Thứ năm 30/04/2026 23:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng được tách thành dự án độc lập đối với tất cả các nhóm dự án đầu tư

Đây là một trong những điểm mới của Luật Đầu tư công năm 2024 vừa được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 8 nhằm thể chế hóa các cơ chế, chính sách thí điểm, đặc thù đã được Quốc hội cho phép áp dụng.

Đầu tư công đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, như tạo động lực, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cho người dân, doanh nghiệp, bảo đảm an sinh xã hội, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội… Chính vì vậy, Luật Đầu tư công năm 2019 được Quốc hội thông qua đã giúp cho các cấp, các ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức chủ động hơn trong việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công nhằm tạo ra không gian phát triển mới, động lực mới, năng lực mới cho sự phát triển của từng ngành, lĩnh vực, địa phương, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sau gần 05 năm thực hiện, Luật Đầu tư công năm 2019 đã bộc lộ một số khó khăn, hạn chế, một số quy định chưa phù hợp với tình hình thực tiễn, yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

Vì vậy, để khắc phục căn bản những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, khơi thông mọi nguồn lực thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Đầu tư công (sửa đổi).

Luật Đầu tư năm 2024 bao gồm 07 chương, 103 điều, quy định việc quản lý nhà nước về đầu tư công; quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công, trong đó:

1. Cho phép tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập đối với tất cả các nhóm dự án (bao gồm cả dự án nhóm B, C)

Luật Đầu tư công năm 2024 cho phép tách công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập đối với tất cả các nhóm dự án. Theo đó, điểm b khoản 2 Điều 6 quy định: “Cấp có thẩm quyền khi phê duyệt chủ trương đầu tư dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, nhóm B, nhóm C có quyền quyết định việc tách hoặc không tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án thành phần độc lập. Thời gian thực hiện dự án thành phần độc lập bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng được tính trong tổng thời gian bố trí vốn thực hiện dự án quy định tại Điều 57 của Luật này”.

Trước đó, Quốc hội đã ban hành một số luật, nghị quyết để thí điểm cho phép tách công tác giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập như đối với tỉnh Khánh Hòa (Nghị quyết số 55/2022/QH15), thành phố Đà Nẵng (Nghị quyết số 136/2024/QH15), tỉnh Nghệ An (Nghị quyết số 137/2022/QH15), thành phố Hà Nội (Luật Thủ đô năm 2024). Việc tách công tác giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập có tác động tích cực đến việc triển khai dự án, cho phép phê duyệt dự án giải phóng mặt bằng được tách riêng ngay sau khi phê duyệt chủ trương đầu tư dự án tổng thể, không cần chờ đến khi phê duyệt quyết định đầu tư dự án mới thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, qua đó, đẩy nhanh việc phê duyệt và tạo điều kiện để bố trí vốn ngay cho công tác giải phóng mặt bằng, giảm chi phí, thời gian và thúc đẩy việc thực hiện dự án.

Quy định này tạo sự linh hoạt cho cấp quyết định chủ trương đầu tư trong lựa chọn hình thức giải phóng mặt bằng phù hợp với yêu cầu triển khai dự án. Cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án đồng thời quyết định việc tách giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập, bảo đảm phê duyệt chủ trương đầu tư dự án phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và nguồn vốn để triển khai.

2. Quy định Thủ tướng Chính phủ giao một địa phương là cơ quan chủ quản thực hiện dự án trên địa bàn từ 02 địa phương trở lên

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu cả nước có khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc. Vì thế, nhu cầu thực hiện và triển khai các dự án kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đặc biệt là các dự án đường cao tốc trong thời gian qua cũng như trong giai đoạn tới là rất lớn. Để đạt được mục tiêu này, cần có năng lực quản lý, triển khai thực hiện lớn, không phải chỉ từ Bộ Giao thông vận tải mà còn cả các địa phương liên quan[1].

Ngày 28/11/2023, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 106/2023/QH15 thí điểm một số chính sách đặc thù về đầu tư xây dựng công trình đường bộ, trong đó cho phép thí điểm giao 01 địa phương là cơ quan chủ quản thực hiện một số dự án giao thông cụ thể trên địa bàn của 02 địa phương. Thực tiễn triển khai thời gian qua cho thấy chính sách này đã phát huy hiệu quả, giúp tăng tính chủ động, huy động, tận dụng được nguồn lực, năng lực quản lý và thực hiện dự án của địa phương[2].

Luật hóa nội dung này, khoản 3 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2024 quy định, Thủ tướng Chính phủ: “Quyết định giao một Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản thực hiện dự án trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên”. Quy định này giúp đẩy nhanh quá trình thực hiện dự án, tăng tính chủ động, huy động, tận dụng nguồn lực, năng lực quản lý và thực hiện dự án, tăng cường kinh nghiệm, năng lực của các địa phương trong quản lý thực hiện dự án. Đồng thời, các địa phương được chủ động triển khai dự án, gắn kết chặt chẽ hơn trong quá trình thực hiện công tác giải phóng mặt bằng và xây lắp trên địa bàn địa phương; có động lực để triển khai đẩy nhanh tiến độ dự án do có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội và khai thác quỹ đất nằm 02 bên của dự án.

3. Cho phép ủy thác vốn ngân sách địa phương để thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội tại địa phương

Trong thời gian qua, việc cho vay ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội đã đạt kết quả tích cực như giải ngân đạt 38.400 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch được giao[3]. Vì vậy, Quốc hội đã cho phép thí điểm ủy thác vốn ngân sách địa phương để cho vay thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội với Thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và Chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới theo Nghị quyết số 111/2024/QH15 ngày 18/01/2024 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Một số địa phương có khả năng thu ngân sách địa phương tốt, vượt thu ngân sách địa phương, có nhu cầu ủy thác để cho vay thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, tuy nhiên lại chưa có quy định cụ thể của pháp luật để thực hiện triển khai.

Để khắc phục hạn chế này, khoản 7 Điều 5 Luật Đầu tư công năm 2024 quy định: “Bố trí vốn ngân sách địa phương để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chính phủ quy định điều kiện, tiêu chí, nguyên tắc bố trí vốn để ủy thác thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định cơ chế, chính sách cụ thể và bố trí vốn ngân sách địa phương để thực hiện chính sách này. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện ủy thác vốn ngân sách địa phương để thực hiện chính sách ưu đãi theo quyết định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh”.

Quy định mới này sẽ tạo căn cứ pháp lý cho các địa phương có khả năng huy động vốn ngân sách địa phương để ủy thác cho vay thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội trên địa bàn, bổ sung nguồn lực không gây phát sinh bộ máy để thực hiện. Việc bổ sung đối tượng đầu tư công theo hướng cho phép ủy thác ngân sách địa phương để cho vay ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội, mở rộng đối tượng thực hiện, cho phép các địa phương có nguồn thu chủ động ủy thác vốn để cho vay. Hội đồng nhân dân chủ động quyết định các nội dung liên quan đến điều kiện cho vay, qua đó đáp ứng được các nhu cầu cụ thể của địa phương.

Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025.

Minh Trí


[1] Báo cáo số 6661/BC-BKHĐT ngày 20/8/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng kết thi hành Luật Đầu tư công năm 2019.

[2] Báo cáo số 6663/BC-BKHĐT ngày 20/8/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá tác động chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật Đầu tư công (sửa đổi).

[3] Báo cáo số 6663/BC-BKHĐT ngày 20/8/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá tác động chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật Đầu tư công (sửa đổi).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm tiến độ, chất lượng các nhiệm vụ triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Bảo đảm tiến độ, chất lượng các nhiệm vụ triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Ngày 24/4, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp giao ban Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Tư pháp.
Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Chính sách xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Chiều ngày 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội.
Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).
Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60% tán thành.
Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.
Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Lễ Khai trương Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (phiên bản mới) và Hệ thống thông tin hỗ trợ tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật

Lễ Khai trương Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (phiên bản mới) và Hệ thống thông tin hỗ trợ tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật

Sáng ngày 23/4, Bộ Tư pháp tổ chức Lễ Khai trương Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (phiên bản mới) và Hệ thống thông tin hỗ trợ tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật.
Quyết liệt triển khai rà soát hệ thống pháp luật, tạo động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Quyết liệt triển khai rà soát hệ thống pháp luật, tạo động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Ngày 23/4, Bộ Tư pháp - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tổ chức chương trình Hội nghị tập huấn Triển khai nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cho Bộ, ngành, cơ quan Trung ương. Đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Ủy viên Ban Chỉ đạo chủ trì Hội nghị.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Yêu cầu tiến độ và chất lượng đồng bộ

Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Yêu cầu tiến độ và chất lượng đồng bộ

Chiều 21/4, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chủ trì cuộc họp về tình hình triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Nhấn mạnh đây là nhiệm vụ hệ trọng, Phó Thủ tướng yêu cầu thực hiện khẩn trương, nghiêm túc, trước mắt tập trung xử lý các “điểm nghẽn” nhằm tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu infographic 9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Việc thực hiện thí điểm tại 8 bộ và 10 địa phương. Thời gian thí điểm là từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, có cơ chế xử lý chuyển tiếp đối với các vụ, việc đang thực hiện.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: