Thứ năm 15/01/2026 09:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biên bản vi phạm hành chính - Khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị

Biên bản vi phạm hành chính - Khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị

Bài viết trao đổi về nội dung của biên bản vi phạm hành chính, những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, từ đó, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc này.

1. Nội dung biên bản vi phạm hành chính

Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (sau đây gọi tắt là Luật Xử lý vi phạm hành chính), biên bản vi phạm hành chính có các nội dung chủ yếu, bao gồm[1]: (i) Thời gian, địa điểm lập biên bản; (ii) Thông tin về người lập biên bản, cá nhân, tổ chức vi phạm và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; (iii) Thời gian, địa điểm xảy ra vi phạm; mô tả vụ việc; hành vi vi phạm; (iv) Lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại; (v) Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính; (vi) Quyền và thời hạn giải trình.

Theo quy định của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 118/2021/NĐ-CP), biên bản vi phạm hành chính phải bao gồm các nội dung cơ bản sau đây[2]: (i) Ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; (ii) Họ và tên, chức vụ người lập biên bản; (iii) Thông tin về cá nhân, tổ chức vi phạm và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; (iv) Giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; (v) Mô tả cụ thể, đầy đủ vụ việc, hành vi vi phạm; (vi) Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính; (vii) Lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm (đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền); (viii) Lời khai của người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại (nếu có); ý kiến của cha mẹ hoặc của người giám hộ trong trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính (nếu có); (ix) Quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm, cơ quan của người có thẩm quyền tiếp nhận giải trình; trường hợp cá nhân, tổ chức không yêu cầu giải trình, thì phải ghi rõ ý kiến vào biên bản; (x) Thời gian, địa điểm người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm phải có mặt để giải quyết vụ việc; (xi) Họ và tên người nhận, thời gian nhận biên bản trong trường hợp biên bản được giao trực tiếp.

Trên cơ sở các nội dung biên bản vi phạm hành chính nêu trên, Nghị định số 118/2021/NĐ-CP đã ban hành mẫu biên bản số 01 (MBB01). Tuy nhiên, thời gian qua đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Thứ nhất, theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ không phải là nội dung bắt buộc phải có trong biên bản vi phạm hành chính và hiện nay, tại MBB01 không có thông tin ghi về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Vậy, khi phát hiện vụ việc vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ mà người lập biên bản vi phạm hành chính muốn ghi thông tin vào biên bản để trình người có thẩm quyền xử phạt thì có ghi được không và nếu được thì ghi ở đâu trong biên bản vi phạm hành chính. Liên quan đến vấn đề này, hiện có hai ý kiến khác nhau:

Ý kiến thứ nhất cho rằng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ là thông tin không bắt buộc phải ghi trong biên bản vi phạm hành chính. Tuy nhiên, tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, nếu xác định được các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ để áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, thì người có thẩm quyền đang thụ lý vụ việc có thể ghi các tình tiết này vào trong biên bản vi phạm hành chính. Theo đó, người có thẩm quyền đang thụ lý vụ việc có thể ghi các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ vào sau mục 7 (Ý kiến trình bày của cá nhân/tổ chức bị thiệt hại (nếu có)), MBB01.

Ý kiến thứ hai cho rằng, do tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ không phải là nội dung bắt buộc phải có trong biên bản vi phạm hành chính và tại MBB01 cũng không có thông tin ghi về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nên khi phát hiện vụ việc vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì người lập biên bản vi phạm hành chính không ghi vào biên bản vi phạm hành chính. Khi xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xác minh các tình tiết, trong đó có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tại mẫu biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính (MBB05) cũng có mục ghi thông tin về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng.

Tác giả đồng tình với ý kiến thứ nhất, vì mặc dù trong nội dung biên bản vi phạm hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP không có nội dung về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tuy nhiên, việc ghi tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ đối với cá nhân, tổ chức vi phạm tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính là rất cần thiết để bảo đảm sự nghiêm minh, công bằng, đúng đối tượng vi phạm, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm hành chính và hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra. Đồng thời, việc ghi nhận tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính còn hạn chế tình trạng phải lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính trong trường phải phải xác minh tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, bảo đảm tính kịp thời trong xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ hai, theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, trong biên bản vi phạm hành chính có nội dung về “quyền và thời hạn giải trình”[3], “quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm, cơ quan của người có thẩm quyền tiếp nhận giải trình; trường hợp cá nhân, tổ chức không yêu cầu giải trình, thì phải ghi rõ ý kiến vào biên bản”[4]. Bên cạnh đó, Nghị định số 118/2021/NĐ-CP cũng quy định: “Trường hợp khi lập biên bản vi phạm hành chính chưa xác định được người có thẩm quyền xử phạt, thì cá nhân, tổ chức vi phạm gửi văn bản giải trình đến người có thẩm quyền lập biên bản. Người có thẩm quyền lập biên bản chuyển hồ sơ vụ việc cùng văn bản giải trình cho người có thẩm quyền ngay khi xác định được thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính” (khoản 4 Điều 12 ). Tuy nhiên, hiện nay, theo hướng dẫn tại chú thích số 15 MBB01 ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP về việc cá nhân, người đại diện của tổ chức vi phạm gửi văn bản giải trình/văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thì ghi là “Ghi chức danh và tên cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc”. Đây là một khó khăn, vướng mắc đối với người có thẩm quyền khi lập biên bản vi phạm hành chính trong trường hợp vụ việc thuộc trường hợp giải trình mà chưa xác định được người có thẩm quyền xử phạt vì chưa có sự thống nhất giữa quy định tại nội dung của khoản 4 Điều 17 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP và hướng dẫn về cách ghi tại MBB01.

2. Thời hạn lập và chuyển biên bản vi phạm hành chính

Theo quy định tại Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính: “Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này”.

Để hướng dẫn chi tiết về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định:

- Biên bản vi phạm hành chính được lập trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi phát hiện vi phạm hành chính;

- Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc có phạm vi rộng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, thì biên bản vi phạm hành chính được lập trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi phát hiện vi phạm hành chính;

- Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan, thì biên bản vi phạm hành chính được lập trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày xác định được đối tượng vi phạm bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc nhận được kết quả xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan;

- Trường hợp vi phạm hành chính xảy ra trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa, thì người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu có trách nhiệm lập biên bản vi phạm hành chính và chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa về đến sân bay, bến cảng, nhà ga;

- Trường hợp một vụ việc có nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau, trong đó có hành vi được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan, thì biên bản vi phạm hành chính được lập đối với các hành vi trong vụ việc đó trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày xác định được đối tượng vi phạm bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc nhận được đầy đủ kết quả xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan.

Như vậy, Nghị định số 118/2021/NĐ-CP đã quy định cụ thể thời hạn phải lập biên bản vi phạm hành chính (02 ngày làm việc, 03 ngày làm việc, 05 ngày làm việc, tùy từng trường hợp). Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện các quy định này cho thấy, vì nhiều lý do khác nhau, biên bản vi phạm hành chính được lập thường bị quá thời hạn theo quy định của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP. Vậy, trong trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập vi phạm về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính, thì người có thẩm quyền xử phạt có được ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hay không? Liên quan đến vấn đề này, hiện nay, có hai ý kiến khác nhau:

Ý kiến thứ nhất cho rằng, biên bản vi phạm hành chính được lập quá thời hạn theo quy định của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP thì không xử phạt đối với trường hợp này. Tuy nhiên, việc không ban hành quyết định xử phạt sẽ dẫn đến hậu quả là hành vi vi phạm hành chính còn thời hiệu xử phạt nhưng không bị xử phạt và vụ việc vi phạm vẫn tồn tại trên thực tế. Nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc pháp luật có quy định tịch thu mà không xử lý tịch thu được phải trả lại cho đối tượng vi phạm là bất hợp lý, chưa bảo đảm nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính của Luật Xử lý vi phạm hành chính: “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật”[5]. Đồng thời, chưua phù hợp với quy định tại Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính vì việc lập biên bản vi phạm hành chính quá thời hạn không thuộc trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Ý kiến thứ hai cho rằng, vi phạm về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính là vi phạm về thủ tục, không làm thay đổi bản chất của vụ việc là có hành vi vi phạm và phải bị xử phạt vi phạm hành chính để bảo đảm nguyên tắc xử phạt quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành trên cơ sở biên bản vi phạm hành chính được lập quá thời hạn quy định thì người có thẩm quyền căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 13 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP để hủy bỏ quyết định này. Sau đó, nếu có căn cứ ban hành quyết định mới thì người có thẩm quyền xử phạt lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP và ban hành quyết định xử phạt mới trên cơ sở biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính.

Tác giả cho rằng, trường hợp đã quá thời hạn lập biên bản thì không được lập biên bản vi phạm hành chính, nếu đã lập biên bản vi phạm hành chính quá thời hạn theo quy định tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP thì cũng không ban hành quyết định xử phạt đối với trường hợp này, vì có ban hành quyết định xử phạt thì quyết định xử phạt cũng sẽ bị hủy bỏ toàn bộ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 13 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP. Việc xác định nếu có căn cứ ban hành quyết định mới trong trường hợp vi phạm về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính (vi phạm về thủ tục xử phạt) thì người có thẩm quyền xử phạt lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP và ban hành quyết định xử phạt mới trên cơ sở biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính là rất khó khăn đối với người có thẩm quyền xử phạt. Một bất cập nữa là, hiện nay, nếu căn cứ vào Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính về những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì vi phạm về thủ tục ban hành quyết định xử phạt không thuộc trường hợp để không ban hành quyết định xử phạt. Do vậy, trong thời gian tới, cần nghiên cứu, có hướng xử lý giữa các quy định pháp luật liên quan đến thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

Bên cạnh quy định về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cũng quy định về việc chuyển biên bản vi phạm hành chính: “Trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa”[6].

Quy định về thời hạn chuyển biên bản vi phạm hành chính và các tài liệu khác cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm như trên là quá ngắn, khó khăn trong tổ chức thực hiện, đặc biệt là đối với những địa phương điều kiện địa hình đi lại khó khăn; hành vi vi phạm phát hiện vào các ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ lễ và ở những khu vực xa trung tâm, đi lại khó khăn, một số nơi chưa đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thật, thông tin[7].

3. Một số đề xuất, kiến nghị

3.1. Về xây dựng, hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, nghiên cứu bổ sung “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ” là một trong những nội dung cơ bản, chủ yếu của biên bản vi phạm hành chính được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP. Trên cơ sở đó, tại MBB01, chỉnh sửa, bổ sung mục về “tình tiết giảm nhẹ”, “tình tiết tăng nặng”.

Thứ hai, nghiên cứu, bổ sung tại Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính “vi phạm quy định về thủ tục ban hành quyết định xử phạt” thuộc trường hợp không ra quyết định xử phạt. Trên cơ sở đó, người có thẩm quyền có căn cứ để ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc tang vật, phương tiện mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó.

Thứ ba, nghiên cứu, sửa đổi quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP về thời hạn chuyển biên bản vi phạm hành chính và các tài liệu khác cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, phù hợp với thực tiễn thực hiện và bảo đảm tính khả thi trong quá trình tổ chức thực hiện, đặc biệt là tại những nơi điều kiện địa hình đi lại khó khăn; hành vi vi phạm phát hiện vào các ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ lễ và ở những khu vực xa trung tâm, đi lại khó khăn, một số nơi chưa đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thật, thông tin.

Thứ tư, nghiên cứu, chỉnh sửa hướng dẫn tại chú thích số 15 MBB01 ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP về việc cá nhân, người đại diện của tổ chức vi phạm gửi văn bản giải trình/văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, bảo đảm phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP theo hướng:

- Trường hợp đã xác định được người có thẩm quyền xử phạt thì ghi chức danh và tên cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt.

- Trường hợp chưa xác định được người có thẩm quyền xử phạt thì yêu cầu cá nhân, tổ chức vi phạm gửi văn bản giải trình và ghi chức danh và tên của người lập biên bản vi phạm hành chính đó.

3.2. Về tổ chức thi hành pháp luật

Thứ nhất, tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tập huấn, bồi dưỡng về những kỹ năng chuyên sâu về xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có kỹ năng chuyên sâu về biên bản vi phạm hành chính, bảo đảm tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền, tránh một quy định pháp luật dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau.

Thứ hai, quan tâm, chú trọng công tác kiểm tra và tự kiểm tra các hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính nói chung và biên bản vi phạm hành chính nói riêng, bảo đảm việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính khách quan, công bằng, nghiêm minh, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Tâm

Trưởng phòng Phòng Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội

[1]. Xem: Khoản 3 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

[2]. Xem: Khoản 4 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP.

[3]. Xem: Điểm e khoản 3 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

[4]. Xem: Điểm i khoản 4 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP.

[5]. Xem: Điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

[6]. Xem: Khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính; điểm a khoản 6 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP.

[7]. Xem: Bộ Tư pháp (2023), Báo cáo số 62/BC-BTP ngày 01/3/2023 của Bộ Tư pháp báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2022, Phụ lục III.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: