Thứ tư 04/03/2026 17:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong tài trợ vốn dựa trên giá trị quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán và khoản phải thu

Tài trợ vốn dựa trên giá trị quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán và khoản phải thu (sau đây gọi chung là khoản phải thu) là hình thức cung ứng vốn chủ yếu căn cứ vào khoản tiền thu được từ các khoản phải thu của khách hàng

1. Cơ chế tài trợ vốn dựa trên giá trị quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán và khoản phải thu trong chuỗi cung ứng

Trong cơ chế cấp vốn này, yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc xác lập quan hệ tín dụng là khả năng thu hồi khoản nợ theo hợp đồng của khách hàng được tài trợ vốn[2]. Chính vì vậy, để bảo vệ khoản vốn đã đầu tư, thông thường, bên cung ứng vốn sẽ thỏa thuận với khách hàng xác lập cơ chế bảo đảm khả năng thanh toán khoản vay thông qua việc sử dụng trực tiếp khoản tiền thu được từ khoản phải thu để trả nợ khoản vốn mà bên tài trợ đã ứng trước theo hình thức đối trừ giữa dư nợ cho vay và giá trị khoản phải thu. Trên phương diện đó, có thể nói, tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu là một dạng thức đặc biệt của hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.

Dưới giác độ nghiệp vụ kinh doanh, tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu có sự kết hợp giữa hai sản phẩm dịch vụ, đó là hoạt động cung ứng vốn và hoạt động thu hồi nợ từ khoản phải thu của khách hàng[3]. Trong đó, hoạt động thu hồi nợ từ khoản phải thu gắn liền và được thực hiện dựa trên cơ chế chuyển giao khoản phải thu từ khách hàng sang cho bên tài trợ vốn mà về pháp lý, căn cứ cho việc thực thi cơ chế này đó chính là hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, hay còn gọi là hợp đồng mua lại khoản phải thu.

2. Cơ chế pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu

2.1. Nghĩa vụ thanh toán trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được bảo đảm thực hiện theo cơ chế hợp đồng

Theo tiếp cận của Bộ luật Dân sự năm 2015, cơ chế pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được thực hiện theo nguyên tắc của pháp luật hợp đồng. Trong cơ chế tài trợ vốn này, giữa các bên không xác lập biện pháp bảo đảm bằng khoản phải thu mà xác lập trực tiếp hợp đồng chuyển giao khoản phải thu. Vì vậy, căn cứ pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của khách hàng trong cơ chế tài trợ vốn này là hợp đồng chuyển giao khoản phải thu chứ không phải biện pháp bảo đảm. Theo đó, khác với cơ chế cho vay có bảo đảm bằng thế chấp khoản phải thu trao cho bên nhận thế chấp quyền xử lý tài sản bảo đảm (là khoản phải thu) và sử dụng số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm (là khoản phải thu) để thanh toán cho giá trị nghĩa vụ bị vi phạm[4], trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu trao cho bên nhận chuyển giao quyền được nhận số tiền trực tiếp từ khoản phải thu mà không phụ thuộc và căn cứ vào sự kiện vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên được tài trợ vốn.

Theo Điều 223 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu là căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản (là khoản phải thu) của bên tài trợ vốn. Trên cơ sở hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, bên tài trợ vốn sẽ thực thi quyền đòi nợ từ khoản phải thu của khách hàng với tư cách là quyền của chủ sở hữu, hay nói cách khác, là quyền của chủ nợ mới (phát sinh từ thỏa thuận trong hợp đồng chuyển giao khoản phải thu), chứ không phải là quyền của bên nhận bảo đảm phát sinh từ việc xác lập biện pháp bảo đảm. Như vậy, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu là căn cứ để bên tài trợ vốn thay thế vị trí pháp lý của khách hàng thực hiện việc thu hồi nợ từ khoản phải thu khi đến hạn thanh toán chứ không phải là kết quả xử lý tài sản bảo đảm do có hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán của khách hàng theo Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015. Chính vì vậy, mặc dù không phải là biện pháp bảo đảm theo tiếp cận của Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng hợp đồng mua lại khoản phải thu có giá trị và chức năng bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của khách hàng. Về bản chất, lợi ích của bên cho vay trong cơ chế tài trợ vốn này đã được bảo đảm bằng chính giá trị khoản phải thu, cho dù giữa các bên không xác lập biện pháp bảo đảm.

2.2. Cơ sở pháp lý về chuyển giao khoản phải thu nhìn từ quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định về khái niệm khoản phải thu và chuyển giao khoản phải thu mà quy định về quyền đòi nợ[5], quyền yêu cầu và chuyển giao quyền yêu cầu. Trong lĩnh vực bao thanh toán, khoản phải thu được định nghĩa “là số tiền mà bên bán hàng có quyền nhận được từ bên mua hàng theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ”[6]. Về pháp lý, khái niệm quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán và khoản phải thu đều chứa đựng và phản ánh nội hàm quyền (của bên có quyền) yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền và các quyền này, về bản chất đều có và mang giá trị tiền tệ nên được định danh là quyền tài sản - một loại hình tài sản theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, về nguyên tắc, việc chuyển giao quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán và khoản phải thu đều dựa trên nền tảng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về chuyển giao quyền yêu cầu. Trên phương diện đó, việc thu hồi khoản vốn đã cung ứng trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng nói chung và về chuyển giao quyền yêu cầu nói riêng tại Mục 5 Chương XV Phần Thứ ba (quy định về nghĩa vụ và hợp đồng) từ Điều 365 đến Điều 369.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, việc chuyển giao khoản phải thu được thực hiện theo cơ chế thỏa thuận giữa bên có quyền (bên chuyển giao) và người thế quyền (bên nhận chuyển giao), trừ trường hợp quyền yêu cầu đó là quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc bên có quyền và bên có nghĩa vụ có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc không được chuyển giao quyền yêu cầu[7]. Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu mới[8] và người có nghĩa vụ trả nợ sẽ phải thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền.

Như vậy, khác với việc thu hồi nợ dựa trên hoạt động xử lý tài sản bảo đảm căn cứ vào sự kiện vi phạm nghĩa vụ thanh toán của khách hàng trong tài trợ vốn dựa trên việc xác lập biện pháp bảo đảm, ở cơ chế tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu, việc thu hồi nợ từ khoản phải thu được thực hiện khi khoản phải thu đến hạn thanh toán theo hợp đồng giữa khách hàng được tài trợ vốn với bên có nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu. Việc thu hồi nợ là nghiệp vụ kinh doanh thông thường của bên tài trợ vốn với tư cách là chủ nợ mới của khoản phải thu thông qua cơ chế đối trừ tuần hoàn giữa dư nợ cho vay và giá trị khoản phải thu[9] chứ không phải là hoạt động xử lý tài sản bảo đảm khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong cơ chế bảo đảm quyền thông qua xác lập biện pháp bảo đảm.

3. Cơ chế đăng ký hợp đồng chuyển giao khoản phải thu và xác lập quyền trên giá trị khoản phải thu

Theo Điều 5a Thông tư số 08/2018/TT-BTP ngày 20/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2020/TT-BTP ngày 17/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ, khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của các bên nhằm công khai hóa thông tin. Trên thực tiễn có thể phát sinh tình huống, khách hàng vừa xác lập hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, vừa xác lập biện pháp thế chấp khoản phải thu cho bên thứ ba. Vấn đề đặt ra là, giải quyết mối quan hệ quyền và lợi ích giữa bên nhận chuyển giao với bên nhận thế chấp đối với giá trị khoản phải thu như thế nào. Về mặt pháp lý, vì hợp đồng chuyển giao khoản phải thu không phải là biện pháp bảo đảm nên Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015 không giải quyết vấn đề về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận chuyển giao khoản phải thu và bên nhận thế chấp khoản phải thu. Trong tiếp cận chung đó, đăng ký không phải là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận chuyển giao khoản phải thu và bên nhận thế chấp khoản phải thu mà là căn cứ xác định tính ngay tình của bên xác lập quyền trên khoản phải thu. Trường hợp hợp đồng chuyển giao khoản phải thu được đăng ký trước thì bên nhận chuyển giao không phải có quyền ưu tiên trên giá trị khoản phải thu mà được quyền thụ hưởng khoản tiền thu được từ khoản phải thu của khách hàng trong phạm vi giá trị khoản vay đã cung ứng với tư cách là chủ sở hữu mới của khoản phải thu. Quyền này mang tính chất vật quyền (quyền có tính chất tuyệt đối và đương nhiên) nên không đặt ra vấn đề xác định thứ tự ưu tiên giữa bên nhận chuyển giao (chủ sở hữu mới của khoản phải thu) với bên nhận thế chấp. Trong trường hợp này, bên nhận thế chấp buộc phải biết về sự tồn tại quyền của bên nhận chuyển giao trên giá trị khoản phải thu và trở thành người không ngay tình nếu nhận thế chấp sau khi hợp đồng chuyển giao khoản phải thu được đăng ký. Trong chiều ngược lại, trường hợp biện pháp thế chấp khoản phải thu được đăng ký trước, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu có nguy cơ bị vô hiệu nếu việc chuyển giao không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bên nhận chuyển giao trở thành người không ngay tình và phải tôn trọng quyền của bên nhận thế chấp trên giá trị khoản phải thu. Trong trường hợp này, nếu bên có nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu chuyển tiền cho bên nhận chuyển giao thì bên nhận thế chấp được quyền truy đòi tài sản thế chấp theo Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 7 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu, để bảo đảm thu hồi dòng tiền đã giải ngân và thu được khoản lợi nhuận từ việc tài trợ vốn, bên cho vay sẽ phải phân tích giá trị khoản phải thu và xác định tỷ lệ cho vay phù hợp và an toàn[10]. Bên cạnh đó, để tạo cơ chế pháp lý cho việc dùng chính dòng tiền thu được từ khoản phải thu để trừ vào dư nợ của khoản vay, bên cho vay sẽ phải thỏa thuận với khách hàng xác lập hợp đồng chuyển giao khoản phải thu nhằm thiết lập một công cụ pháp lý kiểm soát dòng tiền thanh toán của khách hàng và để thay khách hàng thực hiện việc thu nợ từ các khoản phải thu trong chuỗi cung ứng, đồng thời, bên cho vay cần thực hiện đăng ký nhằm công khai quyền và bảo vệ quyền đã được xác lập trên giá trị khoản phải thu trước bên thứ ba. Về pháp lý, nghĩa vụ thanh toán của bên vay trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được bảo đảm thực hiện theo cơ chế hợp đồng và theo nguyên tắc thực thi thỏa thuận trong hợp đồng. Với việc xác lập hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, bên tài trợ vốn sẽ thay thế khách hàng trở thành chủ nợ mới của khoản phải thu và được bảo vệ quyền đòi nợ đối với khoản phải thu theo cơ chế bảo vệ quyền của chủ sở hữu chứ không phải theo cơ chế bảo vệ quyền của bên nhận bảo đảm. Dưới giác độ này, trong chừng mực nhất định, quyền của bên tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được bảo đảm cao hơn so với bên tài trợ vốn dựa trên việc xác lập biện pháp thế chấp khoản phải thu. Chính vì vậy, như tác giả đã đề cập, mặc dù hợp đồng chuyển giao khoản phải thu không phải là một biện pháp bảo đảm theo tiếp cận của Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng lợi ích của bên nhận chuyển giao khoản phải thu vẫn được bảo đảm. Điều này cho thấy vai trò và chức năng pháp lý rất quan trọng của hợp đồng chuyển giao khoản phải thu trong việc giúp bên cung ứng bảo đảm an toàn cho khoản vốn đã tài trợ và có được lợi nhuận từ hoạt động đầu tư dựa trên giá trị khoản phải thu.

TS. Nguyễn Quang Hương Trà
Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp


[1]. Gregory F. Udell (2018), Tài trợ vốn dựa trên giá trị tài sản bảo đảm, Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, tr. 17.

[2]. Trong bài viết này, tác giả chỉ hướng đến phân tích các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng trong chuỗi cung ứng.

[3]. Gregory F. Udell (2018), sđd, tr. 170 - 171.

[4]. Tất nhiên, sẽ có trường hợp, bên nhận thế chấp được quyền nhận trực tiếp khoản tiền thu được từ khoản phải thu nếu các bên thỏa thuận xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ nhưng việc nhận trực tiếp khoản phải thu trong tình huống này chỉ xảy ra khi có căn cứ quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Khoản 2 Điều 450 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6]. Khoản 7 Điều 3 Thông tư số 02/2017/TT-NHNN ngày 17/5/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

[7]. Khoản 1 Điều 365 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[8]. Khoản 2 Điều 365 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9]. Gregory F. Udell (2018), sđd, tr. 6.

[10]. Gregory. F. Udell ( 2018), sđd, tr. 123.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: