Thứ hai 21/09/2026 05:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Địa điểm giao dịch của văn phòng công chứng: Nên hay không nên?

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, khẳng định chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng là hết sức đúng đắn, đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự và kinh tế, tạo lập môi trường pháp lý tin cậy cho các hoạt động đầu tư kinh doanh, thương mại, thu hút nguồn lực tham gia hoạt động hành nghề công chứng

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, khẳng định chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng là hết sức đúng đắn, đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự và kinh tế, tạo lập môi trường pháp lý tin cậy cho các hoạt động đầu tư kinh doanh, thương mại, thu hút nguồn lực tham gia hoạt động hành nghề công chứng; nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ công chứng viên, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp.

Thực hiện Luật Công chứng năm 2006 và Luật Công chứng năm 2014, hoạt động công chứng tại Việt Nam đã đạt được những thành tích nhất định, phát triển được một đội ngũ công chứng viên đông đảo về số lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp và hình thành được một mạng lưới các tổ chức hành nghề công chứng rộng khắp tại các tỉnh, thành phố trên cả nước, phân bố hợp lý gắn với địa bàn dân cư, đáp ứng đầy đủ nhu cầu công chứng các hợp đồng, giao dịch của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.

Tuy nhiên, hiện nay hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng đang tạo ra những khó khăn nhất định cho việc triển khai thực hiện mục tiêu xã hội hóa hoạt động công chứng. Cụ thể, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, thì các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và giao dịch về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, công dân được lựa chọn công chứng hoặc chứng thực[1]. Để làm rõ hơn nội dung quy định của pháp luật về thẩm quyền công chứng và chứng thực hợp đồng, giao dịch, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định: Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Phòng Tư pháp) có thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản và chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản mà di sản là động sản; Ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) có thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản, chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai, chứng thực hợp đồng, giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở, chứng thực di chúc; chứng thực văn bản từ chối nhận di sản và chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản mà di sản là động sản, đất đai, nhà ở[2]. Như vậy, ngoài thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch về động sản, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP tiếp tục khẳng định thẩm quyền của UBND cấp xã trong việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch liên quan đến thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở và các giao dịch về thừa kế.

Đồng thời, hiện nay theo quy định của Luật Công chứng năm 2014, thì điều kiện để được bổ nhiệm công chứng viên là phải tham gia khóa đào tạo nghề công chứng, sau đó phải tiến hành đăng ký tập sự hành nghề công chứng, đăng ký tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng và người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng mới được làm thủ tục đề nghị Bộ Tư pháp bổ nhiệm công chứng viên[3]. Như vậy, có thể thấy các điều kiện để được bổ nhiệm làm công chứng viên theo quy định của Luật Công chứng 2014 là rất khắt khe nhưng hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến công chứng lại chưa đảm bảo cho hoạt động công chứng phát triển một cách mạnh mẽ và toàn diện. Vì vậy, chưa huy động được nguồn công chứng viên tham gia thành lập các tổ chức hành nghề công chứng, thực hiện mục tiêu xã hội hóa hoạt động công chứng. Bên cạnh đó, việc Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đều quy định rất rõ và tiếp tục khẳng định quyền của công dân trong việc được lựa chọn công chứng hoặc chứng thực khi thực hiện các hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất cũng dẫn đến việc phát triển mạng lưới các tổ chức hành nghề công chứng theo quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ[4] là vô cùng khó khăn, đứng trước nguy cơ không thể thực hiện được, nhất là đối với các tỉnh lẻ. Vì khi pháp luật cho phép công dân được lựa chọn công chứng hoặc chứng thực đối với các hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất thì người dân sẽ thiên về lựa chọn chứng thực nhiều hơn, bởi vì lệ phí chứng thực rẻ hơn phí công chứng; mức chi phí chứng thực mà công dân phải trả thêm khi thực hiện chứng thực thấp hơn thù lao dịch vụ công chứng; tâm lý người dân yên tâm, tin tưởng vào việc chứng nhận của cơ quan công quyền hơn và do đặc thù của các tỉnh lẻ, tỉnh nghèo là số lượng các hợp đồng, giao dịch chưa nhiều, ít phức tạp, các địa bàn, khu vực mà các tỉnh sẽ phát triển mạng lưới các tổ chức hành nghề công chứng giai đoạn 2016-2020 phần lớn là những huyện miền núi, vùng sâu, đi lại khó khăn. Do vậy, sẽ chẳng mấy ai mặn mà với việc tham gia thành lập tổ chức hành nghề công chứng ở những huyện nghèo, số lượng hợp đồng ít mà công dân thì được lựa chọn công chứng hoặc chứng thực đối với các hợp đồng, giao dịch để thực hiện mục tiêu xã hội hóa hoạt động công chứng.

Ngoài ra, theo quy định của Luật Công chứng 2014 thì: Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh. Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên. Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn. Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng. Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên[5]. Trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày Luật Công chứng năm 2014 có hiệu lực thi hành, văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập theo quy định của Luật Công chứng số 82/2006/QH11 phải chuyển đổi thành văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh[6]. Như vậy, kể từ ngày 01/01/2017, tất cả các văn phòng công chứng trên phạm vi cả nước đều phải được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. Tuy nhiên, dù được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh nhưng văn phòng công chứng lại không phải là 01 doanh nghiệp mặc dù hiện nay Luật Đầu tư năm 2014 quy định hành nghề công chứng là ngành nghề kinh doanh có điều kiện[7] và theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì công ty hợp danh là một doanh nghiệp[8]. Sở dĩ văn phòng công chứng không được xem là một doanh nghiệp là vì trình tự, thủ tục thành lập văn phòng công chứng khác với trình tự, thủ tục thành lập một doanh nghiệp, văn phòng công chứng được thành lập theo một quy trình đặc biệt, đó là văn phòng công chứng phải do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập, văn phòng công chứng không thực hiện hoạt động đăng ký kinh doanh mà chỉ thực hiện việc đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực công chứng là Sở Tư pháp[9], người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp do doanh nghiệp tự quyết định, trong khi đó đối với văn phòng công chứng thì người đại diện theo pháp luật phải là trưởng văn phòng công chứng và theo quy định của Luật Công chứng năm 2014, thì Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên. Ngoài ra, vì không phải là doanh nghiệp nên trong quá trình tổ chức và hoạt động văn phòng công chứng không có các thủ tục giải thể, phá sản như đối với 01 doanh nghiệp.

Vấn đề ở đây chính là việc xác định văn phòng công chứng không phải là một doanh nghiệp đang tạo ra những bất lợi cho các văn phòng công chứng so với các doanh nghiệp và điều này dẫn đến hệ quả là không thúc đẩy việc phát triển nguồn công chứng viên và các tổ chức hành nghề công chứng để thực hiện mục tiêu xã hội hóa hoạt động công chứng. Cụ thể, Luật Công chứng năm 2014 quy định văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh, nhưng văn phòng công chứng lại không phải là công ty hợp danh (doanh nghiệp), nên không có thành viên góp vốn. Trong khi đó, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì ngoài các thành viên hợp danh, công ty hợp danh có thể có thêm thành viên góp vốn[10]. Như vậy, việc hạn chế không cho phép văn phòng công chứng có thành viên góp vốn đã dẫn đến hạn chế nguồn tài chính của văn phòng công chứng, trong khi nguồn tài chính này sẽ mang lại những lợi thế nhất định nào đó cho chính các văn phòng công chứng như việc sử dụng nguồn tài chính để mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho các công chứng viên với mức cao nhất có thể, đều này vừa tránh được tình trạng các văn phòng công chứng không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên theo quy định của Luật Công chứng[11], vừa tránh tình trạng các văn phòng công chứng chỉ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho các công chứng viên của văn phòng công chứng với mức thấp nhất hoặc rất thấp để hoàn thành nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, khi có rủi ro nghề nghiệp xảy ra thì không đủ khả năng để đền bù thiệt hại, ảnh hưởng đến hoạt động của văn phòng công chứng hoặc nguồn tài chính sẽ được các văn phòng công chứng đầu tư vào việc xây dựng trụ sở của văn phòng công chứng, mua sắm các loại máy móc, thiết bị như máy soi, chụp, kiểm tra giấy tờ giả, đầu tư vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc tra cứu các thông tin về hợp đồng, giao dịch... để phục vụ cho hoạt động của văn phòng công chứng được tốt hơn, đảm bảo an toàn cho các công chứng viên khi ký công chứng các hợp đồng, giao dịch về bất động sản... Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP thì “Công chứng viên đang là Trưởng Văn phòng công chứng hoặc đang là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng không được tham gia đấu giá quyền nhận chuyển đổi Phòng công chứng”. Như vậy, dù văn phòng công chứng không phải là doanh nghiệp nhưng thành viên hợp danh của văn phòng công chứng lại chịu sự điều chỉnh như thành viên hợp danh của công ty hợp danh là doanh nghiệp. Đây là sự không công bằng đối với công chứng viên hợp danh của các văn phòng công chứng, vì quy định này hạn chế quyền được nhận chuyển đổi Phòng công chứng của các công chứng viên hợp danh của các văn phòng công chứng để đầu tư, mở rộng phạm vi hoạt động, cung cấp dịch vụ công của các công chứng viên hợp danh của các văn phòng công chứng. Ngoài ra, vì văn phòng công chứng không phải là doanh nghiệp, nên trong quá trình hoạt động, các văn phòng công chứng không được mở các chi nhánh, văn phòng đại diện để mở rộng phạm vi hoạt động mình. Điều này cũng hạn chế hoạt động của các văn phòng công chứng được thành lập ở những địa bàn vùng sâu, đi lại khó khăn có số lượng hợp đồng, giao dịch ít trong việc cạnh tranh với các văn phòng công chứng được thành lập ở những địa bàn trung tâm có lợi thế về số lượng hợp đồng, giao dịch nhiều.

Thiết nghĩ, để huy động được nguồn công chứng viên tham gia thành lập các văn phòng công chứng, thực hiện mục tiêu xã hội hóa hoạt động công chứng, trong giai đoạn hiện nay khi mà thể chế pháp luật để điều chỉnh tổ chức và hoạt động của văn phòng công chứng chưa hoàn thiện thì pháp luật cần xem xét có cơ chế đặc thù nhằm tạo điều kiện cho hoạt động công chứng phát triển. Đó là việc xem xét sửa đổi quy định nghiêm cấm văn phòng công chứng mở cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở của văn phòng công chứng[12]. Vì việc cho phép các văn phòng công chứng được mở các cơ sở hay địa điểm giao dịch mang lại rất nhiều các lợi ích cho các văn phòng công chứng và xã hội như:

Thứ nhất, đảm bảo cho các văn phòng công chứng (kể cả các văn phòng công chứng được thành lập ở các huyện vùng sâu, vùng đi lại khó khăn) được cạnh tranh với nhau trong quá trình hoạt động hành nghề công chứng, hạn chế tình trạng văn phòng công chứng ở địa bàn trung tâm có lợi thế quá lớn so với các văn phòng công chứng được thành lập ở các huyện vùng ven, vùng sâu, vùng đi lại khó khăn, điều này không thúc đẩy được việc phát triển các văn phòng công chứng ở các huyện nghèo, vùng sâu, vùng đi lại khó khăn.

Thứ hai, vì có sự cạnh tranh giữa các tổ chức hành nghề công chứng, nên sẽ thu hút được nguồn công chứng viên tham gia thành lập các văn phòng công chứng ở những địa bàn vùng sâu, vùng đi lại khó khăn.

Thứ ba, khi có sự cạnh tranh giữa các văn phòng công chứng với nhau thì bắt buộc các văn phòng công chứng phải nâng cao chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ. Như vậy, sẽ đảm bảo chất lượng dịch vụ và phục vụ của các văn phòng công chứng được tốt hơn.

Thứ tư, đảm bảo phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của người dân, người dân sẽ là người được hưởng lợi nhiều nhất. Vì khi có sự cạnh tranh với nhau thì các văn phòng công chứng đòi hỏi phải có những chính sách phục vụ tốt nhất cho khách hàng, chẳng hạn như thu thù lao công chứng rất thấp hoặc có thể không thu thù lao công chứng... để thu hút khách hàng.

Thứ năm, đảm bảo thực hiện được quy định tại Điều 44 Luật Công chứng năm 2014 là việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, hạn chế tình trạng công chứng ngoài trụ sở của các công chứng viên khi việc công chứng ngoài trụ sở không thuộc trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, đảm bảo cho hoạt động công chứng được phát triển lành mạnh, đúng quy định của pháp luật và mang lại tính an toàn pháp lý cao cho các hợp đồng, giao dịch.

Để hoạt động công chứng phát triển lành mạnh, thực hiện mục tiêu xã hội hóa hoạt động công chứng, pháp luật cần phải có cơ chế điều chỉnh phù hợp, tương thích với tính chất, tổ chức và hoạt động của các văn phòng công chứng, đảm bảo cho các văn phòng công chứng được cạnh tranh với nhau một cách lành mạnh trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Có như vậy hoạt động công chứng tại Việt Nam mới có thể phát triển được và phát triển theo xu hướng hội nhập với khu vực và thế giới.

Cẩm Lai
Phòng Bổ trợ tư pháp, Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi


[1] Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

[2] Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

[3] Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Công chứng năm 2014.

[4] Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020.

[5] Khoản 1 và khoản 2 Điều 22 Luật Công chứng năm 2014.

[6] Khoản 1 Điều 79 Luật Công chứng năm 2014.

[7] Phụ lục 4 - Danh mục nghành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật Đầu tư năm 2014.

[8] Điều 1 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[9] Điều 23 Luật Công chứng năm 2014.

[10] Khoản 1 Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[11] Khoản 5 Điều 33 Luật Công chứng năm 2014.

[12] Điểm i khoản 1 Điều 7 Luật Công chứng năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: