![]() |
| Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho biết, cấu trúc của hệ thống pháp luật là mô hình phản ánh cách thức tổ chức, phân định, sắp xếp các bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật và giải quyết mối quan hệ giữa các thành tố một cách khách quan, khoa học, hợp lý |
Trao đổi về những nội dung cơ bản của Đề án hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho biết, cấu trúc của hệ thống pháp luật là mô hình phản ánh cách thức tổ chức, phân định, sắp xếp các bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật và giải quyết mối quan hệ giữa các thành tố một cách khách quan, khoa học, hợp lý để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và tính độc lập tương đối của mỗi thành tố; được tiếp cận từ khía cạnh cấu trúc nội dung, cấu trúc hình thức.
Theo đó, cấu trúc hình thức của hệ thống pháp luật gồm: Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, nguồn luật khác. Nội dung sẽ thể hiện lĩnh vực hoặc nhóm lĩnh vực pháp luật; quy phạm pháp luật hoặc nhóm quy phạm.
Đối với định hướng hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam, Kết luận số 09-KL/TW xác định, cấu trúc hệ thống pháp luật được thiết kế theo thứ bậc từ các nguồn luật gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp; văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật dưới luật của các cơ quan Trung ương; văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương) và các nguồn bổ trợ (án lệ, tập quán, lẽ công bằng).
Ngoài ra, Kết luận số 09-KL/TW đặt ra 03 mục tiêu cốt lõi trong tạo lập cấu trúc hệ thống pháp luật như: Bảo đảm tính hiện đại, hợp lý, khoa học và bao quát đầy đủ các lĩnh vực xã hội; hướng tới các chuẩn mực chung của nhân loại về dân chủ, minh bạch, dễ tiếp cận; đặc biệt là chuyển đổi hệ thống pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia. Pháp luật phải đóng vai trò dẫn dắt, "đi trước mở đường" để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực mới như công nghệ tài chính (Fintech), trí tuệ nhân tạo (AI) thông qua các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox)…
Song song với Kết luận số 09-KL/TW, Bộ Chính trị cũng yêu cầu xây dựng Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Chiến lược này sẽ thay thế Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận số 27-KL/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
![]() |
| Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý Nguyễn Văn Cương cho biết, Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới" tiếp cận hệ thống pháp luật như là một hệ sinh thái pháp luật |
Giới thiệu tóm tắt về Đề cương Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới", Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý Nguyễn Văn Cương cho biết, Đề án tiếp cận hệ thống pháp luật như là một hệ sinh thái pháp luật. Với cách tiếp cận này, cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam nằm trong mô hình tổng thể gồm:
(i) Phần nền tảng: Là các tư tưởng chính trị - pháp lý, thể hiện qua chủ trương, đường lối, chính sách... do Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng, có vai trò định hướng việc tạo lập hệ thống pháp luật, là chuẩn giá trị gắn kết pháp luật với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.
(ii) Các thành tố của cấu trúc hệ thống pháp luật gồm: Cấu trúc hình thức của hệ thống pháp luật và cấu trúc nội dung của hệ thống pháp luật.
(iii) Cơ chế vận hành của hệ thống pháp luật: Là cơ chế chuyển hóa, đưa pháp luật vào thực tiễn, bao gồm các công cụ và cơ chế xây dựng, thi hành, đánh giá, phản hồi, hoàn thiện pháp luật, bảo đảm hệ thống pháp luật luôn vận động, thích nghi và tự điều chỉnh linh hoạt.
Để hệ thống pháp luật được tổ chức, sắp xếp một cách tinh gọn, khoa học, hợp lý, việc thiết kế cấu trúc hệ thống pháp luật phải bảo đảm tính đầy đủ, toàn diện; tính pháp quyền; bảo đảm phân tầng hợp lý, thứ bậc hiệu lực pháp lý rõ ràng của các quy định pháp luật và tính thống nhất nội tại; kết hợp hài hòa giữa tính ổn định trong cấu trúc cơ bản, có khả năng thích ứng linh hoạt; bảo đảm tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, giảm thiểu chi phí tuân thủ pháp luật; đồng thời phù hợp với bối cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, truyền thống pháp luật của đất nước trong bối cảnh hội nhập.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú trao đổi về những nội dung cơ bản của Đề án hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới |
Kết luận Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú nhấn mạnh 03 nhóm nhiệm vụ lớn cần được hoàn thiện ngay trong năm 2026, cụ thể:
Thứ nhất, các đơn vị có liên quan cần tập trung sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngành Tư pháp hướng tới việc xây dựng một đạo luật mới bao hàm cả công tác ban hành và tổ chức thi hành pháp luật. Mục tiêu chính là thực hiện triệt để nguyên tắc "1-1" (một chủ thể thẩm quyền chỉ ban hành một hình thức văn bản quy phạm), đơn giản hóa hệ thống và tăng cường cơ chế giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật ngay trong lời văn của văn bản.
Thứ hai, các đơn vị cần thực hiện đợt tổng rà soát hệ thống pháp luật trên quy mô toàn quốc. Nhiệm vụ này do Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ trì phối hợp với Chính phủ, trong đó Bộ Tư pháp, các đơn vị pháp chế và Sở Tư pháp địa phương giữ vai trò nòng cốt.
Thứ ba, xây dựng Đề án Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Đây là bước phát triển tiếp theo sau Đề án hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật hiện nay.