Thứ sáu 13/03/2026 04:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông - Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị

Bài viết phản ánh một số khó khăn, vướng mắc trong thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); các nghị định của Chính phủ quy định về công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông; đề xuất một số giải pháp khắc phục, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật nói chung, công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông nói riêng.

1. Nhận diện khó khăn, vướng mắc trong thực hiện công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; đồng thời, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là việc thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”; xây dựng hệ thống pháp luật, thể chế pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn; bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn; kiềm chế gia tăng tai nạn giao thông nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tạo chuyển biến rõ nét về trật tự, an toàn xã hội; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại; hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển hạ tầng[1].

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trong việc hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý cho công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (TTATGT) của lực lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và trải qua 11 năm Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) đi vào cuộc sống, cùng với sự ra đời của một số nghị định của Chính phủ quy định về công tác xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực giao thông cho thấy, những chuyển biến tích cực trong công tác bảo đảm TTATGT nói chung và trong công tác xử phạt VPHC của lực lượng CSGT nói riêng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác bảo đảm TTATGT của lực lượng CSGT vẫn còn bộc lộ nhiều vấn đề khó khăn, bất cập mà điển hình là trong công tác xử phạt VPHC về TTATGT với những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các nghị định của Chính phủ đối với công tác thực tiễn của lực lượng CSGT. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống các biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 118/2021/NĐ-CP) còn bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý.

Các biểu mẫu được ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP như biên bản VPHC, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép chứng chỉ hành nghề, quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa... trong đó, một số biểu mẫu có khoảng cách, tỷ lệ không hợp lý, nhiều đề mục, nhiều chú thích, cán bộ lập biên bản viết không đủ chỗ. Một hồ sơ xử phạt VPHC đi kèm nhiều biểu mẫu, người dân phải ký nhiều văn bản, phần nào ảnh hưởng đến công tác thiết lập hồ sơ xử lý VPHC của cán bộ, mặt khác còn gây khó chịu, phiền hà cho cá nhân, tổ chức vi phạm; các loại biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện... chia thành nhiều loại biểu mẫu theo từng đối tượng, dễ gây nhầm lẫn, quản lý quá nhiều loại biểu mẫu.

Thứ hai, quy định về niêm phong phương tiện VPHC trong lĩnh vực TTATGT còn rườm rà, thiếu thực tế, thiếu những quy định cụ thể.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng CSGT lập biên bản và ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC theo quy định phải tiến hành niêm phong tang vật, phương tiện đó nhưng trên thực tế, việc thiết lập biên bản niêm phong và biên bản mở niêm phong khi trả phương tiện, tang vật VPHC mà người lập, người mở niêm phong lại là một người thì đây là bất cập mà đến nay vẫn chưa có quy định hướng dẫn nào về việc này; trong điều tra giải quyết tai nạn giao thông các phương tiện hư hỏng thì việc niêm phong phương tiện không có ý nghĩa mà thêm thủ tục rườm rà; chưa có quy định về mẫu giấy niêm phong. Đối với các phương tiện là xe cơ giới trước khi niêm phong phải rút hết toàn bộ nhiên liệu trong bình để bảo đảm công tác phòng, chống cháy nổ thì số nhiên liệu sẽ xử lý như thế nào? Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này. Việc niêm phong không quy định cụ thể niêm phong như thế nào, vị trí niêm phong cụ thể trên từng loại phương tiện bao gồm cả phương tiện thủy nội địa.

Thứ ba, quy định về thời gian chuyển biên bản VPHC về TTATGT trong trường hợp không thuộc thẩm quyền xử lý còn thiếu tính khả thi.

Khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp VPHC không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản VPHC được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa”.

Thực tế, đối với vụ việc khai thác cát trái phép đơn vị giải quyết, sau khi đã xác minh làm rõ, đủ căn cứ để lập biên bản thì đơn vị phải trình lãnh đạo Phòng CSGT phụ trách phê duyệt, sau đó, chuyển hồ sơ qua Giám đốc Công an tỉnh, thành phố thẩm định rồi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ký quyết định xử phạt VPHC. Việc quy định 24 giờ phải chuyển biên bản VPHC đến người có thẩm quyền xử phạt là không khả thi, vì điều kiện sông nước đi lại khó khăn, xa trụ sở làm việc, việc xác minh làm rõ các đối tượng vi phạm mất nhiều thời gian dẫn đến quá thời hạn không ra quyết định xử phạt VPHC, tang vật, phương tiện VPHC để lâu không được tịch thu, xử lý dẫn đến hư hỏng, suy giảm chất lượng.

Thứ tư, việc quy định thời hạn thông báo 01 năm là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC về TTATGT.

Tại điểm b khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện... Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện VPHC”.

Thời hạn thông báo 01 năm là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC, khiến cho tang vật, phương tiện bị tạm giữ lâu ngày không được xử lý bị hư hỏng, suy giảm về chất lượng, đặc tính; ngoài ra, còn làm tăng số lượng tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ (do phải chờ xử lý) gây tồn đọng trong khi điều kiện bến, cảng tạm giữ còn hạn chế và phát sinh chi phí trong coi, bảo quản tang vật.

Thứ năm, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với một số hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định số 139/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa (Nghị định số 139/2021/NĐ-CP) còn thiếu tính khả thi.

Đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 38 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về chở quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện” sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc đưa lên khỏi phương tiện số hàng hóa vượt quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện”.

Đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 35 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về xếp, dỡ hàng hóa” cũng bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc xếp hàng hóa theo đúng quy định; buộc đưa xe mô tô, xe gắn máy, xe ô tô vượt quá số lượng lên khỏi phương tiện”. Nếu hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 35 xảy ra trên phương tiện vận chuyển hành khách ngang sông mà phương tiện đó đã di chuyển được một quãng đường thì áp dụng biện pháp đó như thế nào? Tiếp tục cho phương tiện đó đi hết quãng đường hay yêu cầu quay về bến để đưa các xe gắn máy, xe mô tô, xe ô tô chở quá số lượng quy định lên bến? Với tình hình thực tế hiện nay, đơn vị chưa có bến, bãi hạ tải hàng hóa, mặt khác, thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả thuộc Trưởng phòng và Giám đốc Công an tỉnh, thành phố; do đó, để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả ngay sau khi phát hiện hành vi vi phạm bảo đảm kịp thời và đúng thẩm quyền là không bảo đảm tính khả thi.

2. Giải pháp

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả, hoàn thiện pháp luật về xử lý VPHC, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATGT, dưới góc độ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực hiện công tác xử phạt VPHC về TTATGT như sau:

Thứ nhất, khảo sát, đánh giá lại hệ thống các biểu mẫu được sử dụng trong công tác xử phạt VPHC về TTATGT, lấy ý kiến lực lượng CSGT - Công an các đơn vị địa phương trực tiếp thực hiện việc lập biên bản VPHC, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép chứng chỉ hành nghề, ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, ra quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa để điều chỉnh khoảng cách, tỷ lệ cho hợp lý, cắt giảm các đề mục và một số chú thích không cần thiết. Rà soát lại các loại biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện... hạn chế việc chia thành nhiều loại biểu mẫu theo từng đối tượng, dễ gây nhầm lẫn và khó khăn cho công tác quản lý.

Thứ hai, ban hành quy định về niêm phong phương tiện VPHC trong lĩnh vực TTATGT theo hướng cụ thể, bám sát thực tiễn. Bổ sung nguyên tắc việc lập niêm phong và mở niêm phong tang vật, phương tiện VPHC phải được thực hiện bằng hai người có thẩm quyền khác nhau; nghiên cứu và ban hành mẫu giấy niêm phong; có hướng dẫn cụ thể về việc niêm phong phương tiện hư hỏng trong vụ tai nạn giao thông, quy định cụ thể niêm phong như thế nào, vị trí niêm phong cụ thể trên từng loại phương tiện bao gồm cả phương tiện thủy nội địa và có quy định xử lý đối với nhiên liệu được rút ra từ bình chứa của các phương tiện bị niêm phong.

Thứ ba, đề xuất quy định lại thời gian chuyển biên bản VPHC (tại khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) trong trường hợp không thuộc thẩm quyền xử lý từ 24 giờ lên 72 giờ để cơ quan thực thi pháp luật đủ thời gian hoàn thiện hồ sơ và chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt.

Thứ tư, do thời hạn thông báo đối với các trường hợp VPHC (01 năm) là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC, khiến cho tang vật, phương tiện bị tạm giữ lâu ngày không được xử lý bị hư hỏng, suy giảm về chất lượng, đặc tính; ngoài ra, còn làm tăng số lượng tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ (do phải chờ xử lý) gây tồn đọng trong khi điều kiện bến, cảng tạm giữ còn hạn chế và phát sinh chi phí trông coi, bảo quản tang vật. Do vậy, tại điểm b khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cần giảm thời gian thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với các tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ trong trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp từ 01 năm xuống còn 03 tháng là phù hợp.

Thứ năm, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về việc khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 38 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về chở quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện” và hành vi vi phạm được quy định tại Điều 35 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về xếp, dỡ hàng hóa” vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, vừa phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, không gây phiền hà, khó khăn cho người dân./.

Thiếu tá, ThS. Chu Công Thế

Khoa Cảnh sát giao thông, Học viện Cảnh sát nhân dân

[1].Bộ Chính trị (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII - tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: