Thứ sáu 23/10/2026 23:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp đầu tư theo hình thức đối tác công tư

Tóm tắt: Bài viết phân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp đầu tư theo hình thức đối tác công tư và một số khuyến nghị.


Abstract: The article analyzes limitations, inadequacies of Vietnamese law on investment dispute resolution under Public Private Partnership and some recommendations.

Quy định điều chỉnh tranh chấp đầu tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam hiện nay nằm chủ yếu tại Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (Nghị định số 15/2015/NĐ-CP), Luật Đầu tư năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Trọng tài thương mại năm 2010,… ngoài ra, còn nằm trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

1. Các loại tranh chấp

Căn cứ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 63 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP thì có thể hiểu các tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 63 sẽ bao trùm các tranh chấp được nêu tại khoản 2 và khoản 3 Điều 63. Tuy nhiên, nếu kết hợp nội dung của cả ba khoản của Điều 63 thì các tranh chấp được nêu trong khoản 3 lại không nằm trong các tranh chấp được nêu trong khoản 1.

Nội dung tại khoản 1 Điều 63 quy định về phương thức giải quyết tranh chấp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp dự án và tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án với các tổ chức kinh tế tham gia thực hiện dự án. Khoản 1 kết thúc bằng cụm từ “trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này”, như vậy, có thể hiểu nội dung quy định tại khoản 2 và khoản 3 là tiếp theo nội dung quy định tại khoản 1, vì vẫn đang đề cập đến các bên trong các tranh chấp được nêu trong phần đầu của khoản 1.

Có thể nhận thấy rằng, một điểm khác biệt giữa quy định của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP so với quy định của Luật Đầu tư năm 2014 là có thêm tranh chấp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và doanh nghiệp dự án, doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư nước ngoài thành lập. Câu hỏi đặt ra là, tư cách pháp lý của doanh nghiệp dự án khi tham gia vào các tranh chấp này là như thế nào? Doanh nghiệp dự án có được coi là nhà đầu tư không? Liệu việc thêm doanh nghiệp dự án vào các tranh chấp đầu tư có làm ảnh hưởng đến tính thống nhất của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP so với Luật Đầu tư năm 2014 không?

Có ý kiến cho rằng, doanh nghiệp dự án có thể coi là đại diện của nhà đầu tư bởi doanh nghiệp dự án là doanh nghiệp do nhà đầu tư thành lập để thực hiện dự án[1]. Căn cứ Điều 42 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP, sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp để thực hiện dự án phù hợp với mục tiêu, phạm vi hoạt động đã thỏa thuận tại hợp đồng dự án. Nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp dự án sau khi đã tham gia đấu thầu dự án và trúng thầu. Như vậy, hợp đồng dự án được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư. Doanh nghiệp dự án có thể được thành lập bởi nhiều nhà đầu tư cùng trúng thầu thực hiện dự án đối tác công tư, trong trường hợp nhà thầu liên danh. Việc triển khai thực hiện dự án lại do doanh nghiệp dự án đứng ra thực hiện với tư cách pháp lý độc lập. Về bản chất pháp lý, doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư thành lập là tổ chức kinh tế. Nếu doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư nước ngoài thành lập thì doanh nghiệp đó là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2014. Nếu doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư trong nước thành lập thì doanh nghiệp đó có tư cách của nhà đầu tư trong nước. Trong trường hợp liên danh giữa các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước thì doanh nghiệp dự án là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tùy vào từng trường hợp mà doanh nghiệp đó có thể là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc khoản 1 Điều 23 hoặc thuộc khoản 2 Điều 23. Theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP, thì doanh nghiệp dự án có thể tham gia là bên của hợp đồng hoặc tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trong việc triển khai thực hiện dự án. Do đó, khi tranh chấp phát sinh, cần căn cứ vào quyền và nghĩa vụ về giải quyết tranh chấp của nhà đầu tư thành lập ra doanh nghiệp dự án để xác định phương thức giải quyết tranh chấp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Về tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án với tổ chức và cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 3 Điều 63. Nếu xét riêng về quy định của Điều 63 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP, có thể thấy, các tranh chấp được nêu trong khoản 3 đã vượt qua khỏi giới hạn các tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án và các tổ chức kinh tế được nêu trong khoản 1 Điều 63, bằng việc thêm vào các tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án với tổ chức và với cá nhân nước ngoài. Như vậy, hai quy định này đã có sự mâu thuẫn, vì có những chủ thể tham gia tranh chấp trong quy định tại khoản 3 Điều 63, nhưng lại không nằm trong các chủ thể được nêu tại khoản 1 Điều 63 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu có thể hiểu các quy định tại khoản 3 Điều 63 tách rời với quy định tại khoản 1 không?

Nếu xét kết hợp với nội dung quy định tại khoản 1 Điều 63, thì nội dung quy định tại khoản 3 là tiếp nối nội dung quy định tại khoản 1, bởi cụm từ “trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này” được nêu ở cuối khoản 1. Cụm từ này thể hiện có sự kết nối giữa quy định của khoản 2 và khoản 3 với quy định tại khoản 1. Có thể thấy quy định tại khoản 2 đã được soạn thảo theo cách hiểu này. Các tranh chấp được nêu trong khoản 2 là tập con của các tranh chấp được nêu trong khoản 1. Nếu tách khoản 2 ra khỏi nội dung quy định tại khoản 1 thì các tranh chấp quy định tại khoản 2 sẽ không bắt buộc phải được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải trước khi sử dụng phương thức trọng tài hoặc Tòa án. Trong khi đây được coi là nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh được nêu tại khoản 1 Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014[2]. Nguyên tắc này được áp dụng cho cả các tranh chấp được phát sinh từ việc thực hiện dự án đối tác công tư vì Nghị định số 15/2015/NĐ-CP được ban hành trên cơ sở quy định của Luật Đầu tư năm 2014. Điều 27 Luật Đầu tư năm 2014 quy định về đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP là một trong số các hình thức đầu tư và cho phép Chính phủ quy định chi tiết về hình thức này thông qua Nghị định số 15/2015/NĐ-CP. Do vậy, quy định của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP không được trái với các quy định của Luật Đầu tư năm 2014. Chính vì lý do đó, không thể hiểu nội dung khoản 2 tách rời ra khỏi khoản 1, xét về câu chữ cũng như về nội dung của các quy định này.

Thế nhưng, nếu xét về nội dung tại khoản 3 thấy rằng, nội dung này lại có thể tách ra khỏi khoản 1 bởi hai lý do: Thứ nhất, các tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án với tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc tranh chấp giữa các nhà đầu tư hoàn toàn không trùng với tranh chấp được liệt kê trong khoản 1 Điều 63. Chỉ có loại tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án với các tổ chức kinh tế Việt Nam được nêu trong khoản 3 là thuộc tập con của các loại tranh chấp được nêu ở khoản 1; thứ hai, khoản 3 đã viện dẫn quy định của Luật Đầu tư để xác định các phương thức giải quyết tranh chấp được nêu tại khoản này. Do vậy, nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải đối với các tranh chấp nêu trong khoản 3 vẫn được bảo đảm thực hiện. Trong trường hợp này, việc liên kết giữa khoản 1 và khoản 3 dường như không có ý nghĩa.

Tuy nhiên, nếu so sánh với quy định của Luật Đầu tư năm 2014, quy định của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP chưa có sự thống nhất khi nêu tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án với tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức kinh tế Việt Nam. Câu hỏi đặt ra là các tranh chấp này được xếp vào nhóm nào trong các tranh chấp được liệt kê tại Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014? Bởi căn cứ Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014, chỉ có hai loại tranh chấp là tranh chấp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các loại nhà đầu tư và tranh chấp giữa các loại nhà đầu tư với nhau. Trong khi Nghị định số 15/2015/NĐ-CP lại viện dẫn quy định của Luật Đầu tư để xác định phương thức giải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án với tổ chức, cá nhân nước ngoài, với tổ chức kinh tế Việt Nam. Nếu các tranh chấp được nêu trong Nghị định số 15/2015/NĐ-CP vượt ra ngoài các tranh chấp quy định của Luật Đầu tư thì việc viện dẫn phương thức giải quyết tranh chấp của Luật Đầu tư sẽ lại không phù hợp. Bởi các phương thức giải quyết tranh chấp này chỉ giới hạn áp dụng cho những tranh chấp được nêu tại Luật Đầu tư.

Ngoài ra, với việc sử dụng thuật ngữ “tổ chức kinh tế Việt Nam” trong Nghị định số 15/2015/NĐ-CP cũng tạo ra sự khó hiểu. Bởi trong pháp luật đầu tư của Việt Nam không phân biệt tổ chức kinh tế Việt Nam với tổ chức kinh tế nước ngoài, mà phân biệt tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và không có vốn đầu tư nước ngoài; tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc khoản 1 Điều 23 và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc khoản 2 Điều 23. Như vậy, khi Nghị định số 15/2015/NĐ-CP quy định “tổ chức kinh tế Việt Nam” thì có thể thể hiểu bao trùm cả các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc khoản 1 Điều 23. Với cách hiểu này, vừa tạo ra sự chồng chéo về các loại tranh chấp được liệt kê, vừa tạo ra những mâu thuẫn ngay chính trong nội dung quy định và mâu thuẫn với quy định của Luật Đầu tư năm 2014. Do vậy, khoản 1, khoản 2 và khoản 3 cần phải được soạn thảo cho phù hợp với nhau và với quy định của Luật Đầu tư năm 2014 về các loại tranh chấp được điều chỉnh.

2. Các phương thức giải quyết tranh chấp

Liên quan đến phương thức giải quyết tranh chấp, có thể thấy quy định của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP chưa thống nhất với quy định của Luật Đầu tư năm 2014. Nghị định số 15/2015/NĐ-CP cho phép các bên được quyền giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài hoặc Tòa án Việt Nam hoặc hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập. Xét trong mối quan hệ với quy định tại Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014 thấy rằng, quy định của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP dường như đã thu hẹp quyền của các bên trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp. Căn cứ khoản 4 Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014, tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. Như vậy, Luật Đầu tư cho phép các bên được quyền lựa chọn cả trọng tài nước ngoài, trọng tài quốc tế, nếu các bên có thỏa thuận trước trong hợp đồng hoặc có quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, chứ không bị bó hẹp ở phương thức Trọng tài hoặc Tòa án Việt Nam hoặc hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập.

Trong trường hợp tranh chấp giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư nước ngoài thành lập, doanh nghiệp dự án tiếp nhận và thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư thì doanh nghiệp dự án sẽ có quyền của nhà đầu tư nước ngoài trong việc sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ, nếu nhà đầu tư nước ngoài được sử dụng phương thức trọng tài nước ngoài thì doanh nghiệp dự án cũng sẽ được sử dụng phương thức này. Khi tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng dự án cũng như các hợp đồng bảo lãnh nghĩa vụ của nhà đầu tư, của doanh nghiệp dự án, thì quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của nhà đầu tư sẽ được chuyển sang cho doanh nghiệp dự án. Doanh nghiệp dự án sẽ tiếp nhận các quyền này khi tham gia giải quyết tranh chấp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nói một cách khác, các quyền và nghĩa vụ trong xác định phương thức giải quyết tranh chấp của nhà đầu tư sẽ được chuyển sang cho doanh nghiệp dự án. Cũng lưu ý rằng, quyền này được thực hiện trên cơ sở quan hệ hợp đồng dự án giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với doanh nghiệp dự án hoặc với nhà đầu tư, chứ không áp dụng trong tranh chấp về đầu tư giữa doanh nghiệp dự án với các chủ thể khác.

Như vậy, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP đã quy định chung phương thức giải quyết tranh chấp cho hai loại tranh chấp. Hệ quả dẫn đến là các bên trong tranh chấp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư nước ngoài thành lập lại có quyền giống như các bên trong tranh chấp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nước ngoài.

Quay trở lại phương thức giải quyết tranh chấp mà các bên được quyền sử dụng, có thể thấy, phương thức “hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận” trong Nghị định số 15/2015/NĐ-CP cần phải được làm rõ. Xét về bản chất của hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập, câu hỏi đặt ra là hội đồng trọng tài này được hiểu như thế nào? Hình thức “hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận” khác gì so với hình thức “Trọng tài Việt Nam” hoặc “trọng tài nước ngoài”? Khoản 4 Điều 63 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP nêu rõ: “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài theo quy định tại hợp đồng dự án và các hợp đồng có liên quan là tranh chấp thương mại”. Do vậy, phương thức trọng tài được sử dụng để giải quyết các tranh chấp thương mại sẽ tuân theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, theo đó Luật này có nêu ra hai hình thức giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài là trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc.

Với cách giải thích nêu trên, hình thức “hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận” của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP có thể giống với hình thức trọng tài vụ việc được nêu trong Luật Trọng tài thương mại năm 2010, vì đều là hình thức do các bên thỏa thuận thành lập. Nếu vậy, hình thức này sẽ khác gì so với hình thức “Trọng tài Việt Nam” hay “trọng tài nước ngoài”? Căn cứ Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, trọng tài nước ngoài là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam. Còn trọng tài Việt Nam là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài Việt Nam. Trọng tài Việt Nam có thể được được thành lập dưới hình thức trọng tài vụ việc hoặc trọng tài quy chế. Tương tự như vậy, trọng tài nước ngoài cũng có thể được thành lập dưới hình thức trọng tài vụ việc hoặc trọng tài quy chế. Vậy thì hình thức “hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận” cũng có thể được hiểu là một hình thức Trọng tài Việt Nam nếu được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc trọng tài nước ngoài nếu được hình thành theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài. Vậy, phân biệt “hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập” với Trọng tài Việt Nam hay trọng tài nước ngoài như thế nào? Thực ra, hình thức hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận đã được nêu trong Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014, theo đó các hình thức trọng tài bao gồm: Trọng tài Việt Nam; trọng tài nước ngoài; trọng tài quốc tế; trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại chưa có giải thích rõ về trọng tài quốc tế, hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập và chưa có quy định về việc công nhận và cho thi hành các phán quyết, quyết định của hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập hay của trọng tài quốc tế.

Có ý kiến cho rằng, việc công nhận và cho thi hành phán quyết, quyết định của trọng tài quốc tế sẽ được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế. Thế nhưng, căn cứ Luật Điều ước quốc tế năm 2015, quy định của điều ước quốc tế không thể áp dụng trực tiếp trên lãnh thổ Việt Nam nếu không có quyết định của chủ thể có thẩm quyền về việc áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó trên lãnh thổ Việt Nam. Do vậy, nếu không có quyết định này được ban hành tại thời điểm ban hành quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế thì nội dung của điều ước quốc tế về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài quốc tế sẽ khó có thể được thực hiện.

3. Một số kiến nghị

Từ những phân tích nêu trên, để khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp đầu tư theo hình thức đối tác công tư, cần thực hiện những nội dung sau:

Thứ nhất, sửa quy định của khoản 3 Điều 63 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về các loại tranh chấp sao cho thống nhất với khoản 1 Điều 63 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP và với quy định của Luật Đầu tư năm 2014. Có thể cân nhắc phương án bỏ khoản 3 ra khỏi đoạn cuối của khoản 1. Khi đó, cần nêu rõ các phương thức giải quyết các tranh chấp được nêu trong khoản 3 cho phù hợp với quy định của Luật Đầu tư.

Thứ hai, cần bổ sung phương thức giải quyết tranh chấp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài đối với tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện dự án công tư. Như đã phân tích ở phần trên, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP đã thu hẹp quyền của các bên trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp so với quy định của Luật Đầu tư. Do vậy, để đảm bảo tính thống nhất với Luật Đầu tư năm 2014, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP cần bổ sung các phương thức giải quyết tranh chấp là trọng tài quốc tế cho các bên khi giải quyết tranh chấp giữa các bên.

Thứ ba, bổ sung giải thích pháp lý về trọng tài quốc tế và hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập. Việc không giải thích rõ về các hình thức giải quyết tranh chấp sẽ gây khó khăn cho các bên trong việc hiểu và sử dụng các phương thức này. Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả không đi sâu vào phân tích để tìm ra khái niệm trọng tài quốc tế và hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập. Tuy nhiên, hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập không phải là Trọng tài Việt Nam, trọng tài nước ngoài hay trọng tài quốc tế. Như đã phân tích ở trên, nếu pháp luật thành lập nên hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận là pháp luật của một quốc gia nào đó (Việt Nam hoặc nước ngoài), thì hội đồng trọng tài đó sẽ được coi là Trọng tài Việt Nam hoặc trọng tài nước ngoài, dưới hình thức trọng tài vụ việc. Nếu là trọng tài quốc tế thì trọng tài đó được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế. Do vậy, hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận phải được thành lập trên cơ sở những quy tắc mà các bên tự thỏa thuận. Việc phân định các hình thức giải quyết tranh chấp này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định cách thức công nhận và cho thi hành phán quyết và quyết định của trọng tài trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ tư, bổ sung quy định về công nhận và cho thi hành phán quyết, quyết định của trọng tài quốc tế, của hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc thiếu vắng các quy định này sẽ gây khó khăn cho việc công nhận và cho thi hành các quyết định, phán quyết này ở Việt Nam.

Trần Thị Thu Phương

Đại học Thương mại

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Thế Quân, “Doanh nghiệp dự án trong dự án hợp tác công – tư ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế”, Tạp chí Xây dựng, số 11/2014, xem trên trang web: https://www.researchgate.net/publication/283558629_Doanh_nghiep_du_an_trong_du_an_hop_tac_cong_-_tu_o_Viet_Nam_ va_kinh_nghiem_quoc_te_Project_Company_in_PPP_Projects_in_Vietnam_and_lessons_from_other_countries, truy cập ngày 25/4/2018.

[2]. Khoản 1 Điều 14 Luật Đầu tư: “Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Trường hợp không thương lượng, hòa giải được thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài và Tòa án theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: