Thứ tư 29/07/2026 02:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông - Khó khăn, vướng mắc và kiến nghị

Bài viết phản ánh một số khó khăn, vướng mắc trong thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); các nghị định của Chính phủ quy định về công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông; đề xuất một số giải pháp khắc phục, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật nói chung, công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông nói riêng.

1. Nhận diện khó khăn, vướng mắc trong thực hiện công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; đồng thời, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là việc thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”; xây dựng hệ thống pháp luật, thể chế pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn; bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn; kiềm chế gia tăng tai nạn giao thông nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tạo chuyển biến rõ nét về trật tự, an toàn xã hội; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại; hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển hạ tầng[1].

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trong việc hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý cho công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông (TTATGT) của lực lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và trải qua 11 năm Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) đi vào cuộc sống, cùng với sự ra đời của một số nghị định của Chính phủ quy định về công tác xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực giao thông cho thấy, những chuyển biến tích cực trong công tác bảo đảm TTATGT nói chung và trong công tác xử phạt VPHC của lực lượng CSGT nói riêng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác bảo đảm TTATGT của lực lượng CSGT vẫn còn bộc lộ nhiều vấn đề khó khăn, bất cập mà điển hình là trong công tác xử phạt VPHC về TTATGT với những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các nghị định của Chính phủ đối với công tác thực tiễn của lực lượng CSGT. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống các biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 118/2021/NĐ-CP) còn bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý.

Các biểu mẫu được ban hành kèm theo Nghị định số 118/2021/NĐ-CP như biên bản VPHC, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép chứng chỉ hành nghề, quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa... trong đó, một số biểu mẫu có khoảng cách, tỷ lệ không hợp lý, nhiều đề mục, nhiều chú thích, cán bộ lập biên bản viết không đủ chỗ. Một hồ sơ xử phạt VPHC đi kèm nhiều biểu mẫu, người dân phải ký nhiều văn bản, phần nào ảnh hưởng đến công tác thiết lập hồ sơ xử lý VPHC của cán bộ, mặt khác còn gây khó chịu, phiền hà cho cá nhân, tổ chức vi phạm; các loại biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện... chia thành nhiều loại biểu mẫu theo từng đối tượng, dễ gây nhầm lẫn, quản lý quá nhiều loại biểu mẫu.

Thứ hai, quy định về niêm phong phương tiện VPHC trong lĩnh vực TTATGT còn rườm rà, thiếu thực tế, thiếu những quy định cụ thể.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng CSGT lập biên bản và ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC theo quy định phải tiến hành niêm phong tang vật, phương tiện đó nhưng trên thực tế, việc thiết lập biên bản niêm phong và biên bản mở niêm phong khi trả phương tiện, tang vật VPHC mà người lập, người mở niêm phong lại là một người thì đây là bất cập mà đến nay vẫn chưa có quy định hướng dẫn nào về việc này; trong điều tra giải quyết tai nạn giao thông các phương tiện hư hỏng thì việc niêm phong phương tiện không có ý nghĩa mà thêm thủ tục rườm rà; chưa có quy định về mẫu giấy niêm phong. Đối với các phương tiện là xe cơ giới trước khi niêm phong phải rút hết toàn bộ nhiên liệu trong bình để bảo đảm công tác phòng, chống cháy nổ thì số nhiên liệu sẽ xử lý như thế nào? Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này. Việc niêm phong không quy định cụ thể niêm phong như thế nào, vị trí niêm phong cụ thể trên từng loại phương tiện bao gồm cả phương tiện thủy nội địa.

Thứ ba, quy định về thời gian chuyển biên bản VPHC về TTATGT trong trường hợp không thuộc thẩm quyền xử lý còn thiếu tính khả thi.

Khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp VPHC không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản VPHC được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa”.

Thực tế, đối với vụ việc khai thác cát trái phép đơn vị giải quyết, sau khi đã xác minh làm rõ, đủ căn cứ để lập biên bản thì đơn vị phải trình lãnh đạo Phòng CSGT phụ trách phê duyệt, sau đó, chuyển hồ sơ qua Giám đốc Công an tỉnh, thành phố thẩm định rồi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ký quyết định xử phạt VPHC. Việc quy định 24 giờ phải chuyển biên bản VPHC đến người có thẩm quyền xử phạt là không khả thi, vì điều kiện sông nước đi lại khó khăn, xa trụ sở làm việc, việc xác minh làm rõ các đối tượng vi phạm mất nhiều thời gian dẫn đến quá thời hạn không ra quyết định xử phạt VPHC, tang vật, phương tiện VPHC để lâu không được tịch thu, xử lý dẫn đến hư hỏng, suy giảm chất lượng.

Thứ tư, việc quy định thời hạn thông báo 01 năm là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC về TTATGT.

Tại điểm b khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện... Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện VPHC”.

Thời hạn thông báo 01 năm là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC, khiến cho tang vật, phương tiện bị tạm giữ lâu ngày không được xử lý bị hư hỏng, suy giảm về chất lượng, đặc tính; ngoài ra, còn làm tăng số lượng tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ (do phải chờ xử lý) gây tồn đọng trong khi điều kiện bến, cảng tạm giữ còn hạn chế và phát sinh chi phí trong coi, bảo quản tang vật.

Thứ năm, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với một số hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định số 139/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa (Nghị định số 139/2021/NĐ-CP) còn thiếu tính khả thi.

Đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 38 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về chở quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện” sẽ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc đưa lên khỏi phương tiện số hàng hóa vượt quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện”.

Đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 35 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về xếp, dỡ hàng hóa” cũng bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “Buộc xếp hàng hóa theo đúng quy định; buộc đưa xe mô tô, xe gắn máy, xe ô tô vượt quá số lượng lên khỏi phương tiện”. Nếu hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 35 xảy ra trên phương tiện vận chuyển hành khách ngang sông mà phương tiện đó đã di chuyển được một quãng đường thì áp dụng biện pháp đó như thế nào? Tiếp tục cho phương tiện đó đi hết quãng đường hay yêu cầu quay về bến để đưa các xe gắn máy, xe mô tô, xe ô tô chở quá số lượng quy định lên bến? Với tình hình thực tế hiện nay, đơn vị chưa có bến, bãi hạ tải hàng hóa, mặt khác, thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả thuộc Trưởng phòng và Giám đốc Công an tỉnh, thành phố; do đó, để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả ngay sau khi phát hiện hành vi vi phạm bảo đảm kịp thời và đúng thẩm quyền là không bảo đảm tính khả thi.

2. Giải pháp

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả, hoàn thiện pháp luật về xử lý VPHC, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATGT, dưới góc độ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực hiện công tác xử phạt VPHC về TTATGT như sau:

Thứ nhất, khảo sát, đánh giá lại hệ thống các biểu mẫu được sử dụng trong công tác xử phạt VPHC về TTATGT, lấy ý kiến lực lượng CSGT - Công an các đơn vị địa phương trực tiếp thực hiện việc lập biên bản VPHC, biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép chứng chỉ hành nghề, ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, ra quyết định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa để điều chỉnh khoảng cách, tỷ lệ cho hợp lý, cắt giảm các đề mục và một số chú thích không cần thiết. Rà soát lại các loại biên bản tạm giữ, biên bản trả lại tang vật, phương tiện... hạn chế việc chia thành nhiều loại biểu mẫu theo từng đối tượng, dễ gây nhầm lẫn và khó khăn cho công tác quản lý.

Thứ hai, ban hành quy định về niêm phong phương tiện VPHC trong lĩnh vực TTATGT theo hướng cụ thể, bám sát thực tiễn. Bổ sung nguyên tắc việc lập niêm phong và mở niêm phong tang vật, phương tiện VPHC phải được thực hiện bằng hai người có thẩm quyền khác nhau; nghiên cứu và ban hành mẫu giấy niêm phong; có hướng dẫn cụ thể về việc niêm phong phương tiện hư hỏng trong vụ tai nạn giao thông, quy định cụ thể niêm phong như thế nào, vị trí niêm phong cụ thể trên từng loại phương tiện bao gồm cả phương tiện thủy nội địa và có quy định xử lý đối với nhiên liệu được rút ra từ bình chứa của các phương tiện bị niêm phong.

Thứ ba, đề xuất quy định lại thời gian chuyển biên bản VPHC (tại khoản 5 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) trong trường hợp không thuộc thẩm quyền xử lý từ 24 giờ lên 72 giờ để cơ quan thực thi pháp luật đủ thời gian hoàn thiện hồ sơ và chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt.

Thứ tư, do thời hạn thông báo đối với các trường hợp VPHC (01 năm) là quá dài để xử lý một vụ việc VPHC, khiến cho tang vật, phương tiện bị tạm giữ lâu ngày không được xử lý bị hư hỏng, suy giảm về chất lượng, đặc tính; ngoài ra, còn làm tăng số lượng tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ (do phải chờ xử lý) gây tồn đọng trong khi điều kiện bến, cảng tạm giữ còn hạn chế và phát sinh chi phí trông coi, bảo quản tang vật. Do vậy, tại điểm b khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cần giảm thời gian thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với các tang vật, phương tiện VPHC bị tạm giữ trong trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp từ 01 năm xuống còn 03 tháng là phù hợp.

Thứ năm, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về việc khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm được quy định tại Điều 38 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về chở quá vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện” và hành vi vi phạm được quy định tại Điều 35 Nghị định số 139/2021/NĐ-CP: “Vi phạm quy định về xếp, dỡ hàng hóa” vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, vừa phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, không gây phiền hà, khó khăn cho người dân./.

Thiếu tá, ThS. Chu Công Thế

Khoa Cảnh sát giao thông, Học viện Cảnh sát nhân dân

[1].Bộ Chính trị (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII - tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: