Thứ tư 29/04/2026 22:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biên bản vi phạm hành chính - Khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị

Biên bản vi phạm hành chính - Khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị

Bài viết trao đổi về nội dung của biên bản vi phạm hành chính, những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, từ đó, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc này.

1. Nội dung biên bản vi phạm hành chính

Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (sau đây gọi tắt là Luật Xử lý vi phạm hành chính), biên bản vi phạm hành chính có các nội dung chủ yếu, bao gồm[1]: (i) Thời gian, địa điểm lập biên bản; (ii) Thông tin về người lập biên bản, cá nhân, tổ chức vi phạm và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; (iii) Thời gian, địa điểm xảy ra vi phạm; mô tả vụ việc; hành vi vi phạm; (iv) Lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại; (v) Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính; (vi) Quyền và thời hạn giải trình.

Theo quy định của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 118/2021/NĐ-CP), biên bản vi phạm hành chính phải bao gồm các nội dung cơ bản sau đây[2]: (i) Ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; (ii) Họ và tên, chức vụ người lập biên bản; (iii) Thông tin về cá nhân, tổ chức vi phạm và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; (iv) Giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; (v) Mô tả cụ thể, đầy đủ vụ việc, hành vi vi phạm; (vi) Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính; (vii) Lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm (đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền); (viii) Lời khai của người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại (nếu có); ý kiến của cha mẹ hoặc của người giám hộ trong trường hợp người chưa thành niên vi phạm hành chính (nếu có); (ix) Quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm, cơ quan của người có thẩm quyền tiếp nhận giải trình; trường hợp cá nhân, tổ chức không yêu cầu giải trình, thì phải ghi rõ ý kiến vào biên bản; (x) Thời gian, địa điểm người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm phải có mặt để giải quyết vụ việc; (xi) Họ và tên người nhận, thời gian nhận biên bản trong trường hợp biên bản được giao trực tiếp.

Trên cơ sở các nội dung biên bản vi phạm hành chính nêu trên, Nghị định số 118/2021/NĐ-CP đã ban hành mẫu biên bản số 01 (MBB01). Tuy nhiên, thời gian qua đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Thứ nhất, theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ không phải là nội dung bắt buộc phải có trong biên bản vi phạm hành chính và hiện nay, tại MBB01 không có thông tin ghi về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Vậy, khi phát hiện vụ việc vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ mà người lập biên bản vi phạm hành chính muốn ghi thông tin vào biên bản để trình người có thẩm quyền xử phạt thì có ghi được không và nếu được thì ghi ở đâu trong biên bản vi phạm hành chính. Liên quan đến vấn đề này, hiện có hai ý kiến khác nhau:

Ý kiến thứ nhất cho rằng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ là thông tin không bắt buộc phải ghi trong biên bản vi phạm hành chính. Tuy nhiên, tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính, nếu xác định được các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ để áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, thì người có thẩm quyền đang thụ lý vụ việc có thể ghi các tình tiết này vào trong biên bản vi phạm hành chính. Theo đó, người có thẩm quyền đang thụ lý vụ việc có thể ghi các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ vào sau mục 7 (Ý kiến trình bày của cá nhân/tổ chức bị thiệt hại (nếu có)), MBB01.

Ý kiến thứ hai cho rằng, do tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ không phải là nội dung bắt buộc phải có trong biên bản vi phạm hành chính và tại MBB01 cũng không có thông tin ghi về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nên khi phát hiện vụ việc vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì người lập biên bản vi phạm hành chính không ghi vào biên bản vi phạm hành chính. Khi xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xác minh các tình tiết, trong đó có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tại mẫu biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính (MBB05) cũng có mục ghi thông tin về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng.

Tác giả đồng tình với ý kiến thứ nhất, vì mặc dù trong nội dung biên bản vi phạm hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP không có nội dung về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tuy nhiên, việc ghi tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ đối với cá nhân, tổ chức vi phạm tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính là rất cần thiết để bảo đảm sự nghiêm minh, công bằng, đúng đối tượng vi phạm, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm hành chính và hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra. Đồng thời, việc ghi nhận tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính còn hạn chế tình trạng phải lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính trong trường phải phải xác minh tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, bảo đảm tính kịp thời trong xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ hai, theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, trong biên bản vi phạm hành chính có nội dung về “quyền và thời hạn giải trình”[3], “quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm, cơ quan của người có thẩm quyền tiếp nhận giải trình; trường hợp cá nhân, tổ chức không yêu cầu giải trình, thì phải ghi rõ ý kiến vào biên bản”[4]. Bên cạnh đó, Nghị định số 118/2021/NĐ-CP cũng quy định: “Trường hợp khi lập biên bản vi phạm hành chính chưa xác định được người có thẩm quyền xử phạt, thì cá nhân, tổ chức vi phạm gửi văn bản giải trình đến người có thẩm quyền lập biên bản. Người có thẩm quyền lập biên bản chuyển hồ sơ vụ việc cùng văn bản giải trình cho người có thẩm quyền ngay khi xác định được thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính” (khoản 4 Điều 12 ). Tuy nhiên, hiện nay, theo hướng dẫn tại chú thích số 15 MBB01 ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP về việc cá nhân, người đại diện của tổ chức vi phạm gửi văn bản giải trình/văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thì ghi là “Ghi chức danh và tên cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ việc”. Đây là một khó khăn, vướng mắc đối với người có thẩm quyền khi lập biên bản vi phạm hành chính trong trường hợp vụ việc thuộc trường hợp giải trình mà chưa xác định được người có thẩm quyền xử phạt vì chưa có sự thống nhất giữa quy định tại nội dung của khoản 4 Điều 17 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP và hướng dẫn về cách ghi tại MBB01.

2. Thời hạn lập và chuyển biên bản vi phạm hành chính

Theo quy định tại Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính: “Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này”.

Để hướng dẫn chi tiết về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính, khoản 2 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định:

- Biên bản vi phạm hành chính được lập trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi phát hiện vi phạm hành chính;

- Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc có phạm vi rộng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, thì biên bản vi phạm hành chính được lập trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi phát hiện vi phạm hành chính;

- Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan, thì biên bản vi phạm hành chính được lập trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày xác định được đối tượng vi phạm bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc nhận được kết quả xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan;

- Trường hợp vi phạm hành chính xảy ra trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa, thì người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu có trách nhiệm lập biên bản vi phạm hành chính và chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa về đến sân bay, bến cảng, nhà ga;

- Trường hợp một vụ việc có nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau, trong đó có hành vi được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan, thì biên bản vi phạm hành chính được lập đối với các hành vi trong vụ việc đó trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày xác định được đối tượng vi phạm bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hoặc nhận được đầy đủ kết quả xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm và xác minh tình tiết liên quan.

Như vậy, Nghị định số 118/2021/NĐ-CP đã quy định cụ thể thời hạn phải lập biên bản vi phạm hành chính (02 ngày làm việc, 03 ngày làm việc, 05 ngày làm việc, tùy từng trường hợp). Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện các quy định này cho thấy, vì nhiều lý do khác nhau, biên bản vi phạm hành chính được lập thường bị quá thời hạn theo quy định của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP. Vậy, trong trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập vi phạm về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính, thì người có thẩm quyền xử phạt có được ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hay không? Liên quan đến vấn đề này, hiện nay, có hai ý kiến khác nhau:

Ý kiến thứ nhất cho rằng, biên bản vi phạm hành chính được lập quá thời hạn theo quy định của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP thì không xử phạt đối với trường hợp này. Tuy nhiên, việc không ban hành quyết định xử phạt sẽ dẫn đến hậu quả là hành vi vi phạm hành chính còn thời hiệu xử phạt nhưng không bị xử phạt và vụ việc vi phạm vẫn tồn tại trên thực tế. Nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc pháp luật có quy định tịch thu mà không xử lý tịch thu được phải trả lại cho đối tượng vi phạm là bất hợp lý, chưa bảo đảm nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính của Luật Xử lý vi phạm hành chính: “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật”[5]. Đồng thời, chưua phù hợp với quy định tại Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính vì việc lập biên bản vi phạm hành chính quá thời hạn không thuộc trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Ý kiến thứ hai cho rằng, vi phạm về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính là vi phạm về thủ tục, không làm thay đổi bản chất của vụ việc là có hành vi vi phạm và phải bị xử phạt vi phạm hành chính để bảo đảm nguyên tắc xử phạt quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành trên cơ sở biên bản vi phạm hành chính được lập quá thời hạn quy định thì người có thẩm quyền căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 13 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP để hủy bỏ quyết định này. Sau đó, nếu có căn cứ ban hành quyết định mới thì người có thẩm quyền xử phạt lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP và ban hành quyết định xử phạt mới trên cơ sở biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính.

Tác giả cho rằng, trường hợp đã quá thời hạn lập biên bản thì không được lập biên bản vi phạm hành chính, nếu đã lập biên bản vi phạm hành chính quá thời hạn theo quy định tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP thì cũng không ban hành quyết định xử phạt đối với trường hợp này, vì có ban hành quyết định xử phạt thì quyết định xử phạt cũng sẽ bị hủy bỏ toàn bộ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 13 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP. Việc xác định nếu có căn cứ ban hành quyết định mới trong trường hợp vi phạm về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính (vi phạm về thủ tục xử phạt) thì người có thẩm quyền xử phạt lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP và ban hành quyết định xử phạt mới trên cơ sở biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính là rất khó khăn đối với người có thẩm quyền xử phạt. Một bất cập nữa là, hiện nay, nếu căn cứ vào Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính về những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì vi phạm về thủ tục ban hành quyết định xử phạt không thuộc trường hợp để không ban hành quyết định xử phạt. Do vậy, trong thời gian tới, cần nghiên cứu, có hướng xử lý giữa các quy định pháp luật liên quan đến thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

Bên cạnh quy định về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cũng quy định về việc chuyển biên bản vi phạm hành chính: “Trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa”[6].

Quy định về thời hạn chuyển biên bản vi phạm hành chính và các tài liệu khác cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm như trên là quá ngắn, khó khăn trong tổ chức thực hiện, đặc biệt là đối với những địa phương điều kiện địa hình đi lại khó khăn; hành vi vi phạm phát hiện vào các ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ lễ và ở những khu vực xa trung tâm, đi lại khó khăn, một số nơi chưa đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thật, thông tin[7].

3. Một số đề xuất, kiến nghị

3.1. Về xây dựng, hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, nghiên cứu bổ sung “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ” là một trong những nội dung cơ bản, chủ yếu của biên bản vi phạm hành chính được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP. Trên cơ sở đó, tại MBB01, chỉnh sửa, bổ sung mục về “tình tiết giảm nhẹ”, “tình tiết tăng nặng”.

Thứ hai, nghiên cứu, bổ sung tại Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính “vi phạm quy định về thủ tục ban hành quyết định xử phạt” thuộc trường hợp không ra quyết định xử phạt. Trên cơ sở đó, người có thẩm quyền có căn cứ để ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc tang vật, phương tiện mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó.

Thứ ba, nghiên cứu, sửa đổi quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 118/2021/NĐ-CP về thời hạn chuyển biên bản vi phạm hành chính và các tài liệu khác cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, phù hợp với thực tiễn thực hiện và bảo đảm tính khả thi trong quá trình tổ chức thực hiện, đặc biệt là tại những nơi điều kiện địa hình đi lại khó khăn; hành vi vi phạm phát hiện vào các ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ lễ và ở những khu vực xa trung tâm, đi lại khó khăn, một số nơi chưa đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thật, thông tin.

Thứ tư, nghiên cứu, chỉnh sửa hướng dẫn tại chú thích số 15 MBB01 ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP về việc cá nhân, người đại diện của tổ chức vi phạm gửi văn bản giải trình/văn bản yêu cầu được giải trình trực tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, bảo đảm phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP theo hướng:

- Trường hợp đã xác định được người có thẩm quyền xử phạt thì ghi chức danh và tên cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt.

- Trường hợp chưa xác định được người có thẩm quyền xử phạt thì yêu cầu cá nhân, tổ chức vi phạm gửi văn bản giải trình và ghi chức danh và tên của người lập biên bản vi phạm hành chính đó.

3.2. Về tổ chức thi hành pháp luật

Thứ nhất, tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tập huấn, bồi dưỡng về những kỹ năng chuyên sâu về xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có kỹ năng chuyên sâu về biên bản vi phạm hành chính, bảo đảm tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền, tránh một quy định pháp luật dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau.

Thứ hai, quan tâm, chú trọng công tác kiểm tra và tự kiểm tra các hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính nói chung và biên bản vi phạm hành chính nói riêng, bảo đảm việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính khách quan, công bằng, nghiêm minh, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Tâm

Trưởng phòng Phòng Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội

[1]. Xem: Khoản 3 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

[2]. Xem: Khoản 4 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP.

[3]. Xem: Điểm e khoản 3 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

[4]. Xem: Điểm i khoản 4 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP.

[5]. Xem: Điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

[6]. Xem: Khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính; điểm a khoản 6 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP.

[7]. Xem: Bộ Tư pháp (2023), Báo cáo số 62/BC-BTP ngày 01/3/2023 của Bộ Tư pháp báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2022, Phụ lục III.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: