Thứ năm 15/01/2026 08:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công chứng di chúc chung vợ, chồng theo tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015

Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc là “sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Bên cạnh đó,

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, nhà làm luật đã loại bỏ quy định về di chúc chung vợ, chồng được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2005. Vì vậy, thực tiễn hoạt động công chứng cũng có những thay đổi phù hợp nhằm đảm bảo ý nguyện của cá nhân khi người đó lập di chúc, đặc biệt khi công chứng viên tiếp nhận yêu cầu công chứng di chúc chung của hai vợ, chồng.

Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc là “sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Bên cạnh đó, Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hình thức của di chúc gồm hai loại là: (i) Di chúc bằng văn bản; (ii) Di chúc miệng. Điều 628 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định bốn loại di chúc bằng văn bản gồm: (i) Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; (ii) Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; (iii) Di chúc bằng văn bản có công chứng; (iv) Di chúc bằng văn bản có chứng thực. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ phân tích về di chúc bằng văn bản có công chứng trước đề nghị của vợ, chồng theo tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Hiện nay, trong chế định về thừa kế thì dường như việc nhà làm luật loại bỏ di chúc chung vợ, chồng là thay đổi lớn nhất đối với công chứng viên khi thực hiện chứng nhận nội dung công việc liên quan đến thừa kế. Bộ luật Dân sự năm 2005 có ba điều luật về di chúc chung vợ, chồng: Điều 663 - Di chúc chung vợ, chồng; Điều 664 - Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung vợ, chồng; Điều 668 - Hiệu lực pháp luật của di chúc chung vợ, chồng. Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua, thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005, trong đó, nhà làm luật không quy định về di chúc chung vợ, chồng nữa. Sự thay đổi này dẫn đến trong thực tiễn hoạt động nghề công chứng tồn tại vấn đề: Nếu cả hai vợ, chồng cùng đề nghị lập di chúc chung thì công chứng viên xử lý như thế nào? Đồng ý chứng nhận trong khi nhà làm luật đã không ghi nhận? Hoặc, từ chối công chứng trong khi tinh thần mới của dân luật là chủ thể “được làm những gì mà pháp luật không cấm” thay vì “được làm những gì phù hợp với quy định pháp luật”[1]. Điều vướng mắc này không những trong thực tiễn hành nghề công chứng mà còn bởi nhiều lập luận trái chiều trong giới nghiên cứu luật dân sự.

1. Một số quan điểm về lập di chúc chung của vợ, chồng trong hoạt động công chứng

Quan điểm thứ nhất: “Có thể hiểu đơn giản, nếu như Bộ luật Dân sự năm 2015 bỏ hoàn toàn điều luật về lập di chúc chung vợ chồng thì đương nhiên việc lập di chúc chỉ còn lại một quy định duy nhất, đó là di chúc riêng của từng cá nhân”[2].

Quan điểm này có sự so sánh, đối chiếu với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về di chúc chung vợ, chồng (Điều 663) và theo cách hiểu thông thường, khi Bộ luật Dân sự đã không còn quy định về di chúc chung của vợ, chồng (đã từng tồn tại trước đó) thì có nghĩa là quy định này không còn hiệu lực nữa. Tuy nhiên, quan điểm này lại chưa giải quyết triệt để vướng mắc thực tiễn trong hoạt động công chứng là việc giải quyết yêu cầu lập di chúc của cả hai vợ, chồng (di chúc chung).

Quan điểm thứ hai: Vợ, chồng đều là cá nhân và điều luật chỉ nói di chúc là ý chí cá nhân chứ không nói di chúc là “ý chí một cá nhân”, do vậy, hoàn toàn có thể hiểu vợ, chồng được lập di chúc chung[3].

Cũng nội dung liên quan, có tác giả nhận xét: “Bộ luật tiếp cận theo hướng, không quy định di chúc chung của vợ chồng, nhưng cũng không cấm vợ chồng lập di chúc chung mà áp dụng nguyên tắc chung về di chúc để xác định hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng”[4].

Ở một góc nhìn khác, Tài liệu tập huấn về những nội dung mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến hoạt động công chứng vào tháng 12/2016, trong đó, phần thừa kế nói về di chúc ghi: “Không quy định di chúc chung của vợ chồng, nhưng cũng không cấm”[5].

Tham khảo thêm tài liệu Hướng dẫn môn học Luật Dân sự do PGS.TS. Phạm Văn Tuyết (giảng viên Đại học Luật Hà Nội) soạn thảo liên quan đến vấn đề di chúc thì: “Đối với những di chúc do vợ, chồng lập chung, trong đó mặc dù thể hiện ý chí của cả hai người nhưng di chúc vẫn mang tính chất quyết định đơn phương ...”[6].

Qua những ý kiến nêu trên và thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy, thật không dễ dàng khi áp dụng quy định liên quan đến di chúc chung vợ, chồng trong thực tiễn, tác giả cho rằng, dường như có một “trật tự” khi nhà làm luật sửa đổi chủ thể, ví dụ: Tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về đại diện như sau: “Đại diện là việc một người ...”, do đó, khi Bộ luật Dân sự năm 2005 còn hiệu lực, về cơ bản, đại diện thông thường chỉ có một người mà thôi (trừ trường hợp là cha, mẹ hoặc ông, bà thực hiện giám hộ hoặc đại diện theo pháp luật[7]). Song, khi nhà làm luật sửa đổi, bổ sung về đại diện năm 2015, tại khoản 1 Điều 134 thì: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân...” cho thấy nhà làm luật sửa đổi “người” thành “cá nhân” và bổ sung “pháp nhân”, đồng thời, bỏ từ “một” đi. Như vậy, ngày nay, đại diện sẽ không hạn chế là một người nữa mà có thể là hai hoặc một số khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật. Tương tự như vậy, khi luật quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân...” thì có vẻ với “trật tự” sửa đổi về chủ thể cũng như sự đồng bộ, thống nhất về câu chữ và sự logic của các chế định liên quan, nhà làm luật không cấm hai cá nhân (vợ, chồng) thể hiện ý chí trong cùng một văn bản[8].

Hiểu đơn giản, cấm “... là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” (Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, nhà làm luật thường không quy định cụ thể hoặc không viết trực tiếp là cấm nhưng lại là cấm mặc dù ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật cần “... chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu”[9]. Có thể thấy, cũng liên quan đến di chúc, Điều 572 Bộ dân luật năm 1972 của chính quyền Sài Gòn cũ quy định: “Chúc thư chỉ có thể do một người lập ra... Đặc biệt, trong trường hợp chúc thư do hai vợ, chồng cùng làm...”. Ở Pháp, Điều 968 Bộ luật Dân sự quy định: “Hai hay nhiều người không được lập di chúc chung...”. Những điều luật trên cho thấy, chính quyền Sài Gòn chỉ thừa nhận chúc thư do một người lập và không thừa nhận hai người trở lên lập chung chúc thư (cấm) trừ trường hợp hai người đó là vợ, chồng hoặc ở Pháp, họ không thừa nhận di chúc do hai hay nhiều người lập chung (cấm) thì nghĩa là di chúc chỉ có một người lập, mặc dù không nói rõ là một người.

Như vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là, trước yêu cầu lập di chúc chung của hai cá nhân là vợ, chồng thì công chứng viên phải giải thích, soạn thảo và chứng nhận như thế nào để bảo đảm di chúc chung vợ, chồng có thể “sống” được trên thực tế, điều này đòi hỏi công chứng viên phải cẩn trọng trong quá trình hành nghề bởi công chứng viên không thể sửa sai khi người để lại di sản đã chết.

2. Giải pháp công chứng di chúc (chung) của vợ, chồng

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hành nghề công chứng cho thấy, việc tồn tại di chúc chung của vợ, chồng là hoàn toàn hợp lý và có thể áp dụng nguyên tắc chung về di chúc để xác định hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng như đã nêu ở trên. Theo đó, công chứng viên có thể chứng nhận di chúc chung vợ, chồng trong cùng một văn bản nhưng thể hiện ý chí độc lập của vợ, chồng. Để thực hiện được nội dung này, chúng ta cần thực hiện giải pháp về soạn thảo di chúc chung vợ, chồng trên cơ sở đáp ứng đúng quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

Một là, di chúc chung nhưng phải thể hiện được ý chí riêng của cá nhân người vợ, người chồng. Nói cách khác, do di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết (Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015) vì vậy, nếu vợ, chồng lập di chúc chung trong cùng một văn bản thì ý chí phải là của cá nhân người vợ, người chồng bởi thời điểm có hiệu lực của di chúc sẽ áp dụng đối với cá nhân người để lại tài sản của chính người đó mà không liên quan đến người vợ/chồng còn lại. Trường hợp một trong hai người chết trước (di chúc có hiệu lực một phần) sẽ phát sinh quyền thừa kế đối với người vợ/chồng đang sống, tuy nhiên, để bảo đảm người thừa kế hưởng toàn bộ di sản của người vợ/chồng chết trước thì người vợ/chồng đang sống có thể từ chối di sản theo quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015; hoặc người vợ/chồng có thể thỏa thuận phân chia (và tặng cho) phần di sản của người đã chết một cách độc lập theo Điều 57 Luật Công chứng năm 2014. Tiếp đến, người vợ/chồng có thể tặng cho phần tài sản chung hợp nhất của mình cho người thừa kế.

Hai là, di chúc phải thể hiện được phần tài sản chung hoặc tài sản riêng của cá nhân người vợ, người chồng được định đoạt trong di chúc theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015. Song, phần tài sản chung vợ, chồng là bao nhiêu thì hiện nay nội dung này cũng chưa được nhà làm luật quy định cụ thể. Tuy nhiên, theo tinh thần chung của luật, về cơ bản, vợ, chồng mỗi người sở hữu một phần hai khối tài sản chung được xác định theo những căn cứ pháp lý như sau:

(i) Theo khoản 2 Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”;

(ii) Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung (khoản 1 Điều 29); khi ly hôn, áp dụng nguyên tắc của Luật là tài sản chung vợ, chồng được chia đôi (khoản 2 Điều 59); khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, nếu có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung vợ, chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản (khoản 2, Điều 66). Như vậy, hiểu theo tinh thần của Luật thì vợ, chồng bình đẳng, có quyền ngang nhau, mỗi người có một nửa tài sản chung (nếu chia).

Ba là, di chúc phải xác định được thời điểm có hiệu lực đối với di sản của cá nhân người vợ, người chồng khi chuyển tài sản của mình cho chủ thể khác sau khi chết. Nói cách khác, di chúc phải xác định được thời điểm mở thừa kế của cá nhân người vợ, người chồng một cách độc lập. Điều này đòi hỏi người soạn thảo phải thận trọng vì dẫn chiếu theo Điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì hiệu lực di chúc chung vợ, chồng phát sinh khi người sau cùng chết hoặc cả hai vợ, chồng cùng chết tại một thời điểm. Quy định cũ gặp nhiều bất cập nếu một trong hai vợ, chồng chết trước thì người vợ hoặc chồng còn sống gặp nhiều khó khăn khi sử dụng tài sản chung vì người vợ hoặc chồng (và người thừa kế khác) không thể khai nhận/phân chia được di sản mà chỉ sửa đổi, bổ sung phần tài sản của người còn sống trong di chúc chung theo Điều 664 Bộ luật Dân sự năm 2005. Chính vì thế, để khai nhận/phân chia được di sản theo di chúc chung thì người soạn thảo phải tách biệt được thời điểm có hiệu lực đối với cá nhân người vợ (hoặc chồng) qua đó bảo đảm cho người thừa kế và người vợ (hoặc chồng) đang sống có thể xử lý được di sản của người đã chết.

Cần ghi cụ thể phần hiệu lực di chúc chung vợ, chồng như sau: “Người thừa kế theo di chúc có quyền thực hiện khai nhận/phân chia di sản thừa kế là phần tài sản của từng người để lại di sản nêu trên khi người đó chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết”. Bên cạnh đó, nếu vợ, chồng cùng lập di chúc yêu cầu thì công chứng viên cũng có thể chứng nhận hiệu lực di chúc chung vợ, chồng dựa trên quy định cũ tại Điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2005, song, do hạn chế trong thực tiễn của điều luật này như đã phân tích ở trên, công chứng viên nên giải thích cho người yêu cầu công chứng biết trước khi chứng nhận giao dịch.

Tóm lại, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di chúc chung vợ, chồng hoàn toàn có thể thực hiện và áp dụng trên thực tiễn nếu người soạn thảo nắm bắt được tinh thần của điều luật, đồng thời, người soạn thảo phải diễn đạt được nội dung văn bản một cách chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, đặc biệt là phần chủ thể, đối tượng và hiệu lực của di chúc chung vợ, chồng.

ThS. Hoàng Giang Linh

Văn phòng Công chứng Gia Khánh, thành phố Hà Nội


[1] Xem: Báo cáo số 151/BC-BTP ngày 15/7/2013 của Bộ Tư pháp về Báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật Dân sự năm 2005; và Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiệt hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

[2] Tuấn Đạo Thanh - chủ biên (2017), Bình luận một số quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có liên quan trực tiếp đến hoạt động công chứng, Nxb Tư pháp, 2017, tr. 397. Cuốn sách này cũng viết (trang 395): “Trong khi đó, lại có luồng ý kiến thứ hai cho rằng không thể thực hiện di chúc chung của vợ chồng vì pháp luật đã bãi bỏ các điều luật trên. Đây là luồng ý kiến của đa số các công chứng viên và đã được nhiều tổ chức hành nghề công chứng thực hiện”.

[3] Đỗ Văn Đại - chủ biên (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, 2016, tr. 539.

[4] Đinh Trung Tụng - chủ biên (2016), Bối cảnh xây dựng và một số nội dung mới chủ yếu của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb Tư pháp, 2016, tr. 57.

[5] Xem: Tài liệu tập huấn tháng 12/2016 của Hội Công chứng viên thành phố Hà Nội về Những nội dung mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến hoạt động công chứng, tác giả Nguyễn Hồng Hải - Phó vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự kinh tế, Bộ Tư pháp.

[6] Phạm Văn Tuyết (2017), Hướng dẫn môn học Luật Dân sự, tập 1, Nxb Tư pháp, 2017, tr. 346.

[7] Xem: Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ hướng dẫn Luật Khiếu nại năm 2011.

[8] Thật khó hình dung ra khái niệm đại diện là việc cá nhân... - không hạn chế số lượng - trong khi đó, khái niệm di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân...- lại bị hạn chế số lượng.

[9] Xem: Khoản 1 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bất cập trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Bộ luật Tố tụng dân sự Vướng mắc cần tháo gỡ để nâng cao hoạt động tranh tụng của luật sư tại phiên toà hình sự Hoàn thiện thẩm quyền của hội đồng giám đốc thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp Bàn về thẩm quyền đề nghị miễn thi hành án khoản tiền phạt theo Bộ luật Hình sự Những vướng mắc trong phối hợp thực hiện quy định về “cưỡng chế trả giấy tờ” Sự cần thiết và quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật Báo cáo thống kê thi hành án dân sự - Một số vấn đề từ thực tiễn Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về phiên tòa giám đốc thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Giải trừ trách nhiệm của công chức thuế, tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp

Luật số 56/2024/QH15 bổ sung quy định về trách nhiệm của công chức thuế theo hướng giải trừ trách nhiệm cho công chức thuế khi có gian lận trong kê khai, cung cấp thông tin tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp chân chính.

Cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là địa phương luôn nỗ lực, tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính, với mục tiêu tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, trong đó phải kể đến lĩnh vực cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Điều này được thể hiện rõ nét qua sự quyết tâm, chủ động, sáng tạo trong triển khai, thực hiện các văn bản, quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và những khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết bàn về những vấn đề cơ bản của quyền riêng tư và sự cần thiết phải bảo vệ quyền riêng tư; phân tích các vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân theo pháp luật quốc tế, từ đó đúc kết và đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: