Thứ sáu 11/09/2026 05:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Cán bộ lãnh đạo quản lý được hiểu là những người được bầu cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, chỉ đạo, có thẩm quyền pháp lý và được sử dụng một cách đầy đủ thẩm quyền ấy trong quá trình quản lý, có nhiệm vụ hoạch định chủ trương công tác và điều khiển quá trình thực hiện nó ở một cấp độ nào đó.

Đối tượng này được quy hoạch, đào tạo căn bản cả về lý luận chính trị và nghiệp vụ chuyên ngành, có khả năng tổng hợp và khái quát cao. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước nói chung, của hệ thống hành chính nói riêng được quyết định bởi phẩm chất năng lực và kết quả công tác của đội ngũ cán bộ công chức lãnh đạo, quản lý nhà nước.

Phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngoài khả năng và tinh thần tự học tập, lại phụ thuộc rất nhiều vào công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên kiến thức và kỹ năng thực hành cho họ. Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường, mở cửa để hội nhập với khu vực và quốc tế, đặc biệt là trong điều kiện khoa học công nghệ và thông tin phát triển như vũ bão, thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ tin học vào hiện đại hoá nền hành chính, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Vấn đề nâng cao chất lượng, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức lãnh đạo quản lý nói chung và cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở (bao gồm xã, phường, thị trấn) nói riêng là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt. Trong đó việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở là một nhiệm vụ và là thách thức lớn đối với những cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bởi vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, cấp cơ sở là cấp gần dân nhất, nơi làm việc trực tiếp với dân, cấp xã giải quyết xong mọi việc là xong xuôi.

Theo khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. Theo đó, cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam…

Cũng tại khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội.

Như vậy, trong phạm vi bài viết này, cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở chỉ bao gồm những người được quy định tại khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

Do đó, chúng ta có thể hiểu cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở là những người trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cương lĩnh, điều lệ của tổ chức trong thực tiễn; trực tiếp giải quyết hàng ngày những vấn đề dân quyền, dân sinh, dân trí và tiếp cận với đông đảo quần chúng nhân dân - lực lượng sản xuất quan trọng của nền kinh tế. Cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở có nhiệm vụ và trọng trách vô cùng to lớn là phải làm tốt công tác tuyên truyền, thuyết phục nhân dân thấy được sự đúng đắn của đường lối, sách lược của Đảng để nhân dân một lòng một dạ theo Đảng; quản lý kinh tế - xã hội của địa phương, vận dụng những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới vào nâng cao năng xuất lao động, hiệu quả làm việc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Đào tạo, bồi dưỡng tăng cường năng lực làm việc cho cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ công chức ở nước ta hiện nay.

Việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, lãnh đạo quản lý cấp cơ sở chính là nhằm thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia, đồng thời tạo ra đội ngũ cán bộ, công chức vừa am hiểu về nền kinh tế thị trường vừa phải biết quyết định các vấn đề trên cơ sở hệ thống quyền lực mà Nhân dân giao cho. Đào tạo và bồi dưỡng theo nguyên tắc chức nghiệp hay chế độ việc làm đều nhằm đi đến kết quả cuối cùng là tạo ra được đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý cấp cơ sở thực sự có năng lực, biết giải quyết các vấn đề được giao có kết quả, hiệu quả và chất lượng tốt. Do đó, việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng.

Thời gian qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, lãnh đạo quản lý cấp cơ sở ở tỉnh Phú Thọ đã có nhiều chuyển biến tích cực, bước đầu đạt được những kết quả khả quan. Chất lượng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo ở các xã nông thôn, miền núi rất được quan tâm, ngày càng phát triển toàn diện trên các mặt. Điều này thể hiện rõ qua các số liệu thống kê ở tỉnh Phú Thọ như sau: Hội đồng nhân dân xã nhiệm kỳ (2011-2016) đã bầu được 7.001 đại biểu Hội đồng nhân dân xã, trong đó số đại biểu nữ 1.671 người, chiếm 23,9%; đại biểu người dân tộc thiểu số 1.182 người, chiếm 16,9%; đại biểu đại diện các tôn giáo 357 người, chiếm 5,1%. Trình độ chuyên môn: Đại học và sau đại học 1.349 người, chiếm 19,3%; trung cấp 2.465 người, chiếm 35,2%. Trình độ lý luận: Cử nhân chính trị và cao cấp lý luận chính trị 60 người, chiếm 0,86%; trung cấp 2.730 người, chiếm 39%. Tính đến tháng 12 năm 2013, tổng số cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Phú Thọ là 5.865 người. Trong đó, cán bộ cấp xã 2.853 người; công chức cấp xã 3.012 người.

Về chất lượng cán bộ cấp xã: Trình độ chuyên môn: Đại học, cao đẳng 904 người (chiếm 31,7%); trung cấp 1.605 người (chiếm 56,3%); sơ cấp 64 người (chiếm 2,2%); chưa qua đào tạo 280 người (chiếm 9,8%); Trình độ chính trị: Cao cấp 24 người (chiếm 0,8%); trung cấp 2.216 người (chiếm 77,7%); sơ cấp 329 người (chiếm 11,5%); chưa qua đào tạo 284 người (chiếm 10,0%).

Về chất lượng công chức cấp xã: Trình độ chuyên môn: Đại học, cao đẳng 1.173 người (chiếm 38,9%); trung cấp 1.759 người (chiếm 58,4%); sơ cấp 45 người (chiếm 1,5%); chưa qua đào tạo 35 người (chiếm 1,2%); Trình độ chính trị: Cao cấp 01 người (chiếm 0,03%); trung cấp 1.451 người (chiếm 48,17%); sơ cấp 505 người (chiếm 16,77%); chưa qua đào tạo 1.055 người (chiếm 35,03%).

Từ khi thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của tỉnh Phú Thọ cơ bản đủ về số lượng, trình độ chuyên môn, lý luận chính trị được nâng lên. Chuyên môn nghiệp vụ cơ bản đã thực hiện được nhiệm vụ, nhiều cán bộ trưởng thành từ thực tiễn đã tích cực khắc phục khó khăn, chủ động tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị. Thông qua hoạt động thực tiễn, nhiều cán bộ, công chức đã tích lũy được kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý không ngừng nâng cao trình độ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, góp phần củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh.

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý cấp cơ sở ở tỉnh Phú Thọ có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động và sáng tạo; hăng hái thực hiện đường lối chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước. Trình độ kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn ngày càng được nâng cao, thích nghi dần với cơ chế mới. Đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý cấp cơ sở đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc đạt được những thành tựu về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng trong thời gian qua. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số cán bộ, công chức cấp cơ sở vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Đó là do một số cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở chưa coi trọng đúng mức công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nên một số chỉ tiêu theo tiêu chuẩn chức danh đạt thấp. Cán bộ, công chức chủ yếu vừa học, vừa làm nên thời gian học tập trung không nhiều. Nhiều cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ người dân tộc, vùng sâu, vùng xa, cán bộ có tuổi, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn ngại đi học. Công tác đào tạo, bồi dưỡng tuy có nhiều cố gắng nhưng còn chạy theo số lượng, chưa cử đúng đối tượng đào tạo, học chưa đúng chuyên ngành cần đào tạo, vì thế chưa đáp ứng được nhu cầu của cơ quan, tổ chức. Việc đào tạo với sử dụng chưa cân đối, chưa quản lý chặt đội ngũ cán bộ dự nguồn sau đào tạo (nhiều trường hợp được cử đi đào tạo đã tốt nghiệp nhưng chưa được bố trí công việc theo quy hoạch). Nội dung và chất lượng đào tạo (nhất là hệ tại chức) chưa cao, giáo trình đào tạo tuy đã được cải tiến song vẫn chưa thật phù hợp với đối tượng cán bộ cơ sở, phương thức đào tạo chưa đa dạng hoá. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức đi học nhằm hợp thức hoá bằng cấp. Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý chưa được thực hiện đồng bộ, mới chỉ đào tạo về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ mà chưa chú ý bồi dưỡng về kỹ năng quản lý điều hành, tổ chức thực hiện, nhất là xử lý những tình huống trong thực tiễn. Thêm vào đó là chế độ chính sách cho cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng tuy đã được điều chỉnh, bổ sung, nâng cao hơn so với trước, song còn thấp và chưa hết khó khăn.

Tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức chưa cao; kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ quản lý nhà nước còn hạn chế. Một bộ phận cán bộ, công chức chậm đổi mới tư duy, thiếu chủ động, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn trình độ đào tạo theo quy định, nhất là đối với cán bộ chuyên trách; phần lớn công chức cấp xã làm việc không theo chuyên môn được đào tạo. Điều hành và xử lý công việc còn lúng túng; nhiều cán bộ, công chức cấp xã chưa thật sự tận tâm, tận tụy phục vụ nhân dân.

Ngoài ra, việc quy hoạch cán bộ cơ sở mới chỉ dừng lại ở các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý mà chưa chú ý đến đội ngũ làm công tác chuyên môn, và cán bộ dự nguồn… Nói chung, cán bộ có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị còn thấp và thiếu đồng đều giữa các địa phương nên việc bố trí cùng lúc nhiều cán bộ đi đào tạo còn khó khăn. Từ đó dẫn đến công tác chỉ đạo, điều hành bộc lộ yếu kém về năng lực, trình độ. Dẫn đến hạn chế tính tự chủ trong công việc, lúng túng khi cụ thể hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; chưa giải quyết được những vấn đề nảy sinh phức tạp ở cơ sở theo thẩm quyền.

Yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ, lãnh đạo cấp cơ sở để đáp ứng sự phát triển nền kinh tế - xã hội thời kỳ mới đặt ra rất cấp thiết. Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở ở tỉnh Phú Thọ nói riêng và cả nước nói chung cho những năm tiếp theo phải thực hiện đồng bộ những giải pháp sau:

Thứ nhất, Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành có liên quan tiếp tục ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý và quan tâm phân bổ nguồn kinh phí cho chương trình mục tiêu quốc gia phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng, góp phần từng bước nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử với các tổ chức và công dân của cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý hành chính, điều hành kinh tế - xã hội và thực thi công vụ để phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

Thứ hai, nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt sâu, rộng nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy Đảng và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ lãnh đạo quản lý cấp xã. Tiếp tục thực hiện công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai đoạn 2010 - 2020, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước cho công tác đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở. Đào tạo, bồi dưỡng phải tính đến việc đáp ứng những yêu cầu, tiêu chuẩn phục vụ hội nhập quốc tế.

Thứ ba, thường xuyên tiến hành rà soát, đánh giá đúng trình độ đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, đánh giá đúng thực chất đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp xã trên cơ sở bám sát yêu cầu chính trị. Từ đó, xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể, phù hợp với từng chức danh, ngạch, bậc; quan tâm đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số… theo từng năm và cả nhiệm kỳ để đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài. Đồng thời chú trọng việc đào tạo chuyên sâu sau đại học để có đội ngũ trí thức giỏi trên từng ngành, lĩnh vực, nhất là những ngành, lĩnh vực thế mạnh ở địa phương. Đẩy mạnh việc thu hút cán bộ có trình độ cao, sinh viên tốt nghiệp đại học có trình độ chuyên môn phù hợp về công tác tại các xã, phường, thị trấn.

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý phải gắn với việc bố trí, sử dụng, tránh tình trạng đào tạo không đúng chuyên ngành, chuyên môn nghiệp vụ. Quản lý chặt chẽ cán bộ cử đi học, chấm dứt việc đề bạt, bổ nhiệm hoặc tuyển dụng trước, đào tạo sau. Phải tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh trong khâu nâng ngạch, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý. Đây chính là động lực thúc đẩy sự phấn đấu nâng cao năng lực của công chức, khắc phục được tình trạng trì trệ của chế độ công vụ theo hệ thống chức nghiệp. Nghiên cứu, từng bước vận dụng hình thức thi theo vị trí, chức danh của chế độ công vụ theo hệ thống “việc làm” trong việc đề bạt, bổ nhiệm các chức danh chuyên môn và quản lý. Trước mắt xây dựng quy trình thi vào một số chức danh thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã như chủ tịch xã…

Thứ năm, xây dựng cơ chế, chính sách để tuyển chọn đội ngũ giảng dạy, báo cáo viên chất lượng cao; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc dạy và học. Tổ chức những lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã cần đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, cân đối giữa lý thuyết và thực hành, tăng cường thực hiện các bài tập tình huống, hướng dẫn nghiệp vụ theo hình thức “cầm tay chỉ việc” để người học có thể vận dụng ngay kiến thức được trang bị vào công việc đang đảm nhận. Quan tâm bố trí kinh phí thỏa đáng đối với công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý cấp xã.

Thứ sáu, tăng cường phối hợp, liên kết với các trung tâm đào tạo, viện, trường để đa dạng hóa loại hình đào tạo, bồi dưỡng. Kết hợp giữa đào tạo chính quy tập trung với đào tạo tại chức, giữa ngắn hạn với dài hạn, giữa trong nước và ngoài nước, giữa đào tạo ở trường lớp với đào tạo qua thực tiễn. Trong đó, chú trọng hình thức đào tạo chính quy tập trung; mở rộng hình thức cử tuyển đối với một số lĩnh vực và đối tượng thật sự có nhu cầu như cán bộ người dân tộc, cán bộ y tế cơ sở, cán bộ xã, phường, thị trấn.

Thứ bảy, đề nghị các cấp có thẩm quyền xây dựng các quy định nhằm định hướng đào tạo để nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn cho cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở và đặc biệt là các kỹ năng thực thi công vụ, tránh tình trạng bằng cấp chỉ để hợp thức hoá tiêu chuẩn chức danh và ngạch, bậc. Trong đó cần tăng cường các kỹ năng sau:

- Kỹ năng chiến lược: Khả năng khái quát, tầm nhìn, hoạch định về công tác tổ chức, kinh tế - xã hội, môi trường, quốc phòng an ninh… trong nhiệm kỳ và nhiệm kỳ tiếp theo.

- Kỹ năng chuyên môn: Toàn bộ những kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác yêu cầu, đó là những thứ liên quan trực tiếp đến hiệu quả công tác đối với sản phẩm hoặc dịch vụ.

- Kỹ năng học tập: Khả năng áp dụng lý luận, kinh nghiệm, sáng kiến vào thực tiễn hay đưa vào môi trường, hoàn cảnh mới, khả năng đáp ứng khi thay đổi, phát triển…

- Kỹ năng phối hợp, giao tiếp: Khả năng phối hợp, hợp tác, xử lý thông tin, giao tiếp, hiểu biết về con người, xã hội, tình hình địa phương, đất nước…

- Kỹ năng nghiệp vụ: Vai trò và khả năng giải quyết vấn đề, khả năng phấn đấu vươn lên, khả năng phân tích, tổng kết, kiểm tra, giám sát, ra quyết định.

Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở không chỉ góp phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh mà còn có tác động tích cực đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ năm 2011- 2020 là: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân. Quy định rõ và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu". Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã bổ sung, phát triển đầy đủ, toàn diện phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp về cán bộ và công tác cán bộ giai đoạn 2011-2020, mở ra hướng giải quyết quan trọng để đánh giá đúng cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các cấp ủy, các tổ chức Đảng, các cấp, các ngành cần triển khai kịp thời và có hiệu quả hơn nữa những chủ trương của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ, trong đó chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã.

ThS. Nguyễn Thị Thu Huyền

Phó Trưởng Khoa Lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: