Thứ bảy 17/10/2026 13:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông - Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị

Bài viết phản ánh một số khó khăn, vướng mắc trong thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); các nghị định của Chính phủ quy định về công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông; đề xuất một số giải pháp khắc phục, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật nói chung, công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông nói riêng.

1. Nhận diện khó khăn, vướng mắc trong thực hiện công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; đồng thời, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là việc thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”; xây dựng hệ thống pháp luật, thể chế pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn; bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn; kiềm chế gia tăng tai nạn giao thông nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tạo chuyển biến rõ nét về trật tự, an toàn xã hội; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại; hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển hạ tầng[1].

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trong việc hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý cho công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (TTATGT) của lực lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và trải qua 11 năm Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) đi vào cuộc sống, cùng với sự ra đời của một số nghị định của Chính phủ quy định về công tác xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực giao thông cho thấy, những chuyển biến tích cực trong công tác bảo đảm TTATGT nói chung và trong công tác xử phạt VPHC của lực lượng CSGT nói riêng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác bảo đảm TTATGT của lực lượng CSGT vẫn còn bộc lộ nhiều vấn đề khó khăn, bất cập mà điển hình là trong công tác xử phạt VPHC về TTATGT với những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các nghị định của Chính phủ đối với công tác thực tiễn của lực lượng CSGT. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống các biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 118/2021/NĐ-CP) còn bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý.

Các biểu mẫu được ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP như biên bản VPHC, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép chứng chỉ hành nghề, quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa... trong đó, một số biểu mẫu có khoảng cách, tỷ lệ không hợp lý, nhiều đề mục, nhiều chú thích, cán bộ lập biên bản viết không đủ chỗ. Một hồ sơ xử phạt VPHC đi kèm nhiều biểu mẫu, người dân phải ký nhiều văn bản, phần nào ảnh hưởng đến công tác thiết lập hồ sơ xử lý VPHC của cán bộ, mặt khác còn gây khó chịu, phiền hà cho cá nhân, tổ chức vi phạm; các loại biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện... chia thành nhiều loại biểu mẫu theo từng đối tượng, dễ gây nhầm lẫn, quản lý quá nhiều loại biểu mẫu.

Thứ hai, quy định về niêm phong phương tiện VPHC trong lĩnh vực TTATGT còn rườm rà, thiếu thực tế, thiếu những quy định cụ thể.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng CSGT lập biên bản và ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC theo quy định phải tiến hành niêm phong tang vật, phương tiện đó nhưng trên thực tế, việc thiết lập biên bản niêm phong và biên bản mở niêm phong khi trả phương tiện, tang vật VPHC mà người lập, người mở niêm phong lại là một người thì đây là bất cập mà đến nay vẫn chưa có quy định hướng dẫn nào về việc này; trong điều tra giải quyết tai nạn giao thông các phương tiện hư hỏng thì việc niêm phong phương tiện không có ý nghĩa mà thêm thủ tục rườm rà; chưa có quy định về mẫu giấy niêm phong. Đối với các phương tiện là xe cơ giới trước khi niêm phong phải rút hết toàn bộ nhiên liệu trong bình để bảo đảm công tác phòng, chống cháy nổ thì số nhiên liệu sẽ xử lý như thế nào? Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này. Việc niêm phong không quy định cụ thể niêm phong như thế nào, vị trí niêm phong cụ thể trên từng loại phương tiện bao gồm cả phương tiện thủy nội địa.

Thứ ba, quy định về thời gian chuyển biên bản VPHC về TTATGT trong trường hợp không thuộc thẩm quyền xử lý còn thiếu tính khả thi.

Khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp VPHC không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản VPHC được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa”.

Thực tế, đối với vụ việc khai thác cát trái phép đơn vị giải quyết, sau khi đã xác minh làm rõ, đủ căn cứ để lập biên bản thì đơn vị phải trình lãnh đạo Phòng CSGT phụ trách phê duyệt, sau đó, chuyển hồ sơ qua Giám đốc Công an tỉnh, thành phố thẩm định rồi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ký quyết định xử phạt VPHC. Việc quy định 24 giờ phải chuyển biên bản VPHC đến người có thẩm quyền xử phạt là không khả thi, vì điều kiện sông nước đi lại khó khăn, xa trụ sở làm việc, việc xác minh làm rõ các đối tượng vi phạm mất nhiều thời gian dẫn đến quá thời hạn không ra quyết định xử phạt VPHC, tang vật, phương tiện VPHC để lâu không được tịch thu, xử lý dẫn đến hư hỏng, suy giảm chất lượng.

Thứ tư, việc quy định thời hạn thông báo 01 năm là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC về TTATGT.

Tại điểm b khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện... Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện VPHC”.

Thời hạn thông báo 01 năm là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC, khiến cho tang vật, phương tiện bị tạm giữ lâu ngày không được xử lý bị hư hỏng, suy giảm về chất lượng, đặc tính; ngoài ra, còn làm tăng số lượng tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ (do phải chờ xử lý) gây tồn đọng trong khi điều kiện bến, cảng tạm giữ còn hạn chế và phát sinh chi phí trong coi, bảo quản tang vật.

Thứ năm, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với một số hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định số 139/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa (Nghị định số 139/2021/NĐ-CP) còn thiếu tính khả thi.

Đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 38 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về chở quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện” sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc đưa lên khỏi phương tiện số hàng hóa vượt quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện”.

Đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 35 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về xếp, dỡ hàng hóa” cũng bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc xếp hàng hóa theo đúng quy định; buộc đưa xe mô tô, xe gắn máy, xe ô tô vượt quá số lượng lên khỏi phương tiện”. Nếu hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 35 xảy ra trên phương tiện vận chuyển hành khách ngang sông mà phương tiện đó đã di chuyển được một quãng đường thì áp dụng biện pháp đó như thế nào? Tiếp tục cho phương tiện đó đi hết quãng đường hay yêu cầu quay về bến để đưa các xe gắn máy, xe mô tô, xe ô tô chở quá số lượng quy định lên bến? Với tình hình thực tế hiện nay, đơn vị chưa có bến, bãi hạ tải hàng hóa, mặt khác, thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả thuộc Trưởng phòng và Giám đốc Công an tỉnh, thành phố; do đó, để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả ngay sau khi phát hiện hành vi vi phạm bảo đảm kịp thời và đúng thẩm quyền là không bảo đảm tính khả thi.

2. Giải pháp

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả, hoàn thiện pháp luật về xử lý VPHC, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATGT, dưới góc độ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực hiện công tác xử phạt VPHC về TTATGT như sau:

Thứ nhất, khảo sát, đánh giá lại hệ thống các biểu mẫu được sử dụng trong công tác xử phạt VPHC về TTATGT, lấy ý kiến lực lượng CSGT - Công an các đơn vị địa phương trực tiếp thực hiện việc lập biên bản VPHC, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép chứng chỉ hành nghề, ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, ra quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa để điều chỉnh khoảng cách, tỷ lệ cho hợp lý, cắt giảm các đề mục và một số chú thích không cần thiết. Rà soát lại các loại biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện... hạn chế việc chia thành nhiều loại biểu mẫu theo từng đối tượng, dễ gây nhầm lẫn và khó khăn cho công tác quản lý.

Thứ hai, ban hành quy định về niêm phong phương tiện VPHC trong lĩnh vực TTATGT theo hướng cụ thể, bám sát thực tiễn. Bổ sung nguyên tắc việc lập niêm phong và mở niêm phong tang vật, phương tiện VPHC phải được thực hiện bằng hai người có thẩm quyền khác nhau; nghiên cứu và ban hành mẫu giấy niêm phong; có hướng dẫn cụ thể về việc niêm phong phương tiện hư hỏng trong vụ tai nạn giao thông, quy định cụ thể niêm phong như thế nào, vị trí niêm phong cụ thể trên từng loại phương tiện bao gồm cả phương tiện thủy nội địa và có quy định xử lý đối với nhiên liệu được rút ra từ bình chứa của các phương tiện bị niêm phong.

Thứ ba, đề xuất quy định lại thời gian chuyển biên bản VPHC (tại khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) trong trường hợp không thuộc thẩm quyền xử lý từ 24 giờ lên 72 giờ để cơ quan thực thi pháp luật đủ thời gian hoàn thiện hồ sơ và chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt.

Thứ tư, do thời hạn thông báo đối với các trường hợp VPHC (01 năm) là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC, khiến cho tang vật, phương tiện bị tạm giữ lâu ngày không được xử lý bị hư hỏng, suy giảm về chất lượng, đặc tính; ngoài ra, còn làm tăng số lượng tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ (do phải chờ xử lý) gây tồn đọng trong khi điều kiện bến, cảng tạm giữ còn hạn chế và phát sinh chi phí trông coi, bảo quản tang vật. Do vậy, tại điểm b khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cần giảm thời gian thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với các tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ trong trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp từ 01 năm xuống còn 03 tháng là phù hợp.

Thứ năm, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về việc khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 38 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về chở quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện” và hành vi vi phạm được quy định tại Điều 35 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về xếp, dỡ hàng hóa” vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, vừa phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, không gây phiền hà, khó khăn cho người dân./.

Thiếu tá, ThS. Chu Công Thế

Khoa Cảnh sát giao thông, Học viện Cảnh sát nhân dân

[1].Bộ Chính trị (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII - tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: