Thứ ba 22/09/2026 10:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong tài trợ vốn dựa trên giá trị quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán và khoản phải thu

Tài trợ vốn dựa trên giá trị quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán và khoản phải thu (sau đây gọi chung là khoản phải thu) là hình thức cung ứng vốn chủ yếu căn cứ vào khoản tiền thu được từ các khoản phải thu của khách hàng

1. Cơ chế tài trợ vốn dựa trên giá trị quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán và khoản phải thu trong chuỗi cung ứng

Trong cơ chế cấp vốn này, yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc xác lập quan hệ tín dụng là khả năng thu hồi khoản nợ theo hợp đồng của khách hàng được tài trợ vốn[2]. Chính vì vậy, để bảo vệ khoản vốn đã đầu tư, thông thường, bên cung ứng vốn sẽ thỏa thuận với khách hàng xác lập cơ chế bảo đảm khả năng thanh toán khoản vay thông qua việc sử dụng trực tiếp khoản tiền thu được từ khoản phải thu để trả nợ khoản vốn mà bên tài trợ đã ứng trước theo hình thức đối trừ giữa dư nợ cho vay và giá trị khoản phải thu. Trên phương diện đó, có thể nói, tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu là một dạng thức đặc biệt của hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.

Dưới giác độ nghiệp vụ kinh doanh, tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu có sự kết hợp giữa hai sản phẩm dịch vụ, đó là hoạt động cung ứng vốn và hoạt động thu hồi nợ từ khoản phải thu của khách hàng[3]. Trong đó, hoạt động thu hồi nợ từ khoản phải thu gắn liền và được thực hiện dựa trên cơ chế chuyển giao khoản phải thu từ khách hàng sang cho bên tài trợ vốn mà về pháp lý, căn cứ cho việc thực thi cơ chế này đó chính là hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, hay còn gọi là hợp đồng mua lại khoản phải thu.

2. Cơ chế pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu

2.1. Nghĩa vụ thanh toán trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được bảo đảm thực hiện theo cơ chế hợp đồng

Theo tiếp cận của Bộ luật Dân sự năm 2015, cơ chế pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được thực hiện theo nguyên tắc của pháp luật hợp đồng. Trong cơ chế tài trợ vốn này, giữa các bên không xác lập biện pháp bảo đảm bằng khoản phải thu mà xác lập trực tiếp hợp đồng chuyển giao khoản phải thu. Vì vậy, căn cứ pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của khách hàng trong cơ chế tài trợ vốn này là hợp đồng chuyển giao khoản phải thu chứ không phải biện pháp bảo đảm. Theo đó, khác với cơ chế cho vay có bảo đảm bằng thế chấp khoản phải thu trao cho bên nhận thế chấp quyền xử lý tài sản bảo đảm (là khoản phải thu) và sử dụng số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm (là khoản phải thu) để thanh toán cho giá trị nghĩa vụ bị vi phạm[4], trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu trao cho bên nhận chuyển giao quyền được nhận số tiền trực tiếp từ khoản phải thu mà không phụ thuộc và căn cứ vào sự kiện vi phạm nghĩa vụ thanh toán của bên được tài trợ vốn.

Theo Điều 223 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu là căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản (là khoản phải thu) của bên tài trợ vốn. Trên cơ sở hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, bên tài trợ vốn sẽ thực thi quyền đòi nợ từ khoản phải thu của khách hàng với tư cách là quyền của chủ sở hữu, hay nói cách khác, là quyền của chủ nợ mới (phát sinh từ thỏa thuận trong hợp đồng chuyển giao khoản phải thu), chứ không phải là quyền của bên nhận bảo đảm phát sinh từ việc xác lập biện pháp bảo đảm. Như vậy, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu là căn cứ để bên tài trợ vốn thay thế vị trí pháp lý của khách hàng thực hiện việc thu hồi nợ từ khoản phải thu khi đến hạn thanh toán chứ không phải là kết quả xử lý tài sản bảo đảm do có hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán của khách hàng theo Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015. Chính vì vậy, mặc dù không phải là biện pháp bảo đảm theo tiếp cận của Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng hợp đồng mua lại khoản phải thu có giá trị và chức năng bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của khách hàng. Về bản chất, lợi ích của bên cho vay trong cơ chế tài trợ vốn này đã được bảo đảm bằng chính giá trị khoản phải thu, cho dù giữa các bên không xác lập biện pháp bảo đảm.

2.2. Cơ sở pháp lý về chuyển giao khoản phải thu nhìn từ quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định về khái niệm khoản phải thu và chuyển giao khoản phải thu mà quy định về quyền đòi nợ[5], quyền yêu cầu và chuyển giao quyền yêu cầu. Trong lĩnh vực bao thanh toán, khoản phải thu được định nghĩa “là số tiền mà bên bán hàng có quyền nhận được từ bên mua hàng theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ”[6]. Về pháp lý, khái niệm quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán và khoản phải thu đều chứa đựng và phản ánh nội hàm quyền (của bên có quyền) yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền và các quyền này, về bản chất đều có và mang giá trị tiền tệ nên được định danh là quyền tài sản - một loại hình tài sản theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, về nguyên tắc, việc chuyển giao quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán và khoản phải thu đều dựa trên nền tảng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về chuyển giao quyền yêu cầu. Trên phương diện đó, việc thu hồi khoản vốn đã cung ứng trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng nói chung và về chuyển giao quyền yêu cầu nói riêng tại Mục 5 Chương XV Phần Thứ ba (quy định về nghĩa vụ và hợp đồng) từ Điều 365 đến Điều 369.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, việc chuyển giao khoản phải thu được thực hiện theo cơ chế thỏa thuận giữa bên có quyền (bên chuyển giao) và người thế quyền (bên nhận chuyển giao), trừ trường hợp quyền yêu cầu đó là quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc bên có quyền và bên có nghĩa vụ có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc không được chuyển giao quyền yêu cầu[7]. Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu mới[8] và người có nghĩa vụ trả nợ sẽ phải thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền.

Như vậy, khác với việc thu hồi nợ dựa trên hoạt động xử lý tài sản bảo đảm căn cứ vào sự kiện vi phạm nghĩa vụ thanh toán của khách hàng trong tài trợ vốn dựa trên việc xác lập biện pháp bảo đảm, ở cơ chế tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu, việc thu hồi nợ từ khoản phải thu được thực hiện khi khoản phải thu đến hạn thanh toán theo hợp đồng giữa khách hàng được tài trợ vốn với bên có nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu. Việc thu hồi nợ là nghiệp vụ kinh doanh thông thường của bên tài trợ vốn với tư cách là chủ nợ mới của khoản phải thu thông qua cơ chế đối trừ tuần hoàn giữa dư nợ cho vay và giá trị khoản phải thu[9] chứ không phải là hoạt động xử lý tài sản bảo đảm khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong cơ chế bảo đảm quyền thông qua xác lập biện pháp bảo đảm.

3. Cơ chế đăng ký hợp đồng chuyển giao khoản phải thu và xác lập quyền trên giá trị khoản phải thu

Theo Điều 5a Thông tư số 08/2018/TT-BTP ngày 20/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2020/TT-BTP ngày 17/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ, khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của các bên nhằm công khai hóa thông tin. Trên thực tiễn có thể phát sinh tình huống, khách hàng vừa xác lập hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, vừa xác lập biện pháp thế chấp khoản phải thu cho bên thứ ba. Vấn đề đặt ra là, giải quyết mối quan hệ quyền và lợi ích giữa bên nhận chuyển giao với bên nhận thế chấp đối với giá trị khoản phải thu như thế nào. Về mặt pháp lý, vì hợp đồng chuyển giao khoản phải thu không phải là biện pháp bảo đảm nên Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015 không giải quyết vấn đề về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận chuyển giao khoản phải thu và bên nhận thế chấp khoản phải thu. Trong tiếp cận chung đó, đăng ký không phải là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận chuyển giao khoản phải thu và bên nhận thế chấp khoản phải thu mà là căn cứ xác định tính ngay tình của bên xác lập quyền trên khoản phải thu. Trường hợp hợp đồng chuyển giao khoản phải thu được đăng ký trước thì bên nhận chuyển giao không phải có quyền ưu tiên trên giá trị khoản phải thu mà được quyền thụ hưởng khoản tiền thu được từ khoản phải thu của khách hàng trong phạm vi giá trị khoản vay đã cung ứng với tư cách là chủ sở hữu mới của khoản phải thu. Quyền này mang tính chất vật quyền (quyền có tính chất tuyệt đối và đương nhiên) nên không đặt ra vấn đề xác định thứ tự ưu tiên giữa bên nhận chuyển giao (chủ sở hữu mới của khoản phải thu) với bên nhận thế chấp. Trong trường hợp này, bên nhận thế chấp buộc phải biết về sự tồn tại quyền của bên nhận chuyển giao trên giá trị khoản phải thu và trở thành người không ngay tình nếu nhận thế chấp sau khi hợp đồng chuyển giao khoản phải thu được đăng ký. Trong chiều ngược lại, trường hợp biện pháp thế chấp khoản phải thu được đăng ký trước, hợp đồng chuyển giao khoản phải thu có nguy cơ bị vô hiệu nếu việc chuyển giao không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bên nhận chuyển giao trở thành người không ngay tình và phải tôn trọng quyền của bên nhận thế chấp trên giá trị khoản phải thu. Trong trường hợp này, nếu bên có nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu chuyển tiền cho bên nhận chuyển giao thì bên nhận thế chấp được quyền truy đòi tài sản thế chấp theo Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 7 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu, để bảo đảm thu hồi dòng tiền đã giải ngân và thu được khoản lợi nhuận từ việc tài trợ vốn, bên cho vay sẽ phải phân tích giá trị khoản phải thu và xác định tỷ lệ cho vay phù hợp và an toàn[10]. Bên cạnh đó, để tạo cơ chế pháp lý cho việc dùng chính dòng tiền thu được từ khoản phải thu để trừ vào dư nợ của khoản vay, bên cho vay sẽ phải thỏa thuận với khách hàng xác lập hợp đồng chuyển giao khoản phải thu nhằm thiết lập một công cụ pháp lý kiểm soát dòng tiền thanh toán của khách hàng và để thay khách hàng thực hiện việc thu nợ từ các khoản phải thu trong chuỗi cung ứng, đồng thời, bên cho vay cần thực hiện đăng ký nhằm công khai quyền và bảo vệ quyền đã được xác lập trên giá trị khoản phải thu trước bên thứ ba. Về pháp lý, nghĩa vụ thanh toán của bên vay trong tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được bảo đảm thực hiện theo cơ chế hợp đồng và theo nguyên tắc thực thi thỏa thuận trong hợp đồng. Với việc xác lập hợp đồng chuyển giao khoản phải thu, bên tài trợ vốn sẽ thay thế khách hàng trở thành chủ nợ mới của khoản phải thu và được bảo vệ quyền đòi nợ đối với khoản phải thu theo cơ chế bảo vệ quyền của chủ sở hữu chứ không phải theo cơ chế bảo vệ quyền của bên nhận bảo đảm. Dưới giác độ này, trong chừng mực nhất định, quyền của bên tài trợ vốn dựa trên giá trị khoản phải thu được bảo đảm cao hơn so với bên tài trợ vốn dựa trên việc xác lập biện pháp thế chấp khoản phải thu. Chính vì vậy, như tác giả đã đề cập, mặc dù hợp đồng chuyển giao khoản phải thu không phải là một biện pháp bảo đảm theo tiếp cận của Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng lợi ích của bên nhận chuyển giao khoản phải thu vẫn được bảo đảm. Điều này cho thấy vai trò và chức năng pháp lý rất quan trọng của hợp đồng chuyển giao khoản phải thu trong việc giúp bên cung ứng bảo đảm an toàn cho khoản vốn đã tài trợ và có được lợi nhuận từ hoạt động đầu tư dựa trên giá trị khoản phải thu.

TS. Nguyễn Quang Hương Trà
Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp


[1]. Gregory F. Udell (2018), Tài trợ vốn dựa trên giá trị tài sản bảo đảm, Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, tr. 17.

[2]. Trong bài viết này, tác giả chỉ hướng đến phân tích các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng trong chuỗi cung ứng.

[3]. Gregory F. Udell (2018), sđd, tr. 170 - 171.

[4]. Tất nhiên, sẽ có trường hợp, bên nhận thế chấp được quyền nhận trực tiếp khoản tiền thu được từ khoản phải thu nếu các bên thỏa thuận xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ nhưng việc nhận trực tiếp khoản phải thu trong tình huống này chỉ xảy ra khi có căn cứ quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Khoản 2 Điều 450 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6]. Khoản 7 Điều 3 Thông tư số 02/2017/TT-NHNN ngày 17/5/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

[7]. Khoản 1 Điều 365 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[8]. Khoản 2 Điều 365 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9]. Gregory F. Udell (2018), sđd, tr. 6.

[10]. Gregory. F. Udell ( 2018), sđd, tr. 123.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.

Theo dõi chúng tôi trên: