Chủ nhật 07/12/2025 14:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật - Một số vướng mắc và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết này nhằm trao đổi một số khó khăn, vướng mắc trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

Tóm tắt: Bài viết này nhằm trao đổi một số khó khăn, vướng mắc trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

Abstract: This article aims to exchange some difficulties and obstacles in legal dissemination and education; to setup and to implement conventions and regulations; to build village level to reach the law access standards and provide solutions to improve the effectiveness of this work in the future.

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và chuẩn tiếp cận pháp luật có tầm quan trọng to lớn trong quá trình thực thi pháp luật, góp phần ổn định xã hội, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để đảm bảo công tác PBGDPL được triển khai trên diện rộng với nội dung và hình thức phù hợp, tăng cường trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, ngày 20/6/2012, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 ban hành quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và Quyết định số 22/22018/QĐ-TTg ngày 08/5/2018 về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước.

1. Một số vướng mắc trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trên địa bàn tỉnh đã tăng cường công tác tuyên truyền, PBGDPL, không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức, và nhân dân; đưa công tác tuyên truyền, PBGDPL trở thành nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của cơ quan, đơn vị; chỉ đạo thực hiện tốt công tác xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định, từ đó, hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật, góp phần ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội, xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập cần có giải pháp tháo gỡ. Cụ thể:

1.1. Đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

- Về việc triển khai các đề án về PBGDPL: Trong danh mục các đề án về PBGDPL giai đoạn 2017 - 2021 (được ban hành kèm theo Báo cáo số 44/BC-HĐPH ngày 12/02/2018 về kết quả hoạt động của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương, bộ, ngành, địa phương năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2018), có tổng 22 đề án về PBGDPL (trong đó, 06 đề án có kế hoạch tiếp tục triển khai thực hiện; 05 đề án được ban hành mới và 11 đề án đã được phê duyệt, tổ chức thực hiện).

Theo thống kê của Sở Tư pháp, hiện trên địa bàn tỉnh đã và đang triển khai 10 đề án về PBGDPL. Nhìn chung, việc triển khai các đề án về công tác PBGDPL trên địa bàn tỉnh đã thực hiện có nề nếp hơn; qua đó, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong công chức, viên chức và người dân đã được cải thiện rõ rệt; giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp luật xảy ra. Tuy nhiên, việc ban hành quá nhiều đề án về PBGDPL trong khi nguồn lực triển khai của địa phương còn hạn chế, đặc biệt là về kinh phí và nhân lực thực hiện sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng triển khai thực hiện các đề án.

Tại Chương III Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã quy định cụ thể về trách nhiệm PBDGPL của cơ quan, tổ chức, cá nhân và được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật. Mặt khác, phần lớn chỉ có các đề án do Sở Tư pháp, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh chủ trì được triển khai thực hiện về cơ bản, còn lại các cơ quan, đơn vị khác ít quan tâm đến việc tổ chức thực hiện các đề án được giao chủ trì nên việc triển khai còn hình thức, chưa hiệu quả hoặc có triển khai nhưng khi có đề nghị thì ít cơ quan, đơn vị phối hợp báo cáo về Sở Tư pháp để theo dõi, tổng hợp.

- Về cơ chế đảm bảo hiệu quả hoạt động, chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác PBGDPL: Để tuyên truyền, PBGDPL đến cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân thì vấn đề đầu tiên được coi là quan trọng nhất đó là yếu tố con người. Hiện nay, nguồn nhân lực triển khai công tác PBGDPL trên địa bàn tỉnh về cơ bản đã đảm bảo tương đối về số lượng[1] nhưng chất lượng hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đặc biệt, báo cáo viên pháp luật các cấp phải tuân thủ các tiêu chí quy định của Thông tư số 10/2016/TT-BTP ngày 22/7/2016 của Bộ Tư pháp quy định về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật (Thông tư số 10/2016/TT-BTP). Tuy nhiên, quy định tiêu chuẩn công nhận báo cáo viên pháp luật còn mang tính chung chung[2], chưa đảm bảo chất lượng của báo cáo viên pháp luật sau khi được công nhận. Mặt khác, nhiều cơ quan, đơn vị đề nghị công nhận số lượng nhiều báo cáo viên pháp luật nhưng thực tế sau khi công nhận thì những báo cáo viên này rất ít triển khai hoạt động hoặc từ chối việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức để thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi quản lý. Trên cơ sở đề nghị của các cơ quan, đơn vị, thì Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp có trách nhiệm tổng hợp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật, chứ không có cơ sở để “bác” hồ sơ đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật.

Ngoài ra, Thông tư số 10/2016/TT-BTP cũng không quy định cơ chế để đảm bảo hiệu quả hoạt động của báo cáo viên pháp luật (chẳng hạn như việc không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 36 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 thì giải quyết như thế nào?).

1.2. Đối với công tác xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của thôn, làng, tổ dân phố

Khác với các quy định về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước trước kia, công tác tham mưu xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước giao cho Bộ, Ngành Tư pháp, tại Điều 12 Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg quy định Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì tham mưu Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn triển khai nhiệm vụ xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước. Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức liên quan kiểm tra, kiến nghị việc xử lý hương ước, quy ước vi phạm do có nội dung trái pháp luật, xâm phạm các quyền con người, quyền công dân. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa - Thông tin, công chức văn hóa - xã hội chủ trì, phối hợp với cơ quan tư pháp cùng cấp, công chức tư pháp - hộ tịch tham mưu giúp Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp triển khai thực hiện Quyết định này.

Tuy nhiên, quy định trách nhiệm tại Quyết định nêu trên chưa cụ thể, chưa phân định rõ nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị (trách nhiệm nào thuộc Bộ, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch; trách nhiệm nào thuộc Bộ, Ngành Tư pháp,...) dễ dẫn đến sự lúng túng trong quá trình triển khai.

1.3. Đối với công tác xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Theo kết quả đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2017 và thực trạng, kết quả dự kiến năm 2018 của các huyện trên địa bàn tỉnh, cả tỉnh có 115/222 đơn vị cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (gồm: 92 xã, 20 phường và 03 thị trấn); 107/222 đơn vị cấp xã chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (gồm: 92 xã, 04 phường, 11 thị trấn). Tuy nhiên, phần lớn các chỉ tiêu xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật mang tính định tính nhiều hơn định lượng, nhiều chỉ tiêu có phạm vi quá rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, khó khăn trong công tác phối hợp, tổng hợp và đánh giá, cụ thể:

- Với nội dung 2, chỉ tiêu 1 của tiêu chí 1 về ban hành kế hoạch, văn bản khác triển khai nhiệm vụ được giao để thi hành Hiến pháp, pháp luật, chỉ đạo của cấp trên đúng yêu cầu, tiến độ, thì không thể xác định rõ được phạm vi triển khai để đảm bảo yêu cầu và đạt điểm tối đa.

- Với chỉ tiêu 2 của tiêu chí 2 về bố trí địa điểm, công chức tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính theo quy định thì việc đảm bảo diện tích làm việc của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đạt 0.5 điểm. Tuy nhiên, từ ngày 21/6/2018, Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương hết hiệu lực thi hành và thay vào đó là áp dụng theo Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 21/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Tuy nhiên, Nghị định số 61/2018/NĐ-CP không quy định cụ thể về diện tích của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Vậy, tiêu chí này sẽ đánh giá và chấm điểm như thế nào?

- Về mốc thời gian đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và đánh giá, phân loại đảng bộ, chính quyền cấp xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” không thực hiện đồng thời. Vậy, vấn đề này phải triển khai như thế nào?

1.4. Sự chồng chéo trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ về phổ biến, giáo dục pháp luật theo lĩnh vực, ngành

Thực tiễn triển khai công tác PBGDPL cho thấy còn có sự chồng chéo, thiếu thống nhất trong văn bản hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, hoạt động, nội dung PBGDPL giữa các bộ, ngành ở trung ương và địa phương. Chẳng hạn, đối với Bộ Chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh, trong công tác PBGDPL, đơn vị vừa phải thực hiện theo quy định của ngành theo Thông tư số 42/2016/TT-BQP ngày 30/3/2016 của Bộ Quốc phòng quy định công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong Bộ Quốc phòng, vừa thực hiện theo quy định chung của tỉnh. Thông tư này quy định các nội dung về công tác PBGDPL theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 (nội dung, hình thức PBGDPL, Ngày Pháp luật, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật,...) dẫn đến sự chồng chéo, trùng lắp, thậm chí có lúc nhầm lẫn trong việc triển khai thực hiện.

1.5. Đối với quy định về xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Xã hội hóa công tác PBGDPL là một trong những giải pháp được xem là hiệu quả nhằm huy động các nguồn lực xã hội, nâng cao chất lượng công tác PBGDPL nói chung được quy định trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, đó là một xu thế khách quan, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội. Tuy nhiên, chỉ với những quy định mang tính chung chung thì không đủ cơ sở để triển khai thực hiện (chưa xác định rõ phạm vi, lộ trình, giới hạn, cơ chế quản lý và kiểm soát của Nhà nước trong việc xã hội hóa công tác PBGDPL,…). Hiện nay, việc xã hội hóa công tác PBGDPL chủ yếu thực hiện dựa trên ngân sách nhà nước, rất khó huy động nguồn đóng góp của các nguồn lực bên ngoài. Mặt khác, vẫn chưa có mô hình, kết quả cụ thể nào về xã hội hóa công tác PBGDPL mà vẫn trong giai đoạn “vừa làm vừa rút kinh nghiệm”.

1.6. Đối với công tác xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật

Hiện tại, mức chi cho tủ sách pháp luật cấp xã trên địa bàn tỉnh Gia Lai thực hiện theo Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật, theo đó, mức chi xây dựng, quản lý cho mỗi tủ sách pháp luật cấp xã trên địa bàn tỉnh là 2.000.000 đồng/năm bắt đầu thực hiện từ năm 2010. Nguồn ngân sách nêu trên do ngân sách cấp xã đảm bảo thực hiện.

Từ thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng tủ sách pháp luật cấp xã cho thấy hoạt động của tủ sách pháp luật cấp xã mang tính hình thức, kém hiệu quả, nguyên nhân xuất phát từ sự phát triển của công nghệ thông tin dẫn đến nhu cầu tìm hiểu thông tin pháp luật phần lớn được người dân tìm hiểu trên mạng internet nhiều hơn là tìm đến các tài liệu trong tủ sách pháp luật; Ủy ban nhân dân cấp xã ít quan tâm đầu tư cho tủ sách pháp luật dẫn đến bố trí kinh phí cho hoạt động của tủ sách pháp luật còn hạn hẹp, chưa bố trí cán bộ quản lý tủ sách pháp luật, địa điểm đặt tủ sách, luân chuyển sách phù hợp,... Tuy nhiên, đến nay, từ phía trung ương vẫn chưa có quy định thay thế Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật.

1.7. Đối với tổ chức và hoạt động của các loại hình câu lạc bộ pháp luật

Đến nay, chưa có quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của các loại hình câu lạc bộ pháp luật; chưa có chính sách, giải pháp hỗ trợ về tài liệu sinh hoạt, kinh phí hoạt động, hỗ trợ nước uống, cơ sở vật chất, địa điểm, phương tiện... dẫn đến hoạt động của các loại hình câu lạc bộ phần lớn mang tính hình thức, hiệu quả thấp.

1.8. Đối với công tác thống kê, báo cáo, định hướng chương trình công tác năm sau

Mốc thời điểm báo cáo kết quả triển khai công tác PBGDPL được quy định tại các Kế hoạch do Bộ Tư pháp, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương ban hành từ đầu năm và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo với thời điểm báo cáo được quy định tại Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03/3/2016 của Bộ Tư pháp quy định nội dung về hoạt động thống kê của Ngành Tư pháp là không thống nhất, rất khó cho địa phương tổng hợp, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện theo quy định. Mặt khác, bản chất của công tác PBGDPL mang tính định tính hơn định lượng, nếu sử dụng biện pháp ước tính số liệu thì không sát với thực tiễn, không đánh giá thực chất kết quả triển khai, chưa nói đến việc có nhiều thông tin, số liệu không thể dùng biện pháp ước tính như hướng dẫn.

Về kế hoạch công tác đầu năm, Bộ Tư pháp, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương ban hành kế hoạch triển khai quá muộn, trong khi ở địa phương, để triển khai các nhiệm vụ trong năm thì phải ban hành kế hoạch trước ngày 31/12 của năm liền kề. Vì vậy, nhiều nội dung sẽ không đảm bảo sát với chỉ đạo, hướng dẫn từ trung ương.

2. Một số giải pháp hoàn thiện thể chế về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Trong thời gian tới, để công tác PBGDPL, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và chuẩn tiếp cận pháp luật trên cả nước nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng phát huy hiệu quả hơn nữa, thiết nghĩ, Bộ Tư pháp cần phối hợp với các bộ, ngành, đoàn thể trung ương nghiên cứu, tham mưu cơ quan, người có thẩm quyền trong việc hoàn thiện thể chế về công tác PBGDPL, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, cụ thể:

Một là, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể cho địa phương đối với những vấn đề đã kiến nghị để áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Hai là, cần nghiên cứu hợp nhất một số đề án về công tác PBGDPL, hạn chế việc ban hành mới các đề án. Ban hành quy định đảm bảo hiệu quả, chất lượng hoạt động của báo cáo viên pháp luật các cấp (ví dụ như: Xây dựng quy chế hoạt động của báo cáo viên pháp luật, theo đó, báo cáo viên pháp luật phải trực tiếp tham gia công tác PBGDPL ít nhất 01 lần/năm. Trường hợp không đảm bảo điều kiện này thì sẽ miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật).

Ba là, “xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật” là một nội dung thành phần trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ). Do đó, cần có sự hướng dẫn cụ thể việc triển khai nội dung từng tiêu chí, chỉ tiêu thực hiện xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Thông tư số 07/2017/TT-BTP ngày 28/7/2017 của Bộ Tư pháp quy định về điểm số, hướng dẫn cách tính điểm chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật và nội dung về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Bốn là, sửa đổi, bổ sung Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật; quy định cụ thể về tổ chức, hoạt động, chính sách, giải pháp hỗ trợ nguồn lực cho hoạt động của các loại hình câu lạc bộ pháp luật; tổng kết và tiếp tục tham mưu hoàn thiện thể chế, chính sách cũng như tăng cường các biện pháp chỉ đạo, hướng dẫn để triển khai thực hiện xã hội hóa công tác PBGDPL.

Hy vọng rằng, trong thời gian tới, các bộ, ngành, đoàn thể trung ương sẽ sớm hoàn thiện các quy định pháp luật về công tác PBGDPL, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và chuẩn tiếp cận pháp luật để địa phương có cơ sở triển khai thực hiện hiệu quả; góp phần đưa pháp luật vào thực tiễn, hướng mọi người “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.

Dương Thị Thanh Hiếu

Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai





[1]. 102 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, 483 báo cáo viên pháp luật cấp huyện, 3.603 tuyên truyền viên pháp luật cấp xã, 12.036 hòa giải viên ở cơ sở, 1.256 người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.

[2]. Tiêu chuẩn công nhận báo cáo viên pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và Điều 3 Thông tư số 10/2016/TT-BTP:

- Có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường tư tưởng vững vàng, có uy tín trong công tác;

- Có khả năng truyền đạt;

- Có bằng tốt nghiệp đại học luật và thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật ít nhất là 02 năm; trường hợp không có bằng tốt nghiệp đại học luật, nhưng có bằng tốt nghiệp đại học khác thì phải có thời gian công tác liên quan đến pháp luật ít nhất là 03 năm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Giải trừ trách nhiệm của công chức thuế, tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp

Luật số 56/2024/QH15 bổ sung quy định về trách nhiệm của công chức thuế theo hướng giải trừ trách nhiệm cho công chức thuế khi có gian lận trong kê khai, cung cấp thông tin tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp chân chính.

Cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là địa phương luôn nỗ lực, tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính, với mục tiêu tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, trong đó phải kể đến lĩnh vực cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Điều này được thể hiện rõ nét qua sự quyết tâm, chủ động, sáng tạo trong triển khai, thực hiện các văn bản, quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và những khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết bàn về những vấn đề cơ bản của quyền riêng tư và sự cần thiết phải bảo vệ quyền riêng tư; phân tích các vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân theo pháp luật quốc tế, từ đó đúc kết và đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: