Thứ bảy 24/10/2026 00:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đặc điểm của tội xâm phạm sở hữu ở thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây

Có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng trong những năm gần đây, TP. Hồ Chí Minh cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức khác, trong đó có diễn biến phức tạp về tình hình tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng. Việc gia tăng về số vụ và số đối tượng phạm tội loại này không chỉ ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, mà còn trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân, đe dọa đến hoạt động bình thường của đời sống xã hội.

Theo số liệu thống kê, từ năm 2010 đến năm 2014, trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh xảy ra 30.344 vụ án xâm phạm sở hữu (mỗi năm xảy ra khoảng 6.000 vụ). Số vụ án qua các năm chủ yếu là tăng lên, chỉ cá biệt trong năm 2014 là giảm 551 vụ so với năm 2013. Chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số vụ án nói trên là “trộm cắp tài sản” (18.891 vụ, chiếm 62,26%), tiếp đó là “cướp giật tài sản (7.901 vụ, chiếm 26,04%); cướp tài sản (1.883 vụ, chiếm 6,04%); lừa đảo chiếm đoạt tài sản (1.004 vụ, chiếm 3,31%), lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (chiếm 4,12%)... Thực tế này phần nào đã phản ánh tính chất manh động, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của người phạm tội và cả những yếu tố thuộc về người bị hại như sự nhẹ dạ cả tin, sự lơi lỏng, sơ hở trong quá trình quản lý, chiếm giữ và sử dụng tài sản đã tạo điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản. Qua nghiên cứu thực tiễn công tác phòng ngừa và điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu, tỷ lệ điều tra, khám phá làm rõ các vụ án này của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội là 16.291 vụ (chiếm tỷ lệ 53,69%) với 22.454 bị can. Với tỷ lệ khám phá thấp như trên, vô hình chung đã làm cho tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở TP. Hồ Chí Minh thêm phần phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xấu, đồng thời, làm giảm uy tín và lòng tin của nhân dân vào hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Tội phạm xâm phạm sở hữu chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các vụ phạm tội hình sự và có đặc điểm nổi bật sau đây:

Một là, đa số đối tượng gây án có trình độ học vấn thấp

Trong số 22.454 bị can trong các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến năm 2014, có 21.387 bị can là nam giới (chiếm 95,25%). Việc nam giới vẫn chiếm số lượng lớn như trên cũng là điều dễ hiểu vì họ thường có khí chất nóng nảy, manh động và bộc trực hơn so với nữ giới. Bị can là nữ có 1.067 người, chủ yếu là do tham gia phạm tội trong các băng nhóm có đối tượng chỉ huy, cầm đầu. Về trình độ văn hóa, số bị can mù chữ chiếm tới 47,02% (10.558 bị can); trình độ tiểu học có 7.187 bị can (chiếm 32,01%), trung học cơ sở có 4.709 bị can (chiếm 20,97%). Phần lớn các đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu có trình độ văn hóa rất thấp, trình độ nhận thức xã hội và ý thức pháp luật hạn chế, có lối sống ích kỷ, coi thường chuẩn mực đạo đức xã hội, xem thường mạng sống con người, thường giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, chỉ cần đạt được mục đích. Đặc biệt, một số đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật nhưng lại không biết mình đã phạm tội, một số thì được gia đình và đồng bọn che giấu, giúp đỡ nhằm trốn tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng, thiếu sự hợp tác giúp đỡ trong quá trình điều tra giải quyết các vụ việc của cơ quan có thẩm quyền. Các bị can có trình độ văn hóa thấp, chủ yếu làm nông nghiệp (14.600 bị can, chiếm 65,02%); số đối tượng còn lại nghề nghiệp cũng không ổn định (3.359 bị can, chiếm 14,96%), thường là những đối tượng lêu lổng, lang thang, việc tụ tập thành băng ổ nhóm đang có xu hướng gia tăng.

Trong số bị can của các vụ án xâm phạm sở hữu thì số phạm tội lần đầu lại chiếm tỷ lệ khá lớn là 17.730 bị can (chiếm 78,96%), chỉ có 4.724 bị can (chiếm 21,04%) là có tiền án, tiền sự. Thực tế, khi thực hiện hành vi phạm tội, những bị can phạm tội lần đầu này đều chưa nhận thức được mức độ lỗi, hậu quả pháp lý và hình phạt đối với tội phạm do mình gây ra. Số có tiền án, tiền sự phần lớn là những đối tượng di cư từ nơi khác đến, đã phạm tội lần đầu ở địa phương khác, sau đó di cư đến địa bàn TP. Hồ Chí Minh làm ăn, sinh sống, do không có việc làm và nguồn thu nhập thiếu ổn định đã tiếp tục có hành vi phạm tội, đặc biệt, số bị can dạng này lại có xu hướng ngày càng gia tăng.

Việc các đối tượng “di dân tự do” rồi thực hiện hành vi phạm tội trên đây cần được lưu ý trong quá trình áp dụng các biện pháp phòng ngừa và điều tra tội phạm xâm phạm sở hữu, vì dạng này chiếm tỷ lệ tới 18,57% (4.170 bị can); số bị can tạm trú là 5.948 bị can (chiếm 26,49%). Chỉ hơn nửa số bị can có hộ khẩu thường trú tại TP. Hồ Chí Minh (12.336 bị can). Một lưu ý nữa là, các đối tượng thực hiện hành vi tội phạm xâm phạm sở hữu thì có độ tuổi rất đa dạng, bất kể lứa tuổi nào khi có động cơ, mục đích và điều kiện thuận lợi là có thể gây án. Tuy nhiên, đối tượng từ 18 đến 30 tuổi vẫn chiếm nhiều nhất: 13.178 bị can (chiếm 58,69%); từ 30 đến 45: 6.516 bị can (chiếm 29,02%); từ 45 tuổi trở lên: 1.864 bị can (chiếm 8,3%)…

Hai là, các đối tượng “ra tay” cả ngày lẫn đêm

Thống kê về thời gian xảy ra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến năm 2014 cho thấy, thời gian gây án của các đối tượng trong các vụ án xâm phạm sở hữu xảy ra quanh năm và ở bất kỳ thời điểm nào trong ngày (cả ngày lẫn đêm). Cụ thể, từ 0 giờ đến 12 giờ xảy ra 1.025 vụ, chiếm tỷ lệ 6,29%; từ 12 giờ đến 16 giờ xảy ra 3.185 vụ, chiếm tỷ lệ 19,55%; từ 16 giờ đến 20 giờ xảy ra 11.183 vụ, chiếm tỷ lệ 68,65%; từ 20 giờ đến 24 giờ xảy ra 898 vụ, chiếm tỷ lệ 5,51%. Như vậy, số vụ án xâm phạm sở hữu xảy ra nhiều nhất vào khoảng thời gian từ 16 giờ đến 24 giờ, đây là thời gian nghỉ ngơi sau ngày làm việc, thường có các hoạt động đi lại giao lưu, ăn uống, nên thường thiếu cảnh giác trong việc bảo quản tài sản. Đây cũng là thời điểm thuận lợi mà thủ phạm thường chọn để trốn thoát sau khi gây án. Tội phạm thường xảy ra ở khu vực dân cư sinh sống (qua hồ sơ các vụ từ năm 2010 đến 2014 thì có 7.869 vụ, tỷ lệ 48,3%); địa điểm gây án ở trung tâm quận, huyện, nơi công cộng, các quán nhậu, quán cà phê, tụ điểm vui chơi giải trí là 2.786 vụ (chiếm tỷ lệ 17,1%), gây án xảy ra ở các tuyến trọng điểm là 1.645 vụ (chiếm tỷ lệ 10,1%). Đáng lưu ý là ở nương rẫy có xảy ra khá nhiều vụ xâm phạm sở hữu, 3.991 vụ (chiếm tỷ lệ 24,5%).

Số vụ không có sự chuẩn bị chiếm tỷ lệ 58,75%, các đối tượng thực hiện bột phát bất ngờ, dùng nhiều thủ đoạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, thường sử dụng những công cụ sẵn có ở hiện trường để gây án, không có thời gian lựa chọn phương pháp, thủ đoạn gây án, lợi dụng những sơ hở của nạn nhân, điều kiện tự nhiên sẵn có tại hiện trường để gây án. Số vụ có giai đoạn chuẩn bị gây án chiếm tỷ lệ 41,25%, các đối tượng thường lợi dụng vào điều kiện, hoàn cảnh khách quan, lựa chọn thời điểm thuận lợi như khi nạn nhân sơ hở, mất cảnh giác, vắng người để nhanh chóng tiếp cận chiếm đoạt tài sản, hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát khỏi nơi gây án mà không bị phát hiện, truy đuổi. Tuy nhiên, có nhiều vụ dù không có sự chuẩn bị từ trước, nhưng thủ phạm luôn có sẵn công cụ, phương tiện gây án trong người để có thể thực hiện hành vi phạm tội ngay lập tức. Trong các vụ án xâm phạm sở hữu mà giữa thủ phạm và nạn nhân có mối quan hệ quen biết từ trước thì thường có giai đoạn chuẩn bị phạm tội và ngược lại. Nếu có mối quan hệ quen biết (thân thích, hàng xóm láng giềng hoặc bạn bè, đối tác làm ăn) thì việc thực hiện tội phạm lại diễn ra công khai, có nhiều người chứng kiến. Đối với vụ án mà người phạm tội không quen biết nạn nhân thì thường các đối tượng bất ngờ gây án rồi nhanh chóng rút khỏi hiện trường nhằm tránh sự nhận diện của nạn nhân và những người khác.

Ba là, các đối tượng thường sử dụng hung khí để gây án

Thủ phạm sử dụng các công cụ, phương tiện gây án rất đa dạng tùy thuộc vào từng đối tượng, từng nhóm đối tượng thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu. Số vụ mà các đối tượng dùng sức mạnh chân, tay để phạm tội chỉ chiếm 12,37%, còn lại là sử dụng các loại vũ khí, hung khí, trong đó số vụ án mà các đối tượng sử dụng dao, kiếm, mã tấu, búa, cuốc, xẻng, chai lọ thủy tinh để phạm tội là 11.571 vụ (chiếm tỷ lệ 71,03%); số vụ án mà các đối tượng sử dụng vũ khí quân dụng để phạm tội là 456 (chiếm tỷ lệ 2,8%); số vụ án mà các đối tượng sử dụng các loại công cụ, phương tiện khác để phạm tội là 2.248 vụ (chiếm tỷ lệ 13,8%)… Việc sử dụng các loại vũ khí “nóng” (súng, dao, kiếm, mã tấu…) để phạm tội ngày càng phổ biến. Điều này phần nào phản ánh tính chất manh động, liều lĩnh, táo bạo và tính tổ chức cao trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội của các đối tượng.

Phân tích những đặc điểm của các tội phạm xâm phạm sở hữu trên đây không chỉ có ý nghĩa trong việc định hướng, đề ra đường lối phòng ngừa tội phạm có hiệu quả, mà còn có ý nghĩa và là nền tảng cho việc định tội danh và quyết định hình phạt một cách công bằng, chính xác, khách quan, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần tiến tới thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện cho sự tồn tại và gia tăng tội phạm xâm phạm sở hữu trong thời gian tới tại một địa bàn trọng điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội như TP. Hồ Chí Minh.

Ths. Nguyễn Văn Thanh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: