Thứ ba 21/04/2026 19:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng được tách thành dự án độc lập đối với tất cả các nhóm dự án đầu tư

Đây là một trong những điểm mới của Luật Đầu tư công năm 2024 vừa được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 8 nhằm thể chế hóa các cơ chế, chính sách thí điểm, đặc thù đã được Quốc hội cho phép áp dụng.

Đầu tư công đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, như tạo động lực, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cho người dân, doanh nghiệp, bảo đảm an sinh xã hội, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội… Chính vì vậy, Luật Đầu tư công năm 2019 được Quốc hội thông qua đã giúp cho các cấp, các ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức chủ động hơn trong việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công nhằm tạo ra không gian phát triển mới, động lực mới, năng lực mới cho sự phát triển của từng ngành, lĩnh vực, địa phương, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sau gần 05 năm thực hiện, Luật Đầu tư công năm 2019 đã bộc lộ một số khó khăn, hạn chế, một số quy định chưa phù hợp với tình hình thực tiễn, yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

Vì vậy, để khắc phục căn bản những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, khơi thông mọi nguồn lực thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Đầu tư công (sửa đổi).

Luật Đầu tư năm 2024 bao gồm 07 chương, 103 điều, quy định việc quản lý nhà nước về đầu tư công; quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công, trong đó:

1. Cho phép tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập đối với tất cả các nhóm dự án (bao gồm cả dự án nhóm B, C)

Luật Đầu tư công năm 2024 cho phép tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập đối với tất cả các nhóm dự án. Theo đó, điểm b khoản 2 Điều 6 quy định: “Cấp có thẩm quyền khi phê duyệt chủ trương đầu tư dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, nhóm B, nhóm C có quyền quyết định việc tách hoặc không tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án thành phần độc lập. Thời gian thực hiện dự án thành phần độc lập bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng được tính trong tổng thời gian bố trí vốn thực hiện dự án quy định tại Điều 57 của Luật này”.

Trước đó, Quốc hội đã ban hành một số luật, nghị quyết để thí điểm cho phép tách công tác giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập như đối với tỉnh Khánh Hòa (Nghị quyết số 55/2022/QH15), thành phố Đà Nẵng (Nghị quyết số 136/2024/QH15), tỉnh Nghệ An (Nghị quyết số 137/2022/QH15), thành phố Hà Nội (Luật Thủ đô năm 2024). Việc tách công tác giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập có tác động tích cực đến việc triển khai dự án, cho phép phê duyệt dự án giải phóng mặt bằng được tách riêng ngay sau khi phê duyệt chủ trương đầu tư dự án tổng thể, không cần chờ đến khi phê duyệt quyết định đầu tư dự án mới thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, qua đó, đẩy nhanh việc phê duyệt và tạo điều kiện để bố trí vốn ngay cho công tác giải phóng mặt bằng, giảm chi phí, thời gian và thúc đẩy việc thực hiện dự án.

Quy định này tạo sự linh hoạt cho cấp quyết định chủ trương đầu tư trong lựa chọn hình thức giải phóng mặt bằng phù hợp với yêu cầu triển khai dự án. Cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án đồng thời quyết định việc tách giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập, bảo đảm phê duyệt chủ trương đầu tư dự án phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và nguồn vốn để triển khai.

2. Quy định Thủ tướng Chính phủ giao một địa phương là cơ quan chủ quản thực hiện dự án trên địa bàn từ 02 địa phương trở lên

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu cả nước có khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc. Vì thế, nhu cầu thực hiện và triển khai các dự án kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đặc biệt là các dự án đường cao tốc trong thời gian qua cũng như trong giai đoạn tới là rất lớn. Để đạt được mục tiêu này, cần có năng lực quản lý, triển khai thực hiện lớn, không phải chỉ từ Bộ Giao thông vận tải mà còn cả các địa phương liên quan[1].

Ngày 28/11/2023, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 106/2023/QH15 thí điểm một số chính sách đặc thù về đầu tư xây dựng công trình đường bộ, trong đó cho phép thí điểm giao 01 địa phương là cơ quan chủ quản thực hiện một số dự án giao thông cụ thể trên địa bàn của 02 địa phương. Thực tiễn triển khai thời gian qua cho thấy chính sách này đã phát huy hiệu quả, giúp tăng tính chủ động, huy động, tận dụng được nguồn lực, năng lực quản lý và thực hiện dự án của địa phương[2].

Luật hóa nội dung này, khoản 3 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2024 quy định, Thủ tướng Chính phủ: “Quyết định giao một Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản thực hiện dự án trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên”. Quy định này giúp đẩy nhanh quá trình thực hiện dự án, tăng tính chủ động, huy động, tận dụng nguồn lực, năng lực quản lý và thực hiện dự án, tăng cường kinh nghiệm, năng lực của các địa phương trong quản lý thực hiện dự án. Đồng thời, các địa phương được chủ động triển khai dự án, gắn kết chặt chẽ hơn trong quá trình thực hiện công tác giải phóng mặt bằng và xây lắp trên địa bàn địa phương; có động lực để triển khai đẩy nhanh tiến độ dự án do có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội và khai thác quỹ đất nằm 02 bên của dự án.

3. Cho phép ủy thác vốn ngân sách địa phương để thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội tại địa phương

Trong thời gian qua, việc cho vay ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội đã đạt kết quả tích cực như giải ngân đạt 38.400 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch được giao[3]. Vì vậy, Quốc hội đã cho phép thí điểm ủy thác vốn ngân sách địa phương để cho vay thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội với Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và Chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới theo Nghị quyết số 111/2024/QH15 ngày 18/01/2024 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Một số địa phương có khả năng thu ngân sách địa phương tốt, vượt thu ngân sách địa phương, có nhu cầu ủy thác để cho vay thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, tuy nhiên lại chưa có quy định cụ thể của pháp luật để thực hiện triển khai.

Để khắc phục hạn chế này, khoản 7 Điều 5 Luật Đầu tư công năm 2024 quy định: “Bố trí vốn ngân sách địa phương để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chính phủ quy định điều kiện, tiêu chí, nguyên tắc bố trí vốn để ủy thác thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định cơ chế, chính sách cụ thể và bố trí vốn ngân sách địa phương để thực hiện chính sách này. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện ủy thác vốn ngân sách địa phương để thực hiện chính sách ưu đãi theo quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh”.

Quy định mới này sẽ tạo căn cứ pháp lý cho các địa phương có khả năng huy động vốn ngân sách địa phương để ủy thác cho vay thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn, bổ sung nguồn lực không gây phát sinh bộ máy để thực hiện. Việc bổ sung đối tượng đầu tư công theo hướng cho phép ủy thác ngân sách địa phương để cho vay ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội, mở rộng đối tượng thực hiện, cho phép các địa phương có nguồn thu chủ động ủy thác vốn để cho vay. Hội đồng nhân dân chủ động quyết định các nội dung liên quan đến điều kiện cho vay, qua đó đáp ứng được các nhu cầu cụ thể của địa phương.

Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025.

Minh Trí


[1] Báo cáo số 6661/BC-BKHĐT ngày 20/8/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng kết thi hành Luật Đầu tư công năm 2019.

[2] Báo cáo số 6663/BC-BKHĐT ngày 20/8/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá tác động chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật Đầu tư công (sửa đổi).

[3] Báo cáo số 6663/BC-BKHĐT ngày 20/8/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá tác động chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật Đầu tư công (sửa đổi).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu infographic 9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW

10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu inforgraphic 10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đang được sửa đổi, việc đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền trở nên cần thiết. Bài viết tiếp cận theo hướng dựa trên quyền con người, phân tích nội dung quyền theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và pháp luật hiện hành, đồng thời, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2018 - 2025. Nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những tiến bộ, thành công, kết quả đạt được, còn tồn tại khoảng cách giữa ghi nhận và thụ hưởng quyền, thể hiện qua thủ tục hành chính, sự không đồng đều trong thực thi và khoảng trống pháp lý trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện theo hướng tăng cường tính minh bạch, giảm điều kiện hóa quyền và nâng cao cơ chế bảo vệ quyền.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Diễn đàn “Luật học Mùa Xuân”: Dấu ấn học thuật của Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Diễn đàn “Luật học Mùa Xuân”: Dấu ấn học thuật của Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Đây là chủ đề của Diễn đàn khoa học trẻ "Luật học Mùa Xuân" lần thứ III năm 2026 do Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức trong 02 ngày 17/4 và 18/4/2026. Tham dự Diễn đàn có các chuyên gia, nhà khoa học, học giả cùng các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh.
Đổi mới đào tạo luật trong bối cảnh mới: Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn

Đổi mới đào tạo luật trong bối cảnh mới: Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn

Ngày 16/4, ba cơ sở đào tạo luật gồm Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội thảo quốc gia “Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy luật tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam trong bối cảnh mới”. Hội thảo có sự tham gia đông đảo các giáo sư, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, cùng đại diện lãnh đạo, giảng viên của nhiều cơ sở đào tạo luật trên cả nước.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Phát huy vai trò nòng cốt của Bộ Tư pháp trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò nòng cốt của Bộ Tư pháp trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ngày 16/4, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp với các đơn vị thuộc Bộ có liên quan về dự thảo Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Bộ Tư pháp (dự thảo Kế hoạch) và kết quả rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến ngành, lĩnh vực do Bộ Tư pháp phụ trách.
Tăng cường công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Tăng cường công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Đây là 01 trong 05 chính sách được đề xuất tại phiên họp Hội đồng thẩm định chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (chính sách Luật) do Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Quốc Hoàn chủ trì ngày 16/4. Tham dự phiên họp có đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường… cùng đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: