Thứ bảy 07/02/2026 21:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông - Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị

Bài viết phản ánh một số khó khăn, vướng mắc trong thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); các nghị định của Chính phủ quy định về công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông; đề xuất một số giải pháp khắc phục, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật nói chung, công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông nói riêng.

1. Nhận diện khó khăn, vướng mắc trong thực hiện công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; đồng thời, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là việc thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”; xây dựng hệ thống pháp luật, thể chế pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn; bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn; kiềm chế gia tăng tai nạn giao thông nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tạo chuyển biến rõ nét về trật tự, an toàn xã hội; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại; hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển hạ tầng[1].

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trong việc hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý cho công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (TTATGT) của lực lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và trải qua 11 năm Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) đi vào cuộc sống, cùng với sự ra đời của một số nghị định của Chính phủ quy định về công tác xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực giao thông cho thấy, những chuyển biến tích cực trong công tác bảo đảm TTATGT nói chung và trong công tác xử phạt VPHC của lực lượng CSGT nói riêng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác bảo đảm TTATGT của lực lượng CSGT vẫn còn bộc lộ nhiều vấn đề khó khăn, bất cập mà điển hình là trong công tác xử phạt VPHC về TTATGT với những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các nghị định của Chính phủ đối với công tác thực tiễn của lực lượng CSGT. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống các biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 118/2021/NĐ-CP) còn bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý.

Các biểu mẫu được ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP như biên bản VPHC, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép chứng chỉ hành nghề, quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa... trong đó, một số biểu mẫu có khoảng cách, tỷ lệ không hợp lý, nhiều đề mục, nhiều chú thích, cán bộ lập biên bản viết không đủ chỗ. Một hồ sơ xử phạt VPHC đi kèm nhiều biểu mẫu, người dân phải ký nhiều văn bản, phần nào ảnh hưởng đến công tác thiết lập hồ sơ xử lý VPHC của cán bộ, mặt khác còn gây khó chịu, phiền hà cho cá nhân, tổ chức vi phạm; các loại biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện... chia thành nhiều loại biểu mẫu theo từng đối tượng, dễ gây nhầm lẫn, quản lý quá nhiều loại biểu mẫu.

Thứ hai, quy định về niêm phong phương tiện VPHC trong lĩnh vực TTATGT còn rườm rà, thiếu thực tế, thiếu những quy định cụ thể.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng CSGT lập biên bản và ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC theo quy định phải tiến hành niêm phong tang vật, phương tiện đó nhưng trên thực tế, việc thiết lập biên bản niêm phong và biên bản mở niêm phong khi trả phương tiện, tang vật VPHC mà người lập, người mở niêm phong lại là một người thì đây là bất cập mà đến nay vẫn chưa có quy định hướng dẫn nào về việc này; trong điều tra giải quyết tai nạn giao thông các phương tiện hư hỏng thì việc niêm phong phương tiện không có ý nghĩa mà thêm thủ tục rườm rà; chưa có quy định về mẫu giấy niêm phong. Đối với các phương tiện là xe cơ giới trước khi niêm phong phải rút hết toàn bộ nhiên liệu trong bình để bảo đảm công tác phòng, chống cháy nổ thì số nhiên liệu sẽ xử lý như thế nào? Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này. Việc niêm phong không quy định cụ thể niêm phong như thế nào, vị trí niêm phong cụ thể trên từng loại phương tiện bao gồm cả phương tiện thủy nội địa.

Thứ ba, quy định về thời gian chuyển biên bản VPHC về TTATGT trong trường hợp không thuộc thẩm quyền xử lý còn thiếu tính khả thi.

Khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp VPHC không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản VPHC được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa”.

Thực tế, đối với vụ việc khai thác cát trái phép đơn vị giải quyết, sau khi đã xác minh làm rõ, đủ căn cứ để lập biên bản thì đơn vị phải trình lãnh đạo Phòng CSGT phụ trách phê duyệt, sau đó, chuyển hồ sơ qua Giám đốc Công an tỉnh, thành phố thẩm định rồi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ký quyết định xử phạt VPHC. Việc quy định 24 giờ phải chuyển biên bản VPHC đến người có thẩm quyền xử phạt là không khả thi, vì điều kiện sông nước đi lại khó khăn, xa trụ sở làm việc, việc xác minh làm rõ các đối tượng vi phạm mất nhiều thời gian dẫn đến quá thời hạn không ra quyết định xử phạt VPHC, tang vật, phương tiện VPHC để lâu không được tịch thu, xử lý dẫn đến hư hỏng, suy giảm chất lượng.

Thứ tư, việc quy định thời hạn thông báo 01 năm là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC về TTATGT.

Tại điểm b khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện... Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện VPHC”.

Thời hạn thông báo 01 năm là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC, khiến cho tang vật, phương tiện bị tạm giữ lâu ngày không được xử lý bị hư hỏng, suy giảm về chất lượng, đặc tính; ngoài ra, còn làm tăng số lượng tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ (do phải chờ xử lý) gây tồn đọng trong khi điều kiện bến, cảng tạm giữ còn hạn chế và phát sinh chi phí trong coi, bảo quản tang vật.

Thứ năm, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với một số hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định số 139/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa (Nghị định số 139/2021/NĐ-CP) còn thiếu tính khả thi.

Đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 38 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về chở quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện” sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc đưa lên khỏi phương tiện số hàng hóa vượt quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện”.

Đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 35 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về xếp, dỡ hàng hóa” cũng bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc xếp hàng hóa theo đúng quy định; buộc đưa xe mô tô, xe gắn máy, xe ô tô vượt quá số lượng lên khỏi phương tiện”. Nếu hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 35 xảy ra trên phương tiện vận chuyển hành khách ngang sông mà phương tiện đó đã di chuyển được một quãng đường thì áp dụng biện pháp đó như thế nào? Tiếp tục cho phương tiện đó đi hết quãng đường hay yêu cầu quay về bến để đưa các xe gắn máy, xe mô tô, xe ô tô chở quá số lượng quy định lên bến? Với tình hình thực tế hiện nay, đơn vị chưa có bến, bãi hạ tải hàng hóa, mặt khác, thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả thuộc Trưởng phòng và Giám đốc Công an tỉnh, thành phố; do đó, để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả ngay sau khi phát hiện hành vi vi phạm bảo đảm kịp thời và đúng thẩm quyền là không bảo đảm tính khả thi.

2. Giải pháp

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả, hoàn thiện pháp luật về xử lý VPHC, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATGT, dưới góc độ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực hiện công tác xử phạt VPHC về TTATGT như sau:

Thứ nhất, khảo sát, đánh giá lại hệ thống các biểu mẫu được sử dụng trong công tác xử phạt VPHC về TTATGT, lấy ý kiến lực lượng CSGT - Công an các đơn vị địa phương trực tiếp thực hiện việc lập biên bản VPHC, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép chứng chỉ hành nghề, ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, ra quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa để điều chỉnh khoảng cách, tỷ lệ cho hợp lý, cắt giảm các đề mục và một số chú thích không cần thiết. Rà soát lại các loại biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện... hạn chế việc chia thành nhiều loại biểu mẫu theo từng đối tượng, dễ gây nhầm lẫn và khó khăn cho công tác quản lý.

Thứ hai, ban hành quy định về niêm phong phương tiện VPHC trong lĩnh vực TTATGT theo hướng cụ thể, bám sát thực tiễn. Bổ sung nguyên tắc việc lập niêm phong và mở niêm phong tang vật, phương tiện VPHC phải được thực hiện bằng hai người có thẩm quyền khác nhau; nghiên cứu và ban hành mẫu giấy niêm phong; có hướng dẫn cụ thể về việc niêm phong phương tiện hư hỏng trong vụ tai nạn giao thông, quy định cụ thể niêm phong như thế nào, vị trí niêm phong cụ thể trên từng loại phương tiện bao gồm cả phương tiện thủy nội địa và có quy định xử lý đối với nhiên liệu được rút ra từ bình chứa của các phương tiện bị niêm phong.

Thứ ba, đề xuất quy định lại thời gian chuyển biên bản VPHC (tại khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) trong trường hợp không thuộc thẩm quyền xử lý từ 24 giờ lên 72 giờ để cơ quan thực thi pháp luật đủ thời gian hoàn thiện hồ sơ và chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt.

Thứ tư, do thời hạn thông báo đối với các trường hợp VPHC (01 năm) là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC, khiến cho tang vật, phương tiện bị tạm giữ lâu ngày không được xử lý bị hư hỏng, suy giảm về chất lượng, đặc tính; ngoài ra, còn làm tăng số lượng tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ (do phải chờ xử lý) gây tồn đọng trong khi điều kiện bến, cảng tạm giữ còn hạn chế và phát sinh chi phí trông coi, bảo quản tang vật. Do vậy, tại điểm b khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cần giảm thời gian thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với các tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ trong trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp từ 01 năm xuống còn 03 tháng là phù hợp.

Thứ năm, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về việc khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 38 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về chở quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện” và hành vi vi phạm được quy định tại Điều 35 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về xếp, dỡ hàng hóa” vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, vừa phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, không gây phiền hà, khó khăn cho người dân./.

Thiếu tá, ThS. Chu Công Thế

Khoa Cảnh sát giao thông, Học viện Cảnh sát nhân dân

[1].Bộ Chính trị (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII - tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: