiểm toán và ý kiến kiểm toán chấp thuận toàn bộ, không có ý kiến ngoại trừ là hợp lý song các nhà làm luật lại không quy định rõ báo cáo tài chính năm nào và có cần báo cáo soát xét 06 tháng đầu năm không (đối với trường hợp thời điểm hoán đổi thực hiện vào khoảng thời gian 06 tháng cuối năm). Theo tác giả, cần thiết phải quy định rõ đây là báo cáo tài chính năm gần nhất, trường hợp việc chào bán thực hiện vào khoảng thời gian 06 tháng cuối năm. thì phải bổ sung thêm báo cáo soát xét 06 tháng đầu năm với ý kiến kiểm toán chấp thuận toàn bộ, không có ý kiến ngoại trừ.

2. Thủ tục chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty chưa đại chúng và công ty đại chúng

Điều 123 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty chưa đại chúng liệt kê các tài liệu tổ chức phát hành phải gửi tới cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng lại không quy định rõ loại hồ sơ là bản chính hay bản sao như trong Nghị định số 60/2015/NĐ-CP và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp cũng không có bất kỳ quy định nào đề cập tới. Nội dung bắt buộc phải có trong thông báo chào bán cổ phần riêng lẻ vừa thừa (quy định phải có “họ tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty” vì điều này là đương nhiên) lại vừa thiếu (không yêu cầu phải có nội dung về số lượng nhà đầu tư dự kiến chào bán, tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư, thời hạn thực hiện chào bán…); không quy định rõ hình thức phản hồi của cơ quan đăng ký kinh doanh (bằng văn bản hay hình thức cụ thể nào khác) sau khi nhận được hồ sơ chào bán của tổ chức phát hành.

Đối với quy định về thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP cũng xảy ra tình trạng tương tự khi không quy định rõ thông báo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đến tổ chức phát hành có phải bằng văn bản không? Điều này vô hình chung đặt nhẹ trách nhiệm của các cơ quan quản lý đối với các tổ chức phát hành và tạo điều kiện làm nảy sinh sự tùy tiện trong quá trình thực hiện.

Pháp luật hiện hành còn đặt ra yêu cầu phong tỏa tài khoản đối với tổ chức phát hành thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ. Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 4 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định số 108/2013/NĐ-CP), tổ chức phát hành thực hiện hành vi “giải tỏa hoặc sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán trước khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thông báo bằng văn bản về việc xác nhận kết quả chào bán” sẽ bị phạt từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, trách nhiệm gửi thông báo bằng văn bản về việc xác nhận kết quả chào bán của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho tổ chức phát hành lại không được quy định trong một văn bản pháp luật nào. Nghị định số 60/2015/NĐ-CP chỉ quy định tổ chức phát hành phải mở tài khoản phong tỏa và tiếp nhận vốn huy động, gửi báo cáo kết quả đợt chào bán kèm theo xác nhận của ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản phong tỏa về số tiền thu được từ đợt chào bán cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán. Như vậy, các nhà làm luật đã “bỏ quên” quy định trên mà nếu các tổ chức phát hành không chú ý sẽ rất dễ bị xử phạt. Để khắc phục vấn đề này, Nghị định số 60/2015/NĐ-CP cần bổ sung quy định về trách nhiệm của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thông báo xác nhận kết quả chào bán cho tổ chức phát hành. Nhằm tạo điều kiện cho tổ chức phát hành sớm giải tỏa được tiền trong tài khoản tăng vốn, phương thức gửi thông báo bằng văn bản nên được thay thế bằng phương thức thông báo trên trang thông tin điện tử của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và thời hạn thông báo tối đa là 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả chào bán và xác nhận phong tỏa tài khoản do tổ chức phát hành gửi đến.

3. Mức độ xử phạt đối với hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty chưa đại chúng

Nghị định số 108/2013/NĐ-CP và Nghị định số 145/2016/NĐ-CP ngày 01/11/2016 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 108/2013/NĐ-CP quy định tương đối chặt chẽ và đầy đủ các hành vi vi phạm của tổ chức phát hành trong quá trình thực hiện hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Ngoài việc phạt tiền, thì tổ chức phát hành còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc hậu quả buộc thu hồi cổ phần đã chào bán, hoàn trả tiền gốc và lãi cho nhà đầu tư tùy theo mức độ vi phạm. Trong khi đó, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư chỉ quy định xử phạt đối với hai hành vi “không thông báo hoặc thông báo không đúng thời hạn đến cơ quan đăng ký kinh doanh về việc chào bán cổ phần riêng lẻ đối với công ty cổ phần không phải là công ty cổ phần đại chúng”[6] với mức xử phạt rất thấp, từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Một loạt các hành vi vi phạm của tổ chức phát hành như: Tài liệu cung cấp cho cơ quan đăng ký kinh doanh có thông tin sai sự thật hoặc che giấu sự thật, thực hiện chào bán cổ phiếu khi chưa được cấp có thẩm quyền chấp thuận phương án phát hành, làm giả hồ sơ tài liệu… không được đề cập và chưa có chế tài xử lý. Có thể nói, việc giám sát và quản lý hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty chưa đại chúng đang bị bỏ ngỏ, tiềm ẩn nguy cơ trở thành “kẽ hở” cho các công ty chưa đại chúng lợi dụng. Vấn đề đặt ra cho các nhà làm luật là phải sớm bổ sung quy định chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm của tổ chức phát hành trong quá trình thực hiện hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ, đảm bảo tính răn đe của pháp luật.

Trong gần hai mươi năm tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, chúng ta đã quá tập trung vào việc xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng mà “sao nhãng” việc hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Chúng ta công nhận vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng trong việc cung cấp hàng hóa và tạo tính thanh khoản cho thị trường nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ. Những bất cập trong quy định hiện hành về chào bán cổ phần riêng lẻ như đã phân tích ở trên ảnh hưởng không nhỏ đến các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nói riêng và công tác quản lý nhà nước nói chung, rất cần được các nhà làm luật quan tâm xem xét để hoàn thiện. Có như vậy, những ưu thế của phương thức chào bán này mới có điều kiện phát huy tối đa và tính toàn diện, thống nhất của pháp luật mới được đảm bảo.

ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo

Công ty cổ phần Chứng khoán Đại Dương


[1] Xem khoản 15 Điều 5 Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

[2] Khoản 6 Điều 1 Luật Chứng khoán sửa đổi.

[3] Xem Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

[4] Xem Điều 128 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[5]Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ký ngày 26/6/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP.

[6] Nghị định số 50/2016/NĐ-CP ngày 01/06/2016, điểm b Khoản 1 Điều 32

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: