Chủ nhật 13/09/2026 12:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đơn giản hóa một số thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự

Một trong những thách thức lớn đang đặt ra đối với công tác thi hành án dân sự hiện nay là việc rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, tại Việt Nam

Một trong những thách thức lớn đang đặt ra đối với công tác thi hành án dân sự hiện nay là việc rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, tại Việt Nam, thời gian trung bình thực thi phán quyết của Tòa án trong năm 2016 là 150 ngày và thời gian phá sản kéo dài đến 05 năm. Thứ hạng của Việt Nam trong khối ASEAN còn khiêm tốn, xếp 6/10 về thời gian thi hành án và 8/10 trong hiệu quả phá sản doanh nghiệp. Điều đáng lưu ý là, từ năm 2010 đến nay, thời gian thi hành án (150 ngày) tại Việt Nam không có bất cứ thay đổi và cải thiện đáng kể nào[1]. Chính sự kéo dài, trì hoãn trong thực thi công lý dẫn đến thứ hạng còn thấp trong xếp hạng tín nhiệm của các nền kinh tế thế giới. Việc này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc thi hành án dân sự bị kéo dài là do thủ tục thi hành án còn nhiều bất cập. Cụ thể:

Thứ nhất, về thủ tục thông báo thi hành án

Trong quá trình tổ chức thi hành án, có rất nhiều loại văn bản cần thông báo cho đương sự (người được thi hành án, người phải thi hành án) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy chưa có thống kê cụ thể về số lượng các loại văn bản mà chấp hành viên cần thông báo nhưng thực tiễn thi hành án cho thấy:

- Về các loại văn bản phải thông báo, gồm: Các quyết định về thi hành án (quyết định thi hành án, quyết định cưỡng chế thi hành án, quyết định ủy thác, quyết định đình chỉ thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập... ) và các loại văn bản khác phát sinh trong quá trình thi hành án[2]. Với một hồ sơ thi hành án dân sự thì chấp hành viên, cán bộ thi hành án phải tống đạt ít nhất 02 loại văn bản, đó là quyết định thi hành án và giấy triệu tập. Trong trường hợp đương sự tự nguyện thi hành án và trong trường hợp chỉ có hai đương sự (01 người phải thi hành án, 01 người được thi hành án) thì ít nhất cũng phải tống đạt 04 văn bản. Công việc này sẽ tăng lên khi có nhiều đương sự, người liên quan và mức độ phức tạp của vụ việc thi hành án gia tăng.

Cho tới nay, chưa có thống kê chính thức về việc tống đạt của một chấp hành viên là bao nhiêu văn bản trong một năm. Tuy nhiên, theo số liệu bình quân của cả nước năm 2018[3] thì bình quân ở mức thấp nhất việc tống đạt của một chấp hành viên là khoảng 920 văn bản/năm. Như vậy, số lượng công việc tống đạt, thông báo cũng đã và đang ở mức đáng báo động.

Với số lượng tống đạt là hơn hai văn bản/ngày/chấp hành viên mà chưa trừ ngày lễ, thứ bảy và chủ nhật thì việc tống đạt một lượng lớn văn bản làm tiêu tốn khá nhiều ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động thi hành án dân sự. Đồng thời, làm mất nhiều thời gian, công sức của cán bộ, chấp hành viên làm công tác thi hành án dân sự[4].

- Về hình thức gửi các loại văn bản: Các loại văn bản phải được thông báo theo quy định, có loại được gửi theo đường bưu điện bằng các hình thức như chuyển phát nhanh, bảo đảm có hồi báo, có loại được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã để niêm yết; có loại được chấp hành viên tống đạt trực tiếp cho đương sự, người liên quan. Mặt khác, việc thông báo thi hành án gần như vẫn thực hiện theo phương pháp truyền thống như thông báo trực tiếp, niêm yết công khai hoặc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó, việc thông báo trực tiếp vẫn là một trong những hình thức ưu tiên sử dụng. Điều này dẫn đến việc tống đạt các văn bản cần phải thông báo cho đương sự và người liên quan hiện nay của chấp hành viên cũng rất bị động, mất nhiều thời gian, công sức mà hiệu quả lại chưa cao.

Do đó, bên cạnh các loại văn bản bắt buộc phải thông báo cho đương sự, cần thiết phải có các quy định hướng dẫn cụ thể “văn bản khác” là những loại văn bản nào cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện việc thông báo cho đương sự, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan, đồng thời giới hạn về các văn bản phải thông báo, giúp tiết kiệm thời gian và công sức cho chấp hành viên.

- Về cách thức thực hiện việc thông báo: Việc áp dụng các hình thức như gửi thông báo trực tiếp hoặc niêm yết công khai do chấp hành viên hoặc thư ký thi hành án thực hiện đã cho thấy hiệu quả của các quy định hiện hành chưa cao. Thực tế cho thấy, quá trình tổ chức thi hành án thường mất nhiều thời gian với rất nhiều thông báo; cùng một thời điểm, mỗi chấp hành viên phải thi hành đồng thời nhiều vụ việc. Hơn nữa, khoảng cách địa lý đến nơi được thông báo không phải lúc nào cũng gần, thuận lợi nên việc di chuyển, đi lại mất nhiều thời gian, công sức và việc thông báo trực tiếp không phải lúc nào cũng thành công. Trong điều kiện việc ứng dụng công nghệ thông tin đang được phát triển mạnh mẽ (đặc biệt là Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay[5]), phần lớn người dân đã sử dụng mạng internet, máy tính, điện thoại thông minh... thì việc quy định thông báo về thi hành án dân sự thông qua ứng dụng công nghệ thông tin trong Luật Thi hành án dân sự sẽ tạo cơ sở pháp lý và điều kiện cho việc thực hiện các thủ tục thi hành án dân sự nhanh hơn, rút ngắn thời gian thi hành án[6].

Theo Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) thì việc thông báo về thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng thực hiện theo quy định tại Điều 43 Luật Thi hành án dân sự, ngoài ra có thể được công khai trên Trang Thông tin điện tử của Cục Thi hành án dân sự, Cổng Thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp. Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu được nhận thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác thì việc thông báo trực tiếp có thể được thực hiện theo hình thức đó nếu không gây trở ngại cho cơ quan thi hành án dân sự. Tuy nhiên, quy định này chỉ bó hẹp trong phạm vi “có thể” hoặc chỉ khi “có yêu cầu” của đối tượng được nhận thông báo nên thực tế thực hiện vẫn còn hạn chế. Do đó, cần mở rộng và đa dạng hơn nữa các phương thức thông báo này.

Thứ hai, về thủ tục xác minh điều kiện thi hành án

Theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), chủ thể có trách nhiệm thực hiện xác minh điều kiện thi hành án thuộc về chấp hành viên và việc xác minh điều kiện thi hành án trở thành quyền của người được thi hành án. Trên thực tế, thời gian thực hiện công tác xác minh của chấp hành viên trung bình chiếm đến quá nửa thời gian của một hồ sơ, kể từ khi được thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự giao đến khi kết thúc hồ sơ, chưa kể đối với hồ sơ cần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế có huy động nhiều lực lượng tham gia thì thời gian và các nội dung xác minh càng đa dạng và phức tạp hơn[7].

Ngoài ra, quy định chấp hành viên có nhiệm vụ xác minh trong nhiều trường hợp cũng gây ra tình trạng công việc quá tải đối với chấp hành viên, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác. Do đó, pháp luật nên quy định trách nhiệm tiến hành xác minh bao gồm trách nhiệm của người được thi hành án và chấp hành viên, trong đó vẫn đề cao việc xác minh của người được thi hành án. Điều này cũng phù hợp với tính chất của việc thi hành các bản án, quyết định về dân sự. Bởi lẽ, thi hành án dân sự suy cho cùng là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của chính bản thân người được thi hành án.

Theo quy định tại Điều 7a, Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, người phải thi hành án có nghĩa vụ kê khai trung thực tài sản, điều kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của mình khi có yêu cầu của người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai đó. Tuy nhiên, trong thực tiễn, từ nghĩa vụ phải kê khai tài sản, thu nhập của người phải thi hành án đã bị chuyển hóa thành nghĩa vụ, thủ tục phải thực hiện của chấp hành viên. Trên thực tế, tình trạng bất hợp tác của người phải thi hành án với cơ quan thi hành án diễn ra thường xuyên. Có những trường hợp người phải thi hành án cố tình trốn tránh, không tiếp xúc, gặp mặt chấp hành viên thì việc này gần như không thể thực hiện được[8] và việc yêu cầu kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án từ người phải thi hành án đôi khi trở thành một quy định mang tính hình thức[9]. Do đó, cần quy định các chế tài đủ mạnh để áp dụng đối với các trường hợp vi phạm nghĩa vụ của người phải thi hành án. Đối với quy định yêu cầu người phải thi hành kê khai tài sản, thu nhập, nên quy định bắt buộc ở một số trường hợp nhất định, còn lại là khuyến khích đối với chấp hành viên.

Thứ ba, về thủ tục tổ chức thi hành án

Theo phản ánh của nhiều cơ quan thi hành án dân sự, quy định về trình tự, thủ tục trong lĩnh vực thi hành án dân sự đang bị hành chính hóa, làm giảm đáng kể hiệu quả công tác thi hành án. Ví dụ: Đối với thủ tục kê biên, xử lý tài sản, trong suốt quá trình kê biên, xử lý tài sản, chấp hành viên phải tiến hành thông báo, niêm yết đầy đủ các văn bản, quyết định về thi hành án cho đương sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Để xử lý xong một tài sản, chấp hành viên phải thông báo, niêm yết các văn bản không dưới 10 lần (nếu tài sản bán đấu giá không thành thì thủ tục này sẽ phức tạp hơn) và mỗi lần như vậy đều phải niêm yết đầy đủ cả 03 nơi (nơi có tài sản, Ủy ban nhân dân cấp xã, trụ sở cơ quan thi hành án). Tổng cộng lại, chấp hành viên phải lập thủ tục niêm yết không dưới 30 lần cho việc thông báo[10].

Về thủ tục định giá, giảm giá tài sản: Các bước định giá, bán đấu giá hiện nay vẫn còn chiếm nhiều thời gian trong việc giải quyết thi hành án, ví dụ như việc bán đấu giá tài sản nhiều lần. Việc xác định mốc “giảm giá bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế” theo khoản 3 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) là quá dài, nhất là đối với những tài sản có giá trị lớn. Trên thực tế, có những vụ việc bán đấu giá, hạ giá hàng chục lần, thậm chí nhiều hơn… mà vẫn không có người đăng ký mua, người được thi hành án cũng không nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án. Do đó, việc bán đấu giá tài sản cần khống chế về số lần bán đấu giá, hạ giá tài sản để có thể nhanh chóng giải quyết dứt điểm vụ việc.

Thứ tư, đối với các thủ tục hành chính khác

Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020 đã đưa ra mục tiêu cụ thể về nâng cao hiệu quả và rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng (trong đó có hoạt động thi hành án dân sự) từ 400 ngày xuống 300 ngày (năm 2017) và dưới 200 ngày (đến năm 2020). Do đó, đối với các thủ tục hành chính khác, nhằm nâng cao hiệu quả và rút ngắn thời gian thi hành án, cần phải tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ, cụ thể như:

- Cắt giảm thủ tục hành chính và đẩy mạnh cơ chế liên thông một cửa trong lĩnh vực thi hành án dân sự, cụ thể, phải đơn giản hóa thủ tục hành chính như giảm bớt hồ sơ, giấy tờ, yêu cầu, điều kiện không hợp lý hoặc rút ngắn thời hạn giải quyết thủ tục. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, triển khai mô hình một cửa trong thi hành án dân sự.

- Xây dựng cơ chế thi hành án rút gọn: Đối với các vụ việc thi hành án có giá trị nhỏ, tính chất đơn giản, ví dụ như trả lại tiền tạm ứng án phí, tài sản có giá trị nhỏ (vài trăm nghìn đồng)…, cần xây dựng một cơ chế thi hành án rút gọn. Hiện nay, về mặt pháp lý, trình tự, thủ tục hoàn trả các tài sản có giá trị nhỏ như con dao, quần áo… hoặc các tài sản có giá trị lớn hơn cho đương sự đều phải thực hiện theo trình tự thủ tục chung do pháp luật quy định. Việc quy định một trình tự, thủ tục chung khi trả lại cho đương sự các loại tài sản này gây ra khá nhiều bất cập trong thực tiễn, ví dụ: Về thời hạn xử lý tài sản khi đương sự không đến nhận, theo quy định tại Điều 126 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), sau khi có quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ, chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm nhận lại tiền, tài sản. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tiền, thì chấp hành viên gửi số tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do chính đáng, thì chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 Luật Thi hành án dân sự và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền đã được gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng, thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước.

Vấn đề vướng mắc là thời gian để xử lý tài sản trong trường hợp đương sự không đến nhận vẫn còn quá dài (hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền đã được gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng, thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước). Việc này gây ra không ít khó khăn cho quá trình tổ chức thi hành án, tốn kém thời gian, công sức của chấp hành viên[11].

Bên cạnh đó, về trình tự, thủ tục trả lại tiền, tài sản cho phạm nhân cũng cần có những quy định đơn giản hơn, nhất là đối với các tài sản có giá trị nhỏ. Về việc giấy ủy quyền có xác nhận của trại giam theo khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, chỉ nên áp dụng đối với trường hợp tài sản có giá trị lớn, đối với các tài sản có giá trị nhỏ hoặc các loại giấy tờ thì không nên áp dụng quy định này vì trong thực tiễn, việc xin xác nhận của trại giam vào đơn xin nhận tài sản hoặc giấy ủy quyền cũng gặp rất nhiều khó khăn do phạm nhân bị quản lý rất chặt chẽ, việc người nhà phạm nhân đến trại giam xin xác nhận ủy quyền nhận tài sản cũng rất khó khăn, mất nhiều thời gian tổ chức thi hành án. Do đó, đối với các trường hợp tài sản có giá trị nhỏ, thân nhân của phạm nhân có thể xin xác nhận của chính quyền địa phương về nhân thân để đến nhận tài sản tại cơ quan thi hành án, điều này cũng sẽ làm giảm bớt thủ tục và tạo thuận lợi cho chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp.

- Giảm bớt một số loại giấy tờ trong hồ sơ thi hành án: Trong một hồ sơ thi hành án có rất nhiều loại giấy tờ chấp hành viên phải lưu giữ như quyết định thi hành án, bản án, phiếu xác định tiền, tài sản, biên lai, phiếu thu, biên lai kết chuyển, bảng kê nhập ngân sách, giấy tờ nhập ngân sách, báo cáo đối chiếu kết quả thi hành án, thông báo thi hành xong (nếu có)... Đối với các hồ sơ thi hành đều hoặc phải kê biên, xử lý tài sản thì số giấy tờ lưu giữ là rất nhiều, để hoàn thiện các loại văn bản, giấy tờ này chiếm rất nhiều thời gian tác nghiệp của chấp hành viên và gây lãng phí ngân sách. Do đó, cần rà soát lại các loại giấy tờ cần thiết phải có trong hồ sơ và các giấy tờ không cần thiết, để hạn chế việc in ấn, thiết lập văn bản, giảm tải công việc cho chấp hành viên.

Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian và giảm chi phí trong quá trình thực thi phán quyết của Tòa án và các cơ quan tài phán là một việc làm cần thiết và quan trọng, góp phần bảo vệ nhà đầu tư, đảm bảo quyền lợi của người dân, doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh[12] và đảm bảo trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, việc đơn giản hóa một số thủ tục thi hành án sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến trong công tác thi hành án dân sự hiện nay.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội









[1]. Lê Thu, Nâng cao hiệu quả thi hành án để cải thiện môi trường kinh doanh, nguồn: https://baomoi.com/nang-cao-hieu-qua-thi-hanh-an-de-cai-thien-moi-truong-kinh-doanh/c/22832122.epi.

[2]. Khoản1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[3]. Trung tâm Thống kê, quản lý dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin, Số liệu Báo cáo thống kê 12 tháng, tổng số việc phải thi hành của toàn quốc: 926.175 việc; số lượng chấp hành viên: 4.112 chấp hành viên, nguồnhttp://thads.moj.gov.vn/noidung/thongbao/Lists/BaoCaoThongkeTongCuc/Attachments/ 139/5.%2012%20thang%202018%20-%20Mau%20Trung%20tam%20-%20Chinh%20Thuc.pdf.

[4]. ThS. Đinh Duy Bằng, Thông báo về thi hành án - Những vấn đề từ thực tiễn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 3/2011.

[5]. Xem thêm: Cách mạng công nghiệp 4.0 là gì, nguồn: https://news.zing.vn/cach-mang-cong-nghiep-la-gi-post750267.html; và bài Công nghiệp 4.0; https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ nghi%E1%BB%87p_4.0.

[6]. Xem thêm: Thanh Hoa & Văn Nghĩa, Nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào thông báo thi hành án; http://baophapluat.vn/tu-phap/can-nang-cao-kha-nang-ung-dung-cong-nghe-thong-tin-vao-thong-bao-thi-hanh-an-405922.html.

[7]. Học viện Tư pháp, Giáo trình Nghiệp vụ thi hành án dân sự (Phần Kỹ năng), Tập 1, Nxb. Tư pháp, năm 2017, tr. 91.

[8]. ThS. Đinh Duy Bằng, Một số vấn đề về quyền hạn của chấp hành viên, nguồn: http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=341.

[9]. Hoàng Thu Trang, Hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân sự, nguồn: http://thads.moj.gov.vn/nghean/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=13.

[10]. Phạm Dũng, Thi hành án như… rùa bò, nguồn: https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/thi-hanh-an-nhu-rua-bo-20170730000345208.htm.

[11]. Hoàng Thị Thanh Hoa, Trả lại tài sản thi hành án - Một số bất cập từ thực tiễn, nguồn:

http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/TuThucTien/View_Detail.aspx?ItemID=584.

[12]. Nguyễn Xuân Tùng, Thi hành án dân sự và Chỉ số PCI, nguồn: http://moj.gov.vn/ qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=2904.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: