Thứ tư 14/01/2026 10:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về đảm bảo quyền bào chữa của người phạm tội khi áp dụng thủ tục rút gọn và một số kiến nghị hoàn thiện

Bảo đảm quyền bào chữa của người thực hiện hành vi phạm tội luôn được pháp luật nước ta coi trọng và ngày càng hoàn thiện để bảo vệ tốt hơn quyền của họ, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra hiện nay; thể hiện rõ qua các quy định về quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Tuy nhiên, trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn để áp dụng đối với những vụ án ít nghiệm trọng, quả tang, đơn giản, khi chứng cứ và lai lịch của người phạm tội đã rõ; để giải quyết vụ án nhanh hơn so với thủ tục thông thường, người phạm tội ít bị tạm giữ, tạm giam hơn… Trên thực tiễn áp dụng thủ tục này đã bộ lộ nhiều vấn đề cần phải được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện để đạt được mục đích khi xây dựng chế định này, một trong những vấn đề nổi cộm nhất là đảm bảo quyền bào chữa cho người thực hiện hành vi phạm tội khi được áp dụng thủ tục rút gọn, vì hiện nay trong thủ tục rút gọn chưa có quy định về việc bảo đảm quyền bào chữa cho người thực hiện hành vi phạm tội, dẫn đến vẫn phải tiến hành theo thủ tục chung.

Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự của Bộ luật Tố tụng hình sự còn có những quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung các quan điểm đưa ra đều dựa trên các tiêu chí như: đối tượng bào chữa là những người tham gia tố tụng nào, phạm vi quyền bào chữa đến đâu, cơ chế để bảo đảm quyền đó như thế nào… Trong thủ tục rút gọn được hiểu về đối tượng để bảo đảm quyền bào chữa cũng có nhiều quan điểm khác biệt, trong đó xác định đối tượng bào chữa là vấn đề đang có nhiều quan điểm trái chiều, chẳng hạn có quan điểm cho rằng đối tượng bào chữa trong thủ tục rút gọn chỉ là bị can, bị cáo (Phan Thanh Mai - Tạp chí Luật học, số 5/2010 hoặc có quan điểm cho rằng đối tượng bào chữa ngoài những người này còn có những người tham gia tố tụng khác cũng là đối tượng bào chữa (Nguyễn Sơn Hà - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp)… Như vậy, để có cơ chế bảo đảm quyền bào chữa cho người thực hiện hành vi phạm tội khi bị áp dụng thủ tục rút gọn thì vần đề xác định đúng đối tượng áp dụng là một yêu cầu rất quan trọng, bởi chỉ có xác định đúng đối tượng cần bảo vệ thì mới có cơ chế để bảo vệ được họ.

Về quy định chung của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại Điều 11 quy định:

“Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này.”

Tại Điều 48 - Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người bị tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; Điều 49, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định bị can có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; Điều 50 - Bộ luật Tố tụng hình sự quy định bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; tại khoản 1, Điều 58, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra”.

Các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự cho thấy, tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa là quyền chứ không phải là nghĩa vụ, có nghĩa là sự lựa chọn của một con người cụ thể, chủ thể để được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa sẽ được đặt ra khi một người tham gia với tư cách là người bị tạm giữ (khi họ có quyết định tạm giữ), bị can (khi có quyết định khởi tố bị can) và bị cáo (khi họ có quyết định đưa ra xét xử). Ngoài ra, quy định trên cũng xác định việc người bào chữa tham gia bào chữa khi có yêu cầu bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ khi họ là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, người bị tâm thần hoặc khi được cơ quan có thẩm quyền chỉ định. Đối với người thực hiện hành vi phạm tội khi bị áp dụng thủ tục rút gọn, vấn đề về quyền bào chữa và bảo đảm quyền bào chữa về nguyên tắc phải đảm bảo theo quy định chung, tức chủ thể của bảo đảm quyền bào chữa khi bị áp dụng thủ tục rút gọn có thể là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn hiện nay có những điểm không thống nhất dẫn đến hạn chế việc bảo vệ quyền bào chữa của người bị áp dụng. Chẳng hạn, căn cứ vào các Điều 318, Điều 319, Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự, điều kiện tiên quyết để áp dụng thủ tục rút gọn là phải sau khi có quyết định khởi tố vụ án có nghĩa là người bị bắt quả tang đó họ vẫn là người bị tạm giữ, trong khi gửi quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thì lại gửi cho bị can. Vậy, vấn đề đặt ra là khi áp dụng thủ tục rút gọn là thời điểm có quyết định khởi tố vụ án hay là phải từ khi có quyết định khởi tố bị can.

Như vậy, để xác định đúng đối tượng áp dụng thì cần phải có cái nhìn tổng thể về qui định thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Thủ tục rút gọn được áp dụng cho việc điều tra, truy tố xét xử. Về phạm vi phải là bắt đầu từ giai đoạn điều tra, tức là từ khi có quyết định khởi tố vụ án. Khoản 1, Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định sau khi khởi tố vụ án, cơ quan có thẩm quyền xem xét nếu có đủ các điều kiện theo luật định thì có thể ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn là hợp lý. Tuy nhiên, khoản 2 và khoản 3, Điều 320 - Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho Cơ quan điều tra và bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn”[1]; Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại. Bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn...”[2].

Với quy định này có thể hiểu đối tượng áp dụng chỉ là bị can vì quyết định áp dụng thủ tục rút gọn chỉ được gửi cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Như vậy, trong trường hợp này bắt buộc cơ quan điều tra sau khi ra quyết định khởi tố vụ án thì phải ra quyết định khởi tố bị can để Viện kiểm sát xem xét quyết định áp dụng. Hoặc có quan điểm cho rằng Điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự sử dụng thuật ngữ “người thực hiện hành vi phạm tội” và “người phạm tội” ở Khoản 3 là vi phạm nguyên tắc “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” được quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự, từ đó quan điểm này đề xuất phải thay thế thuật ngữ “người thực hiện hành vi phạm tội” và “người phạm tội” bằng “Bị can”. Chúng tôi không đồng ý với đề xuất này, bởi giữa thuật ngữ “người thực hiện hành vi phạm tội”, “người phạm tội” và “có tội” có nội hàm khác nhau nên không thể so sánh bằng nhau hoặc ngang nhau, vì một bên là danh từ một bên là tính từ, mặt khác chỉ coi bị can mới là chủ thể trong áp dụng thủ tục rút gọn thì vô hình chung đã thu hẹp đối tượng cần bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ.

Đồng quan điểm trên cũng đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự cho thống nhất là: “1. Sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, theo đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 của Bộ luật này, Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; 2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và phê chuẩn lệnh tạm giam bị can (nếu có)…; 3. Sau khi nhận được quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, cơ quan điều tra phải giải thích các quy định về thủ tục rút gọn cho bị can và người đại diện hợp pháp của bị can (nếu có). Bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn…” (Vũ Gia Lâm - Tạp chí Luật học số 8/2009)

Với đề xuất này, cho thấy cũng chưa hợp lý, bởi nếu như đề xuất chỉ coi bị can mới là đối tượng áp dụng thủ tục rút gọn thì quy định khoản 1 và khoản 2 - Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự về đối tượng bị tạm giữ sẽ trở thành thừa, trong khi đó khoản 1 và khoản 2, Điều 322, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “1. Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục tạm giữ, tạm giam được áp dụng theo quy định của Bộ luật này; 2. Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ ngày cơ quan điều tra nhận người bị bắt.”

Thực tế áp dụng thủ tục rút gọn của các cơ quan điều tra cho thấy: Căn cứ vào yêu cầu thực tế của địa phương nếu cần thiết áp dụng thủ tục rút gọn thì khi có vụ án xảy ra và chứa đựng các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn thì cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát ngay khi nhận người bị bắt quả tang thông thường là ra quyết định tạm giữ để sau đó ra quyết định tạm giam. Trong thời hạn tạm giữ cơ quan điều tra tiến hành một loạt hoạt động tố tụng để xác định dấu hiệu tội phạm như xác minh tiền án, tiền sự, trưng cầu hội đồng định giá…, từ đó trước khi kết thúc 3 ngày tạm giữ cơ quan điều tra đã có đủ căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can và quyết định tạm giam bị can.

Như vậy, căn cứ vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực tiễn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn và việc bảo vệ quyền lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội khi được áp dụng thủ tục rút gọn thì đối tượng bảo đảm quyền bào chữa khi áp dụng thủ tục rút gọn là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Từ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự không thống nhất, dẫn đến thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục rút gọn trong bảo đảm quyền bào chữa của người thực hiện hành vi phạm tội khi bị áp dụng thủ tục rút gọn chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp trong tình hình hiện nay.

Về quyền của đối tượng khi bị áp dụng thủ tục rút gọn, trong thực tế hiện nay là nhờ người khác bào chữa cho mình (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) trong vụ án hình sự chiếm tỉ lệ rất ít còn chủ yếu là tự họ bào chữa cho mình, điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: “Thứ nhất, nhân dân ta chưa có thói quen nhờ người bào chữa và chưa thấy rõ được vai trò của người bào chữa trong các vụ án hình sự. Thứ hai, nhiều người biết nhưng lại không có tiền hoặc sợ tốn kém nên không mời người bào chữa. Thứ ba, trình độ hiểu biết pháp luật của một số bị can, bị cáo hiện nay là quá thấp nên mặc dù được cơ quan tiến hành tố tụng giải thích nhưng họ vẫn không hiểu” (Hoàng Thị Sơn - Tạp chí Luật học số 4/2002)

Đối với người phạm tội khi cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thủ tục rút gọn do thời gian quá ngắn (tạm giữ 03 ngày, tạm giam 12 ngày (nếu không bị tạm giữ) đưa ra xét xử 14 ngày trong khi đó thủ tục bào chữa vẫn theo quy định chung nên trong thực tế những vụ án áp dụng thủ tục rút gọn người bào chữa không kịp tham gia bảo vệ quyền lợi cho họ và một điều nữa là “phần lớn các bị can, bị cáo khi bị áp dụng thủ tục rút gọn đều không biết thủ tục rút gọn là gì, họ không được những người tiến hành tố tụng giải thích khi giao quyết định áp dụng thủ tục rút gọn” (Nguyễn Sơn Hà - Tạp chí Nghiên cứu pháp luật).

Về phía cơ quan tiến hành tố tụng, mặc dù là thủ tục rút gọn nhưng cho đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể về quy trình áp dụng nên cũng rất lúng túng khi áp dụng mà vẫn áp dụng theo thủ tục chung. Bên cạnh đó, do thời gian điều tra quá ngắn nên các thủ tục tố tụng hình sự phải hoàn thiện phải hết sức khẩn trương, vì thế cũng ít quan tâm đến vấn đề giải thích quyền bào chữa cho họ, đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng người bào chữa không tham gia bào chữa cho người tạm giữ, bị can khi bị áp dụng thủ tục rút gọn.

Từ sự phân tích ở trên, để hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục rút gọn xin đề xuất một số kiến nghị sau:

Một là, cần sớm bổ sung những quy định mới để hoàn thiện chế định thủ tục rút gọn nói chung và bảo đảm quyền bào chữa cho người bị áp dụng thủ tục rút gọn nói riêng, chẳng hạn bổ sung về quyền được lựa chọn áp dụng hay không áp dụng thủ tục rút gọn của người thực hiện hành vi phạm tội, đây cũng là biện pháp hữu hiệu để bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa cho họ, bên cạnh đó Bộ Luật tố tụng hình sự cũng cần sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành cho phù hợp với thực tiễn áp dụng, bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa cho người thực hiện hành vi phạm tội khi bị áp dụng thủ tục rút gọn, chẳng hạn Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự thủ tục rút gọn cần sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 320. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; 1. Sau khi khởi tố vụ án, khi thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 của Bộ luật này, cơ quan điều tra phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; 2. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho Viện kiểm sát và người bị tạm giữ, bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; 3. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại. Người bị tạm giữ, bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; thời hiệu khiếu nại là 24 giờ, kể từ ngày nhận được quyết định...”.

Hai là, tăng cường tuyên truyền phổ biến pháp luật tố tụng hình sự nói chung và về quy định thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự nói riêng. Công tác tuyên truyền cần phải sâu rộng và đa dạng trong nhân dân, để nhân dân hiểu những quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nhất là quy định về quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của người thực hiện hành vi phạm tội. Hình thức tuyên truyền cũng phải đa dạng và phong phú để người dân dễ dàng tiếp cận.

Ba là, nâng cao nhận thức của những người tiến hành tố tụng, việc nhờ người khác bào chữa cho người phạm tội là quyền chứ không phải là nghĩa vụ. Vì vậy, cho dù thời gian giải quyết vụ án có rút ngắn đi so với thủ tục chung thì cũng phải thực hiện đúng quyền năng tố tụng, đây cũng là một trong những cơ chế bảo đảm hữu hiệu cho việc bảo đảm quyền bào chữa cho người thực hiện hành vi phạm tội khi bị áp dụng thủ tục rút gọn. Để bảo đảm tốt điều này, những người tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án theo cần phải giải thích rõ và đầy đủ khi có quyết định áp dụng thủ tục rút gọn cho người bị tạm giữ hoặc bị can, bên cạnh đó phải tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để việc tham gia bào chữa cho người thực hiện hành vi phạm tội khi bị áp dụng thủ tục rút gọn.

TS. Phạm Minh Chiêu

Học viện Cảnh sát nhân dân


[1] Khoản 2 Điều 320, Bộ luật Tố tụng hình sự

[2] Khoản 3 Điều 320, Bộ luật Tố tụng hình sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Giải trừ trách nhiệm của công chức thuế, tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp

Luật số 56/2024/QH15 bổ sung quy định về trách nhiệm của công chức thuế theo hướng giải trừ trách nhiệm cho công chức thuế khi có gian lận trong kê khai, cung cấp thông tin tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp chân chính.

Cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là địa phương luôn nỗ lực, tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính, với mục tiêu tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, trong đó phải kể đến lĩnh vực cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Điều này được thể hiện rõ nét qua sự quyết tâm, chủ động, sáng tạo trong triển khai, thực hiện các văn bản, quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và những khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết bàn về những vấn đề cơ bản của quyền riêng tư và sự cần thiết phải bảo vệ quyền riêng tư; phân tích các vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân theo pháp luật quốc tế, từ đó đúc kết và đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: