Thứ năm 25/06/2026 11:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đặc điểm của tội xâm phạm sở hữu ở thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây

Có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng trong những năm gần đây, TP. Hồ Chí Minh cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức khác, trong đó có diễn biến phức tạp về tình hình tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng. Việc gia tăng về số vụ và số đối tượng phạm tội loại này không chỉ ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, mà còn trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân, đe dọa đến hoạt động bình thường của đời sống xã hội.

Theo số liệu thống kê, từ năm 2010 đến năm 2014, trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh xảy ra 30.344 vụ án xâm phạm sở hữu (mỗi năm xảy ra khoảng 6.000 vụ). Số vụ án qua các năm chủ yếu là tăng lên, chỉ cá biệt trong năm 2014 là giảm 551 vụ so với năm 2013. Chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số vụ án nói trên là “trộm cắp tài sản” (18.891 vụ, chiếm 62,26%), tiếp đó là “cướp giật tài sản (7.901 vụ, chiếm 26,04%); cướp tài sản (1.883 vụ, chiếm 6,04%); lừa đảo chiếm đoạt tài sản (1.004 vụ, chiếm 3,31%), lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (chiếm 4,12%)... Thực tế này phần nào đã phản ánh tính chất manh động, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của người phạm tội và cả những yếu tố thuộc về người bị hại như sự nhẹ dạ cả tin, sự lơi lỏng, sơ hở trong quá trình quản lý, chiếm giữ và sử dụng tài sản đã tạo điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản. Qua nghiên cứu thực tiễn công tác phòng ngừa và điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu, tỷ lệ điều tra, khám phá làm rõ các vụ án này của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội là 16.291 vụ (chiếm tỷ lệ 53,69%) với 22.454 bị can. Với tỷ lệ khám phá thấp như trên, vô hình chung đã làm cho tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở TP. Hồ Chí Minh thêm phần phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xấu, đồng thời, làm giảm uy tín và lòng tin của nhân dân vào hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Tội phạm xâm phạm sở hữu chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các vụ phạm tội hình sự và có đặc điểm nổi bật sau đây:

Một là, đa số đối tượng gây án có trình độ học vấn thấp

Trong số 22.454 bị can trong các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến năm 2014, có 21.387 bị can là nam giới (chiếm 95,25%). Việc nam giới vẫn chiếm số lượng lớn như trên cũng là điều dễ hiểu vì họ thường có khí chất nóng nảy, manh động và bộc trực hơn so với nữ giới. Bị can là nữ có 1.067 người, chủ yếu là do tham gia phạm tội trong các băng nhóm có đối tượng chỉ huy, cầm đầu. Về trình độ văn hóa, số bị can mù chữ chiếm tới 47,02% (10.558 bị can); trình độ tiểu học có 7.187 bị can (chiếm 32,01%), trung học cơ sở có 4.709 bị can (chiếm 20,97%). Phần lớn các đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu có trình độ văn hóa rất thấp, trình độ nhận thức xã hội và ý thức pháp luật hạn chế, có lối sống ích kỷ, coi thường chuẩn mực đạo đức xã hội, xem thường mạng sống con người, thường giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, chỉ cần đạt được mục đích. Đặc biệt, một số đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật nhưng lại không biết mình đã phạm tội, một số thì được gia đình và đồng bọn che giấu, giúp đỡ nhằm trốn tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng, thiếu sự hợp tác giúp đỡ trong quá trình điều tra giải quyết các vụ việc của cơ quan có thẩm quyền. Các bị can có trình độ văn hóa thấp, chủ yếu làm nông nghiệp (14.600 bị can, chiếm 65,02%); số đối tượng còn lại nghề nghiệp cũng không ổn định (3.359 bị can, chiếm 14,96%), thường là những đối tượng lêu lổng, lang thang, việc tụ tập thành băng ổ nhóm đang có xu hướng gia tăng.

Trong số bị can của các vụ án xâm phạm sở hữu thì số phạm tội lần đầu lại chiếm tỷ lệ khá lớn là 17.730 bị can (chiếm 78,96%), chỉ có 4.724 bị can (chiếm 21,04%) là có tiền án, tiền sự. Thực tế, khi thực hiện hành vi phạm tội, những bị can phạm tội lần đầu này đều chưa nhận thức được mức độ lỗi, hậu quả pháp lý và hình phạt đối với tội phạm do mình gây ra. Số có tiền án, tiền sự phần lớn là những đối tượng di cư từ nơi khác đến, đã phạm tội lần đầu ở địa phương khác, sau đó di cư đến địa bàn TP. Hồ Chí Minh làm ăn, sinh sống, do không có việc làm và nguồn thu nhập thiếu ổn định đã tiếp tục có hành vi phạm tội, đặc biệt, số bị can dạng này lại có xu hướng ngày càng gia tăng.

Việc các đối tượng “di dân tự do” rồi thực hiện hành vi phạm tội trên đây cần được lưu ý trong quá trình áp dụng các biện pháp phòng ngừa và điều tra tội phạm xâm phạm sở hữu, vì dạng này chiếm tỷ lệ tới 18,57% (4.170 bị can); số bị can tạm trú là 5.948 bị can (chiếm 26,49%). Chỉ hơn nửa số bị can có hộ khẩu thường trú tại TP. Hồ Chí Minh (12.336 bị can). Một lưu ý nữa là, các đối tượng thực hiện hành vi tội phạm xâm phạm sở hữu thì có độ tuổi rất đa dạng, bất kể lứa tuổi nào khi có động cơ, mục đích và điều kiện thuận lợi là có thể gây án. Tuy nhiên, đối tượng từ 18 đến 30 tuổi vẫn chiếm nhiều nhất: 13.178 bị can (chiếm 58,69%); từ 30 đến 45: 6.516 bị can (chiếm 29,02%); từ 45 tuổi trở lên: 1.864 bị can (chiếm 8,3%)…

Hai là, các đối tượng “ra tay” cả ngày lẫn đêm

Thống kê về thời gian xảy ra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh từ năm 2010 đến năm 2014 cho thấy, thời gian gây án của các đối tượng trong các vụ án xâm phạm sở hữu xảy ra quanh năm và ở bất kỳ thời điểm nào trong ngày (cả ngày lẫn đêm). Cụ thể, từ 0 giờ đến 12 giờ xảy ra 1.025 vụ, chiếm tỷ lệ 6,29%; từ 12 giờ đến 16 giờ xảy ra 3.185 vụ, chiếm tỷ lệ 19,55%; từ 16 giờ đến 20 giờ xảy ra 11.183 vụ, chiếm tỷ lệ 68,65%; từ 20 giờ đến 24 giờ xảy ra 898 vụ, chiếm tỷ lệ 5,51%. Như vậy, số vụ án xâm phạm sở hữu xảy ra nhiều nhất vào khoảng thời gian từ 16 giờ đến 24 giờ, đây là thời gian nghỉ ngơi sau ngày làm việc, thường có các hoạt động đi lại giao lưu, ăn uống, nên thường thiếu cảnh giác trong việc bảo quản tài sản. Đây cũng là thời điểm thuận lợi mà thủ phạm thường chọn để trốn thoát sau khi gây án. Tội phạm thường xảy ra ở khu vực dân cư sinh sống (qua hồ sơ các vụ từ năm 2010 đến 2014 thì có 7.869 vụ, tỷ lệ 48,3%); địa điểm gây án ở trung tâm quận, huyện, nơi công cộng, các quán nhậu, quán cà phê, tụ điểm vui chơi giải trí là 2.786 vụ (chiếm tỷ lệ 17,1%), gây án xảy ra ở các tuyến trọng điểm là 1.645 vụ (chiếm tỷ lệ 10,1%). Đáng lưu ý là ở nương rẫy có xảy ra khá nhiều vụ xâm phạm sở hữu, 3.991 vụ (chiếm tỷ lệ 24,5%).

Số vụ không có sự chuẩn bị chiếm tỷ lệ 58,75%, các đối tượng thực hiện bột phát bất ngờ, dùng nhiều thủ đoạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, thường sử dụng những công cụ sẵn có ở hiện trường để gây án, không có thời gian lựa chọn phương pháp, thủ đoạn gây án, lợi dụng những sơ hở của nạn nhân, điều kiện tự nhiên sẵn có tại hiện trường để gây án. Số vụ có giai đoạn chuẩn bị gây án chiếm tỷ lệ 41,25%, các đối tượng thường lợi dụng vào điều kiện, hoàn cảnh khách quan, lựa chọn thời điểm thuận lợi như khi nạn nhân sơ hở, mất cảnh giác, vắng người để nhanh chóng tiếp cận chiếm đoạt tài sản, hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát khỏi nơi gây án mà không bị phát hiện, truy đuổi. Tuy nhiên, có nhiều vụ dù không có sự chuẩn bị từ trước, nhưng thủ phạm luôn có sẵn công cụ, phương tiện gây án trong người để có thể thực hiện hành vi phạm tội ngay lập tức. Trong các vụ án xâm phạm sở hữu mà giữa thủ phạm và nạn nhân có mối quan hệ quen biết từ trước thì thường có giai đoạn chuẩn bị phạm tội và ngược lại. Nếu có mối quan hệ quen biết (thân thích, hàng xóm láng giềng hoặc bạn bè, đối tác làm ăn) thì việc thực hiện tội phạm lại diễn ra công khai, có nhiều người chứng kiến. Đối với vụ án mà người phạm tội không quen biết nạn nhân thì thường các đối tượng bất ngờ gây án rồi nhanh chóng rút khỏi hiện trường nhằm tránh sự nhận diện của nạn nhân và những người khác.

Ba là, các đối tượng thường sử dụng hung khí để gây án

Thủ phạm sử dụng các công cụ, phương tiện gây án rất đa dạng tùy thuộc vào từng đối tượng, từng nhóm đối tượng thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu. Số vụ mà các đối tượng dùng sức mạnh chân, tay để phạm tội chỉ chiếm 12,37%, còn lại là sử dụng các loại vũ khí, hung khí, trong đó số vụ án mà các đối tượng sử dụng dao, kiếm, mã tấu, búa, cuốc, xẻng, chai lọ thủy tinh để phạm tội là 11.571 vụ (chiếm tỷ lệ 71,03%); số vụ án mà các đối tượng sử dụng vũ khí quân dụng để phạm tội là 456 (chiếm tỷ lệ 2,8%); số vụ án mà các đối tượng sử dụng các loại công cụ, phương tiện khác để phạm tội là 2.248 vụ (chiếm tỷ lệ 13,8%)… Việc sử dụng các loại vũ khí “nóng” (súng, dao, kiếm, mã tấu…) để phạm tội ngày càng phổ biến. Điều này phần nào phản ánh tính chất manh động, liều lĩnh, táo bạo và tính tổ chức cao trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội của các đối tượng.

Phân tích những đặc điểm của các tội phạm xâm phạm sở hữu trên đây không chỉ có ý nghĩa trong việc định hướng, đề ra đường lối phòng ngừa tội phạm có hiệu quả, mà còn có ý nghĩa và là nền tảng cho việc định tội danh và quyết định hình phạt một cách công bằng, chính xác, khách quan, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần tiến tới thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện cho sự tồn tại và gia tăng tội phạm xâm phạm sở hữu trong thời gian tới tại một địa bàn trọng điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội như TP. Hồ Chí Minh.

Ths. Nguyễn Văn Thanh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: