Thứ bảy 07/03/2026 11:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công chức trẻ với việc nâng cao chất lượng xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

Thực tiễn công tác xây dựng VBQPPL còn cho thấy một số vướng mắc, hạn chế và bất cập. Có thể kể đến như việc xây dựng một số VBQPPL không bảo đảm chất lượng, tiến độ. Nguyên nhân là do những chính sách đề ra không phù hợp với thực tiễn, không bảo đảm tính khả thi; hoặc có thể do những sai sót về mặt kỹ thuật soạn thảo có ảnh hưởng đến nội dung quy định trong văn bản.

1. Đánh giá chung về công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

1.1. Về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Hoạt động xây dựng pháp luật trong những năm qua đã có những bước chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng. Điều đó xuất phát từ những động lực phát triển thể chế, bao gồm các yêu cầu của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các yêu cầu của thực tiễn cuộc sống đòi hỏi pháp luật phải kịp thời điều chỉnh. Thực tế, Đảng và Nhà nước ta đã ngày càng quan tâm đến công tác thể chế, vấn đề xây dựng pháp luật được coi là nhiệm vụ trọng tâm. Nhờ vậy, pháp luật về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) - cụ thể là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã có những bước phát triển, thể hiện ở những chuyển biến trong nhận thức, tư duy và phương pháp xây dựng VBQPPL.

Ví dụ như: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã có những đổi mới về quy trình làm luật bao gồm hai công đoạn là xây dựng chính sách và soạn thảo VBQPPL; giảm một số hình thức VBQPPL (như thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng và Bộ trưởng); bỏ quy định về xây dựng chương trình luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ; quy định rõ phạm vi nội dung điều chỉnh của từng hình thức VBQPPL; quy định nguyên tắc văn bản quy định chi tiết phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết…

Tuy nhiên, thực tiễn công tác xây dựng VBQPPL còn cho thấy một số vướng mắc, hạn chế và bất cập. Có thể kể đến như việc xây dựng một số VBQPPL không bảo đảm chất lượng, tiến độ. Nguyên nhân là do những chính sách đề ra không phù hợp với thực tiễn, không bảo đảm tính khả thi; hoặc có thể do những sai sót về mặt kỹ thuật soạn thảo có ảnh hưởng đến nội dung quy định trong văn bản. Bên cạnh đó là những lo ngại về “khoảng trống pháp luật” xuất phát từ việc thiếu các VBQPPL để điều chỉnh các vấn đề nóng, cấp thiết, quan trọng (như vấn đề bảo đảm quyền lập hội, quyền biểu tình của công dân); thiếu VBQPPL điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn (như vấn đề Grab, Uber, tiền ảo); còn tình trạng không ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết; khả năng dự báo chính sách và phản ứng chính sách còn chưa kịp thời và hiệu quả…

Những vướng mắc, hạn chế và bất cập này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như sau:

Một là, những quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa được tốt. Mặc dù nhiều quy định của Luật này là tiến bộ, chặt chẽ, nhưng thực tiễn thực hiện lại không được như mong muốn. Ví dụ như, chất lượng chính sách trong một số đề nghị xây dựng VBQPPL còn kém do việc đánh giá tác động và phân tích chính sách còn mang tính hình thức, thiếu phương pháp khoa học, hồ sơ chuẩn bị không đầy đủ.

Hai là, năng lực của cán bộ xây dựng pháp luật còn hạn chế. Ở nước ta, thường cán bộ, công chức của các bộ, ngành vừa là người tham mưu chính sách vừa là người trực tiếp soạn thảo văn bản, điều này đỏi hỏi cán bộ xây dựng pháp luật phải có năng lực, trình độ chuyên môn cao thì mới đáp ứng được yêu cầu. Ngoài ra, một số nguyên nhân khác như thiếu sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của một số người đứng đầu bộ, ngành; yếu tố thời gian, kinh phí, nguồn lực cho công tác xây dựng pháp luật chưa được bảo đảm hợp lý.

1.2. Về công tác thẩm định

Với việc tách hai quy trình trong xây dựng VBQPPL, Bộ Tư pháp có thêm khối lượng công việc: Thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL (thẩm định chính sách) và thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của Bộ Tư pháp về các nội dung thẩm định và ý kiến của Bộ Tư pháp về việc đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định hoặc dự án, dự thảo VBQPPL đủ điều kiện hay chưa đủ điều kiện trình Chính phủ. Trong trường hợp Bộ Tư pháp kết luận chưa đủ điều kiện trình thì trả lại hồ sơ cho cơ quan chủ trì soạn thảo để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện[1].

Như vậy, vai trò và trách nhiệm thẩm định của Bộ Tư pháp được nâng cao, đồng nghĩa với việc các yêu cầu đặt ra đối với công tác thẩm định nặng nề hơn. Thực tế cho thấy, thẩm định chính sách và thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL là công việc chuyên môn cao, đòi hỏi người thực hiện phải có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nhất định, nhất là khi tính chất phức tạp và nội dung của các chính sách trong các lĩnh vực là rất khác nhau.

Chất lượng thẩm định phản ánh qua kết quả cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; qua sự đồng tình của Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ đối với ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp. Báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp cũng là thành phần bắt buộc trong hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL khi được trình sang các cơ quan thẩm tra của Quốc hội. Vì vậy, ý kiến và quan điểm của Bộ Tư pháp trong báo cáo thẩm định cần nhất quán, rõ ràng và có lập luận thuyết phục.

2. Sự tham gia của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong hoạt động xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

Trong công tác xây dựng VBQPPL, công chức trẻ của các đơn vị xây dựng pháp luật có nhiều cơ hội tham gia trực tiếp vào việc xây dựng các dự án, dự thảo VBQPPL. Đối với các VBQPPL do Bộ Tư pháp chủ trì, công chức trẻ thường được tham gia từ giai đoạn “phôi thai” - nghiên cứu đề xuất xây dựng văn bản - đến khi văn bản được ban hành. Các công việc chủ yếu mà công chức trẻ thường được giao là nghiên cứu, rà soát các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề cần giải quyết và nội dung chính sách được đề xuất; nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về các vấn đề có liên quan; tham gia xây dựng sơ thảo một số văn bản trong hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL, như tờ trình, báo cáo đánh giá tác động, báo cáo thực trạng pháp luật, báo cáo tổng hợp ý kiến.

Mức độ tham gia của công chức trẻ tùy theo năng lực và kinh nghiệm công tác. Đối với những văn bản hoặc công việc đơn giản như thực hiện rà soát pháp luật, tổng hợp ý kiến góp ý thì công chức trẻ có thể thực hiện độc lập. Đối với những văn bản khó, công chức trẻ thường được giao chuẩn bị nội dung sơ thảo trên cơ sở hướng dẫn của cấp trên. Đối với những VBQPPL do cơ quan khác chủ trì, công chức trẻ thường chỉ được cử tham gia là thành viên tổ biên tập đối với một số loại VBQPPL như nghị định, thông tư, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Trong công tác thẩm định VBQPPL, các công chức trẻ thường được tham gia tổ chức các cuộc họp hội đồng thẩm định/tư vấn thẩm định các đề nghị xây dựng VBQPPL, dự án, dự thảo VBQPPL; thực hiện nghiên cứu, chuẩn bị ý kiến thẩm định với sự phối hợp, hướng dẫn của đồng nghiệp và cấp trên. Thông thường, công chức trẻ được giao các công việc góp ý, sau đó tham gia nhiều hơn vào công việc thẩm định.

Quá trình tham gia xây dựng, thẩm định VBQPPL là quá trình các công chức trẻ được trau dồi kiến thức chuyên môn, kỹ năng phân tích chính sách và xây dựng VBQPPL, kèm với đó là các kỹ năng quan trọng khác, như kỹ năng tư duy logic, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tổ chức hội họp. Về cơ bản, công chức trẻ Bộ Tư pháp được tạo điều kiện để vừa làm việc vừa trau dồi, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thông qua thực tiễn công việc, nhờ vậy, họ được rèn luyện và trưởng thành nhanh chóng.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

Để nâng cao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định VBQPPL thì cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về mặt thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và bảo đảm nguồn lực cũng như các điều kiện cần thiết. Cụ thể là:

3.1. Về mặt thể chế

Trước hết, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Vì Luật này được coi là “luật về việc làm luật”, nên cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thì chúng ta cũng cần hoàn thiện tư duy làm luật, cách làm luật và quy trình làm luật. Những vấn đề này có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng xây dựng VBQPPL.

Một số vấn đề đặt ra như xác định những vấn đề gì cần được điều chỉnh bởi VBQPPL; xác định rõ phạm vi điều chỉnh của từng loại VBQPPL; luật nên quy định những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc, hay luật nên có những quy định chi tiết để bảo đảm hiệu lực thi hành cao và ngay, hạn chế việc ban hành văn bản quy định chi tiết… Đây là những vấn đề đã và đang được trao đổi, thảo luận. Về quy trình làm luật, cần nghiên cứu để có những giải pháp nâng cao chất lượng làm chính sách và soạn thảo văn bản; tăng tính đồng thuận trong quá trình xây dựng VBQPPL, nhất là những văn bản có tính phức tạp, nhạy cảm cao; cần tính toán hợp lý hơn các quy định về thời hạn thực hiện các trình tự, thủ tục lấy ý kiến, góp ý, thẩm định; cân nhắc thời điểm có hiệu lực của luật để bảo đảm có đủ thời gian để xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết và chuẩn bị các điều kiện bảo đảm thi hành luật…

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang đề xuất tiếp tục sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Hiện có 05 định hướng lớn được nêu ra là: (i) Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL; (ii) Quy định rõ ràng, hợp lý hơn trách nhiệm của cơ quan trình văn bản trong suốt quá trình xây dựng, ban hành văn bản, đặc biệt là trách nhiệm bảo vệ, giải trình các chính sách do mình đề xuất; (iii) Hoàn thiện quy trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL và quy trình soạn thảo dự án, dự thảo VBQPPL; (iv) Hoàn thiện quy trình xây dựng, ban hành các văn bản dưới luật; (v) Hoàn thiện quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn[2]. Đây là dịp chúng ta tiếp tục xem xét, nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và thực tiễn thi hành, để có những sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp.

3.2. Về tổ chức thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Thực tiễn thực hiện các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cho thấy có những quy định tiến bộ và phù hợp nhưng lại không được thực hiện một cách hiệu quả, chất lượng như quy định về đánh giá tác động chính sách; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản… Do đó, bên cạnh những giải pháp về mặt pháp luật, thì cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm và chất lượng tổ chức thực thi các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, cụ thể là:

(i) Trong các căn cứ để đề xuất xây dựng VBQPPL, cần chú trọng hơn nữa những vấn đề phát sinh từ thực tiễn cần được pháp luật điều chỉnh, nâng cao chất lượng dự báo chính sách và phản ứng chính sách;

(ii) Nâng cao chất lượng hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL (nhất là báo cáo đánh giá tác động chính sách), hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL; bảo đảm tuân thủ các yêu cầu về hồ sơ, trình tự, thủ tục theo quy định;

(iii) Các ban soạn thảo, tổ biên tập cần hoạt động thực chất, đủ và đúng thành phần; thu hút thêm các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm; có chế độ theo dõi, đánh giá chất lượng tham gia của thành viên ban soạn thảo, tổ biên tập;

(iv) Tăng cường các cơ chế, biện pháp khác, như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức; tăng cường đối thoại chính sách, phản biện chính sách; tăng cường sự tham gia của người dân, tổ chức vào quá trình xây dựng pháp luật;

(v) Đối với công tác thẩm định, cần tuân thủ quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về trình tự, thủ tục, nội dung thẩm định; đáp ứng yêu cầu về chất lượng và tiến độ; phát huy cơ chế thành lập các hội đồng thẩm định; huy động sự tham gia của các chuyên gia, nhà quản lý; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quá trình thẩm định.

3.3. Về nguồn nhân lực, điều kiện bảo đảm

Các bộ, ngành cần nâng cao chất lượng đội ngũ pháp chế thông qua khâu tuyển dụng, sử dụng công chức có kiến thức pháp luật, năng lực và kỹ năng phân tích chính sách, soạn thảo VBQPPL; cử công chức tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ phân tích chính sách và soạn thảo VBQPPL do Bộ Tư pháp tổ chức.

Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cần đầu tư hơn nữa cho các đơn vị xây dựng pháp luật về biên chế, tuyển dụng hoặc thu hút người có trình độ chuyên môn tốt, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên viên pháp lý, nhất là những chuyên viên trẻ.

Ngoài ra, về các điều kiện bảo đảm khác, bao gồm kinh phí, cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin, cần được giải quyết từng bước.

4. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của công chức trẻ Bộ Tư pháp trong hoạt động xây dựng, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật

Công chức trẻ có ưu điểm và lợi thế là trẻ, năng động, sáng tạo; được tiếp cận với nguồn thông tin lớn, đa chiều; ham học hỏi; có nhiều cơ hội học tập, trau dồi, rèn luyện. Tuy nhiên, họ cũng có những hạn chế nhất định, như thiếu kinh nghiệm; nhiều chuyên viên pháp lý thiếu kiến thức thực tiễn và kiến thức chuyên sâu trên các lĩnh vực; tầm nhìn về chính sách và khả năng phân tích, đánh giá chính sách đôi khi còn chưa toàn diện, sâu sắc.

Để nâng cao hơn nữa trình độ, kinh nghiệm của các công chức trẻ trong công tác xây dựng và thẩm định VBQPPL thì trước hết, công chức trẻ cần ý thức được điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, có ý chí phấn đấu, tâm huyết với công việc và có tinh thần trách nhiệm cao.

Theo đó, công chức trẻ nên không ngừng học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng thông qua quá trình làm việc (“learning by doing”); có ý thức trau dồi kiến thức để tránh lạc hậu, thường xuyên cập nhật kiến thức pháp luật và xã hội, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài; rèn luyện các kỹ năng nghiên cứu khoa học, thu thập, xử lý thông tin, kỹ năng phát hiện, phân tích, đánh giá các vấn đề thực tiễn và pháp lý; rèn luyện tư duy phản biện, tư duy mở; có thái độ cầu thị, lắng nghe ý kiến của người khác và học tập thế hệ đi trước; mạnh dạn nêu ý kiến cá nhân về các vấn đề mình quan tâm; chủ động, tích cực tham gia các khóa học đào tạo, bồi dưỡng, các hội thảo, tọa đàm. Quá trình học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn và kinh nghiệm là quá trình lâu dài, do đó, các công chức trẻ cần có quyết tâm cao để vượt qua những rào cản tâm lý và áp lực công việc.

Bên cạnh đó, các công chức trẻ cần tiếp tục nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện từ phía Lãnh đạo Bộ và lãnh đạo các đơn vị, thông qua các chủ trương về tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, chú trọng vấn đề “truyền nghề” giữa các thế hệ cán bộ, công chức; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công chức. Ngoài ra, cần có các giải pháp tăng cường sự kết nối, giao lưu giữa các công chức trẻ thuộc Bộ, như thông qua các hoạt động của Đoàn thanh niên Bộ và giữa các chi đoàn để các công chức trẻ có cơ hội chia sẻ thông tin, kiến thức và hỗ trợ nhau cùng phát triển.

ThS. Đỗ Thị Huệ

Chi đoàn Vụ Pháp luật hình sự - hành chính



[1]. Khoản 4 Điều 39, khoản 4 Điều 58, khoản 5 Điều 92, khoản 5 Điều 98 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[2]. Họp Hội đồng thẩm định Đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo.aspx?ItemID=3484.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: