Thứ sáu 11/09/2026 06:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Bộ luật Hình sự bảo vệ khách thể quan trọng của đời sống xã hội, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh các loại tội phạm. Trên cơ sở pháp luật

Bộ luật Hình sự bảo vệ khách thể quan trọng của đời sống xã hội, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh các loại tội phạm. Trên cơ sở pháp luật, khi quyết định hình phạt, Tòa án nhân dân căn cứ vào cấu thành tội phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa, hoàn thiện, bổ sung những điểm mới các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn để đảm bảo việc áp dụng mang tính trừng phạt, răn đe; nhưng đồng thời mang tính giáo dục, cảm hóa đối với người phạm tội.

1. Quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định 22 (hai mươi hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51; và 15 (mười lăm) tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 52. Cùng với đó là các điều kiện khi áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hậu quả pháp lý khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015).

2. Cấu trúc của các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Xét trong toàn bộ cấu trúc của Bộ luật Hình sự thì các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo cấu trúc của cặp phạm trù “nặng - nhẹ”. Xét theo các dấu hiệu cấu thành tội phạm, thì quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể thuộc dấu hiệu chủ thể như: Người già, phụ nữ...; dấu hiệu về mặt khách quan như: Hành vi phạm tội, hậu quả, hoàn cảnh phạm tội…; dấu hiệu về mặt chủ quan như: Động cơ, thủ đoạn…; dấu hiệu khách thể như: Mức độ thiệt hại, bồi thường…

- Đối với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Có thể hiểu là những biểu hiện tích cực cho đời sống xã hội của người phạm tội hoặc vì ngoại cảnh tác động mà thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cấu trúc điều luật rất cụ thể, như: Phạm tội vì bị người khác đe doạ hoặc cưỡng bức (điểm k khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015); có thể cùng dấu hiệu (nếu có gộp cũng gần tính chất) người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác (điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015)…

+ Đặc điểm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là không quy định trùng lặp trong định tội, định khung. Bên cạnh việc kế thừa các quy định, mở rộng các tình tiết giảm nhẹ, thì Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “mang tính mở” cho chủ thể áp dụng pháp luật tìm ra những biểu hiện tích cực cho đời sống xã hội của người phạm tội khi áp dụng hình phạt “Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi vào trong bản án” (khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015).

- Đối với các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự quy định, như: Có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp… tình tiết có thể là hành vi, chủ thể, động cơ…; nhưng có tình tiết tăng nặng là một “tổ hợp” các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Ví dụ: Điểm n khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Dùng thủ đoạn (thuộc mặt chủ quan), phương tiện (thuộc mặt khách quan), có khả năng gây nguy hại cho nhiều người (thuộc khách thể bảo vệ của Bộ luật Hình sự năm 2015).

+ Đặc điểm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong số các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt trong các điều luật. Bộ luật Hình sự năm 2015 có 15 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì đến 9/15 điểm (chín trên mười lăm) quy định trong định tội, định khung hình phạt. So với Bộ luật Hình sự năm 1999 là 12/14 (mười hai trên mười bốn) tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là dấu hiệu định tội, định khung trong các tội danh cụ thể. Điều này cho thấy: Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định chặt chẽ và cụ thể hơn, ít các khoản mang tính “tổ hợp” và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ít lặp lại trong các điều, khoản định tội hoặc định khung hình phạt so với Bộ luật Hình sự năm 1999.

3. Điều kiện áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Đặc điểm của việc áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Các tình tiết là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng” (khoản 3 Điều 51; khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015). Theo quy định việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự khi những tình tiết không quy định trong cấu trúc của các điều luật trong định tội hoặc định khung. Tuy nhiên, với quy định các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ có những cách hiểu và áp dụng không thống nhất.

Một là, các tình tiết có thể hiểu như cấu thành tội phạm. Một số điểm trong tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể cấu thành tội phạm. Ví dụ, điểm o khoản 1 Điều 52 “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”, với tình tiết này “người xúi dục” có thể đồng phạm trong tội danh mà người dưới 18 tuổi thực hiện (tùy vào loại tội mà người dưới 18 tuổi thực hiện: Ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) hoặc có thể cấu thành tội “Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp” (Điều 325 Bộ luật Hình sự năm 2015). Về thuật ngữ “xúi dục” và “dụ dỗ” biểu hiện trong thực tiễn rất khó phân biệt…

Hai là, các tình tiết mang tính “tổ hợp”. Khi áp dụng pháp luật thì chủ thể áp dụng pháp luật căn cứ theo cấu trúc “điều, khoản, điểm”, theo cấu trúc trên thì khi áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ có những cách hiểu khác nhau. Ví dụ: Điểm v khoản 1 Điều 51; điểm n khoản 1 Điều 52… Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã phân tích trên) thì việc áp dụng đòi hỏi vụ án phải đáp ứng được các tình tiết (chính xác là biểu hiện các dấu hiệu) được liệt kê trong điểm, khoản, điều luật. Đến đây một vấn đề đặt ra là “một điểm” trong điều, khoản có phải là một tình tiết hay mỗi dấu hiệu liệt kê trong đó là một tình tiết. Theo như quy định và ngôn ngữ văn phong pháp lý thì khi áp dụng theo “điều, khoản, điểm”, thì một điểm trong điều luật sẽ là một tình tiết của điều luật.

Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng còn có quy định trùng lặp và khó xác định như: Dấu hiệu “xảo quyệt” là biểu hiện của hành vi thuộc mặt khách quan hay biểu hiện của thủ đoạn thuộc mặt chủ quan của cấu thành tội phạm. Vì dấu hiệu này quy định tại điểm m và điểm p khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về nhận thức, khi hành vi được thực hiện (hành động, hoặc không hành động) thì mới biết được tính chất của hành vi đó là “xảo quyệt”; về ngôn ngữ “xảo quyệt” là biểu hiện tính chất của hành vi, thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm.

4. Hậu quả khi áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ có thể tác động đến việc định khung, hoặc quyết định hình phạt của vụ án. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định điều kiện áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Đối với việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quy định này thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật, mang tính giáo dục trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mà vẫn thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng răn đe cao. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật này; Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể” (khoản 1, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015); “Trong trường hợp có đủ các điều kiện theo quy định, nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án” (khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Việc quy định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có lợi cho bị cáo thể hiện tính độc lập của Tòa án nhân dân trong hoạt động tố tụng với các cơ quan tiến hành tố tụng, mà trực tiếp là bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân. Hậu quả áp dụng trong trường hợp này được hiểu là mang tính có lợi cho bị cáo.

- Đối với việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hoạt động tố tụng hình sự có các giai đoạn: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm), trong mỗi giai đoạn tố tụng, các cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định và có tác động đến quá trình giải quyết vụ án hình sự (tiếp tục, tạm dừng hoặc kết thúc). Thời điểm thể hiện các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thể hiện trong văn bản tố tụng là bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân, có nghĩa hành vi phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm, như: Chủ thể phạm tội (tuổi chịu trách nhiệm); khách thể được Bộ luật Hình sự bảo vệ; mặt khách quan của cấu thành tội phạm (hành vi…); mặt chủ quan của cấu thành tội phạm (lỗi, mục đích - bắt buộc thể hiện trong cấu thành tội phạm đối với nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia…). Với quy định hiện hành cho thấy: Khi hành vi đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì dù có áp dụng bao nhiêu tình tiết tăng nặng thì Tòa án nhân dân không áp dụng tội danh nặng hơn hoặc hình phạt nặng hơn đối với hành vi đã cấu thành tội danh. Pháp luật hiện hành không quy định việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự sẽ chịu tội danh nặng hơn hoặc định khung hình phạt nặng hơn mà hành vi phạm tội đã thực hiện.

Trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực pháp luật. Để áp dụng thống nhất, tác giả bài viết có ý kiến như sau:

Thứ nhất, đối với việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Cần có văn bản hướng dẫn để có cách hiểu và áp dụng thống nhất đối với các tình tiết như: Các điểm v khoản 1 Điều 51; điểm n khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015… theo hướng cần xác định cụ thể một dấu hiệu liệt kê là một tình tiết hay khi thỏa mãn các dấu hiệu tại điểm đó mới được xem là một tình tiết.

Thứ hai, đối với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo hướng “mở”. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa ra quy định mang tính “mở” cho việc áp dụng “có thể coi… tình tiết khác” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Để có cách hiểu và áp dụng thống nhất cần có văn bản hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn, việc hướng dẫn có nhiều cách, như: Quy định thêm các tình tiết, hướng dẫn theo tiêu chí… Tuy nhiên, tác giả thấy rằng: Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa ra quy định “mang tính mở” cho chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng, thì việc hướng dẫn theo hướng liệt kê các tình tiết sẽ không đúng thẩm quyền (Vì, chỉ có Quốc hội mới có quyền ban hành luật). Do vậy, để phù hợp với thẩm quyền của chủ thể hướng dẫn; phù hợp với “tính mở” của quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì cơ quan hướng dẫn cần đưa ra các “tiêu chí” để chủ thể áp dụng xác định biểu hiện nào là biểu hiện tích cực cho xã hội được xem là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 hiện đã có hiệu lực, áp dụng đúng pháp luật là bắt buộc đối với các chủ thể trong xã hội. Tuy nhiên, với sự phát triển của đời sống xã hội thì việc sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội phát sinh (pháp luật phản ánh đời sống xã hội), thì cần cân nhắc đối với việc quy định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự, trên cơ sở các yếu tố như: Cặp phạm trù “nặng - nhẹ”; quy trình tố tụng; sự trùng lặp của các tình tiết trong điều luật; bản chất của trách nhiệm hình sự… để hoàn thiện quy định Bộ luật Hình sự.

ThS. Trần Đức Thú

Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: