![]() |
| Họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước thông qua Luật THADS năm 2025 |
Triển khai thực hiện Kết luận số 162-KL/TW, từ ngày 01/7/2025, Hệ thống THADS thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy với quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Ban Thường vụ Đảng ủy, Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Lãnh đạo Cục Quản lý THADS, toàn Hệ thống THADS đã tập trung mọi nguồn lực để hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị trọng tâm; trong đó, có kết quả đột phá về hoàn thiện thể chế THADS gắn với nâng cao năng lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới.
Ngày 05/12/2025, tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV thông qua Luật THADS năm 2025, gồm 05 chương, 116 điều, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 đã thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, khắc phục những bất cập phát sinh trong nhiều năm qua, đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Đặc biệt, thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, theo Nghị quyết số 18-NQ/TW[1], Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quan trọng liên quan đến cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Những văn bản này đã tác động tích cực, hiệu quả đến tổ chức, hoạt động và xây dựng Luật THADS năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Luật THADS năm 2025 được xây dựng và thông qua với nhiều điểm mới quan trọng, với mục tiêu tạo cơ sở pháp lý cho vận hành mô hình mới. Đây là điểm đột phá trong hoàn thiện thể chế về THADS gắn với nâng cao năng lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới. Bên cạnh đó, Luật giao Chính phủ quy định chi tiết 37 nội dung, với 03 nhóm vấn đề lớn.
Để triển khai thi hành Luật THADS năm 2025, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban hành các kế hoạch[2], theo đó, Cục Quản lý THADS được giao tham mưu ban hành 03 nghị định, 06 thông tư của Bộ Tư pháp, 01 thông tư liên tịch với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và làm đầu mối phối hợp với các bộ ban hành 10 thông tư khác liên quan đến công tác THADS.
Đến nay, Cục Quản lý THADS đã hoàn thành nhiệm vụ tham mưu để Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình Chính phủ ban hành 03 nghị định theo đúng tiến độ[3]. Trong quá trình tham mưu xây dựng 06 thông tư được giao, thực hiện Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Cục Quản lý THADS đã nghiên cứu và trình Lãnh đạo Bộ theo hướng hợp nhất 05 thông tư để trình Bộ trưởng ban hành 02 thông tư[4]. Cục Quản lý THADS cũng tham mưu Lãnh đạo Bộ ban hành thông tư liên tịch với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và 02 thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí THADS, kế toán nghiệp vụ THADS.
Luật THADS năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành tạo đột phá trong hoàn thiện thể chế về THADS gắn với nâng cao năng lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới.
1. Hoàn thiện thể chế về tổ chức, hoạt động của Hệ thống Thi hành án dân sự theo mô hình mới
Thể chế hóa Kết luận số 162-KL/TW về mô hình cơ quan THADS một cấp ở địa phương nhằm tinh, gọn tổ chức bộ máy Hệ thống THADS, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Luật THADS năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định:
Thứ nhất, Hệ thống THADS được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương, gồm cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng; cơ quan THADS một cấp tại địa phương (gồm 34 cơ quan THADS tỉnh, thành phố, trong đó có 355 Phòng THADS khu vực). Các Phòng THADS khu vực được đặt tương đồng, thống nhất với 355 Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân khu vực (thống nhất số lượng[5], phạm vi thẩm quyền hoạt động, địa điểm đặt trụ sở, tương đồng về tên gọi).
Thứ hai, thể chế hóa mục tiêu của Đề án, Luật THADS năm 2025 quy định Phòng THADS khu vực có nhiệm vụ, quyền hạn tập trung vào công tác tổ chức thi hành án, mà không thực hiện các nhiệm vụ về quản lý hành chính, kế hoạch tài chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Trưởng phòng Phòng THADS khu vực là Chấp hành viên trưởng. Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh được phân công tổ chức thi hành án cho các Phòng THADS khu vực, được ủy quyền cho Chấp hành viên trưởng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong tổ chức thi hành án (khoản 3 Điều 22, Điều 32).
Như vậy, mô hình cơ quan THADS hiện nay với nhiều điểm vượt trội như: thu gọn đầu mối quản lý, cắt giảm biên chế lãnh đạo, quản lý, tập trung nguồn lực trực tiếp tổ chức thi hành cho Phòng THADS khu vực. Phòng THADS khu vực là đơn vị thuộc THADS tỉnh, thành phố, người đứng đầu về chuyên môn, nghiệp vụ THADS là Chấp hành viên trưởng chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức thi hành án và quản lý hành chính theo địa bàn được phân cấp. Việc xác định chức danh Chấp hành viên trưởng gắn với yêu cầu tinh, gọn bộ máy là giải pháp phù hợp trong điều kiện hiện nay, vì: (i) bảo đảm tinh, gọn bộ máy (bỏ cấp huyện) không phát sinh thêm cấp quản lý mới hoặc vị trí lãnh đạo mới; (ii) bảo đảm hiệu lực, hiệu quả sau khi tinh, gọn khi trao đủ thẩm quyền cho người đứng đầu đơn vị mới (Phòng THADS khu vực), các nghiệp vụ phức tạp sẽ không phải chuyển lên Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh, thành phố; từ đó, giảm tải khối lượng công việc của Thủ trưởng cơ quan THADS; không để đình trệ công việc vì quá tải nghiệp vụ ở cấp tỉnh, nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc “không bỏ trống chức năng quản lý, chỉ đạo, điều hành” tại cấp cơ sở; (iii) xác lập rõ thứ bậc và thẩm quyền quản lý chuyên môn nghiệp vụ tại mỗi Phòng THADS khu vực, giúp các quyết định cưỡng chế hoặc kê biên tài sản được thực hiện thống nhất, đúng quy định pháp luật.
Thứ ba, sửa đổi quy định về thẩm quyền thi hành án, theo đó, cơ quan THADS tỉnh, thành phố tiếp nhận và tổ chức thi hành án tất cả các bản án, quyết định được thi hành theo địa bàn; không quy định về thẩm quyền thi hành án của cơ quan THADS cấp huyện (Điều 32).
Đồng thời, nhiều nội dung quy định chi tiết nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về mô hình tổ chức THADS đã được đưa vào Nghị định số 150/2026/NĐ-CP và Thông tư số 06/2026/TT-BTP, trong đó có nội dung hướng dẫn chi tiết việc phân công tổ chức thi hành án, việc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan THADS cho các Chấp hành viên trưởng, người đứng đầu các đơn vị chuyên môn trực thuộc.
2. Bổ sung các quy định đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động thi hành án dân sự
Thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW), Luật THADS năm 2025 đã bổ sung nhiều quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS. Đây là những quy định có tính bước ngoặt, đưa hoạt động THADS tiến vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động THADS, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự nhưng vẫn tạo thuận lợi cho cơ quan THADS, Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án. Để tạo cơ sở pháp lý, kịp thời triển khai trên thực tế, một số quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong Luật có hiệu lực sớm hơn (có hiệu lực từ ngày 20/01/2026). Luật quy định bổ sung một số nội dung quan trọng như:
Một là, quy định cơ sở dữ liệu về THADS được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và ngược lại.
Hai là, bổ sung quy định thực hiện thủ tục THADS trên môi trường số, theo đó, các thủ tục về THADS được thực hiện trực tiếp hoặc bằng phương thức điện tử theo quy định của pháp luật. Văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến THADS được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, ký số, gửi, nhận, lưu trữ, xử lý, chia sẻ trên môi trường số có giá trị pháp lý như văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin dưới dạng giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ba là, quy định văn bản, hồ sơ, tài liệu trong Luật gồm văn bản, hồ sơ, tài liệu giấy và văn bản, hồ sơ, tài liệu điện tử.
Bốn là, mở rộng áp dụng công nghệ số trong các hoạt động nghiệp vụ như thông báo thi hành án trên môi trường số; xác minh điều kiện thi hành án thông qua kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành; chuyển giao bản án, quyết định, gửi hồ sơ thi hành án bằng phương thức điện tử, thanh toán tiền thi hành án qua chuyển khoản hoặc phương thức thanh toán điện tử khác…
Những quy định này không chỉ tạo điều kiện rút ngắn thời gian xử lý, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch trong hoạt động THADS mà còn từng bước thay đổi phương thức tương tác giữa cơ quan thi hành án với người dân, doanh nghiệp theo hướng thực chất hơn. Thời gian qua, Cục Quản lý THADS đã triển khai nhiều ứng dụng chuyển đổi số và đạt được những kết quả nổi bật, mang lại lợi ích thiết thực cho cả người dân, doanh nghiệp và cơ quan thi hành án.
3. Hoàn thiện các quy định về lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền địa phương; công tác phối hợp với các ngành, cơ quan liên quan trong thi hành án dân sự theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Thứ nhất, Luật THADS năm 2025 quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác THADS trên địa bàn, đặc biệt là Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp, phù hợp với mô hình sau sắp xếp (Điều 10 Luật THADS năm 2025, từ Điều 102 đến Điều 106 Nghị định số 152/2026/NĐ-CP).
Thực tiễn cho thấy, để công tác THADS đạt chất lượng, hiệu quả, không thể thiếu vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền địa phương, vai trò phối hợp của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp. Do đó, Luật THADS năm 2025 tiếp tục hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của UBND các cấp tại Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2022 (Luật THADS năm 2008). Đặc biệt, nhấn mạnh vai trò của chính quyền cấp xã, cơ quan chuyên môn ở cấp xã trong từng điều luật cụ thể đối với từng thủ tục, hoạt động thi hành án. Nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản sung công, nhất là thời gian đầu sau sắp xếp. Nghị định số 152/2026/ NĐ-CP quy định rõ thẩm quyền tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản sung công thuộc UBND cấp xã nơi có vật chứng, tài sản.
Thứ hai, hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, Viện kiểm sát trong THADS.
Thực hiện yêu cầu về tăng cường trách nhiệm, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong công tác thi hành án; hoàn thiện thể chế để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW), Luật THADS năm 2025 đã hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân bảo đảm thống nhất với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Tòa án, Viện kiểm sát với các cơ quan THADS.
Để bảo đảm công tác phối hợp hiệu quả trong tổ chức thi hành án, ngay từ giai đoạn đầu xây dựng Đề án (từ trước khi đưa vào Luật THADS năm 2025), Bộ Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề xuất tổ chức cơ quan THADS một cấp tại địa phương. Sau khi Đề án được thông qua theo Kết luận số 162-KL/TW, nội dung này đã được kịp thời thể chế hóa trong Luật THADS năm 2025.
Đồng thời, ngay từ những ngày đầu vận hành theo mô hình mới, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã phối hợp ban hành nhiều văn bản hướng dẫn để bảo đảm công tác phối hợp liên ngành tiếp tục được duy trì và phát huy hiệu quả, không có khoảng trống trong thực hiện nhiệm vụ[6]. Đến nay, những nội dung trên cơ bản đã được thể chế tại Luật THADS năm 2025, các văn bản hướng dẫn thi hành và các luật, văn bản có liên quan. Luật THADS năm 2025 có các quy định quan trọng sau:
(i) Quy định rõ về thẩm quyền kiểm sát, kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với cơ quan THADS, trong đó có các Phòng THADS khu vực (Điều 12, Điều 112, Điều 113).
(ii) Nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác THADS, bảo đảm tính ổn định của các quan hệ xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong THADS, Luật bổ sung quy định về thời hạn kháng nghị đối với các vụ việc thi hành án đã kết thúc là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát được thông báo kết thúc việc thi hành án. Quy định mới này góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm sát THADS.
Thứ ba, hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan công an.
Khoản 3 Điều 14 Luật THADS năm 2025 quy định: “Trường hợp có sự chống đối, cản trở việc thi hành án, cơ quan THADS đề nghị lực lượng công an phối hợp bảo đảm trật tự, an toàn theo quy định của pháp luật”. Luật THADS năm 2008 quy định cơ quan công an sẽ phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan THADS có thể gặp phải sự chống đối, cản trở của người phải thi hành án ở tất cả các giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án, từ việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thẩm định giá đến việc xem tài sản để thực hiện định giá tài sản hay xem tài sản khi đưa tài sản ra bán đấu giá... Do đó, Luật THADS năm 2025 đã điều chỉnh cách tiếp cận theo hướng mở rộng phạm vi phối hợp, quy định cơ quan công an sẽ “bảo vệ trật tự, an toàn xã hội trong toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án, từ xác minh, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án”…
Đồng thời, việc thi hành án đối với người đang chấp hành hình phạt tù cần có vai trò của cơ quan công an, cụ thể là các giám thị trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự.
Bên cạnh đó, nhằm bảo đảm cơ quan THADS hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Kết luận số 162-KL/TW và phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những nội dung đang được thực hiện hiệu quả tại Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong THADS, Nghị định số 152/2026/NĐ-CP đã quy định việc phối hợp thực hiện cưỡng chế thi hành án trong trường hợp có huy động lực lượng. Theo đó, cơ quan THADS đề nghị cơ quan công an cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế phối hợp bảo vệ cưỡng chế. Trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương hoặc liên quan đến nhiều địa bàn cấp xã thì Thủ trưởng cơ quan công an cấp xã báo cáo cơ quan công an cấp tỉnh để chỉ đạo.
Thứ tư, hoàn thiện các quy định về vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.
Hiệu quả của hoạt động THADS không chỉ phụ thuộc vào cơ quan THADS, Chấp hành viên mà chịu tác động, ảnh hưởng rất lớn bởi sự chấp hành của đương sự và phối hợp, thực hiện có trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Bên cạnh các đương sự là người có nghĩa vụ chấp hành nghiêm bản án, quyết định, cần có những quy định trong Luật để khẳng định vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nghiêm chỉnh bản án, quyết định, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan THADS, Chấp hành viên. Nếu chỉ quy định chung chung sẽ khó thực hiện, do đó, cần quy định cụ thể một số cơ quan, tổ chức, cá nhân thường xuyên phải thực hiện các công việc liên quan đến THADS tại Điều 4, Điều 10, Điều 14, Điều 37 Luật THADS năm 2025. Đồng thời, Nghị định số 152/2026/NĐ-CP dành 01 chương với 16 điều quy định về quản lý nhà nước về THADS và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong THADS, như: các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan; UBND cấp tỉnh, cấp xã; Kho bạc Nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác; Bảo hiểm xã hội; cơ quan đăng ký tài sản... Đồng thời, Nghị định số 152/2026/NĐ-CP bổ sung quy định về trách nhiệm của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong công tác thi hành án đối với phạm nhân.
4. Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự để thực hiện hiệu quả mô hình mới
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí[7], từng thời hạn, thủ tục trong quy trình tổ chức thi hành án đã được rà soát kỹ để sửa đổi theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian, giảm chi phí, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số nhưng vẫn bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Các quy định này không chỉ ý nghĩa tăng cường hiệu quả và minh bạch trong hoạt động thi hành án bằng cách số hóa quy trình, giảm sai sót và trì hoãn, mà còn nhấn mạnh giá trị pháp lý tương đương của các văn bản, hồ sơ, thông tin thi hành án được lập dưới dạng dữ liệu điện tử, ký số, gửi/ nhận/lưu trữ/xử lý/chia sẻ bằng phương tiện điện tử theo Luật Giao dịch điện tử năm 2023 như văn bản giấy. Cụ thể, Luật THADS năm 2025 và Nghị định số 152/2026/NĐ-CP đã quy định như sau:
Thứ nhất, quy định về thông báo thi hành án bằng phương tiện điện tử (VNeID), thể hiện rõ ý nghĩa của chuyển đổi số trong việc tăng cường hiệu quả, minh bạch và tiết kiệm chi phí, nguồn lực.
Thứ hai, nếu áp dụng quy định thông báo trực tiếp như Luật THADS năm 2008, trong các vụ việc lớn có hàng nghìn đương sự (như phá sản hoặc thu hồi nợ tập thể), cơ quan thi hành án sẽ phải in ấn, đóng dấu và giao tận tay hàng nghìn quyết định, không chỉ riêng quyết định thi hành án, mà còn nhiều văn bản khác như thông báo kê biên, cưỡng chế, khiếu nại, dẫn đến tốn kém về thời gian, nhân lực (Chấp hành viên phải di chuyển liên tục) và chi phí (in ấn, bưu điện, bảo quản giấy tờ). Ngược lại, với ứng dụng công nghệ số hóa, chỉ cần một thao tác trên hệ thống điện tử (qua cơ sở dữ liệu kết nối và thông báo tự động), cơ quan thi hành án có thể gửi thông báo trực tiếp, kịp thời cho hàng nghìn đương sự, nộp tiền trực tuyến, đồng thời, bảo vệ quyền lợi bằng cách lưu trữ dữ liệu an toàn, dễ tra cứu và thúc đẩy công bằng xã hội khi đương sự ở xa vẫn nhận được thông tin mà không bị ảnh hưởng. Điều này không chỉ giảm gánh nặng hành chính, mà còn nâng cao niềm tin của xã hội vào hệ thống pháp luật, phù hợp với Chiến lược chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thứ ba, quy định về xác minh điều kiện thi hành án thông qua kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành giúp giảm thời gian xử lý từ hàng tuần/tháng xuống chỉ vài ngày, tăng minh bạch và giảm tranh chấp nhờ dữ liệu chính xác. Tương tự, việc chuyển giao bản án, quyết định, gửi hồ sơ thi hành án theo yêu cầu có thể thực hiện qua phương tiện điện tử hoặc môi trường điện tử, góp phần tích hợp hệ thống, hỗ trợ giám sát từ Viện kiểm sát và Tòa án. Đặc biệt, cơ quan THADS sẽ cung cấp mã QR trên quyết định thi hành án cho phép đương sự quét mã để tra cứu hiệu lực của văn bản.
Thứ tư, bổ sung phương thức thanh toán tiền thi hành án qua chuyển khoản hoặc phương tiện điện tử khác giúp đương sự thực hiện nghĩa vụ nhanh chóng mà không cần đến trực tiếp. Đồng thời, Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm hạn chế người phải thi hành án trốn tránh, chống đối thi hành như: người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án. Đồng thời, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Thời gian tới, Cục Quản lý THADS tiếp tục phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi này, đồng thời, kiến nghị trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 để nghiên cứu quy định về xử lý hình sự đối với các hành vi đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Thứ năm, bổ sung quy định xử lý khoản tiền đã tạm thu, vật chứng, tài sản tiếp nhận trong nhiều năm nhưng chưa có phương án giải quyết. Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chống lãng phí, tiêu cực, khơi thông các nguồn lực xã hội, Luật THADS năm 2025 bổ sung quy định về xử lý đối với khoản tiền đã tạm thu đang bị tồn đọng nhiều năm qua (khoản 4 Điều 57), Nghị định số 152/2026/NĐ-CP và Thông tư số 06/2026/TT-BTP bổ sung quy định về xử lý khoản tiền thu từ trại giam, trại tạm giam, vật chứng, tài sản đã tiếp nhận nhiều năm. Theo đó, sau 05 năm cơ quan THADS đã tạm thu mà không nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì khoản tiền trên sẽ được sung công; sau khi sung công, trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan THADS thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
Thứ sáu, quy định việc gửi lại yêu cầu thi hành án. Đây là một trong những giải pháp nhằm giảm án tồn, xử lý những vụ việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành kéo dài nhiều năm mà Nhà nước vẫn phải bảo đảm nhân lực, vật lực để theo dõi, xác minh định kỳ, gây lãng phí ngân sách. Quy định này vẫn bảo đảm thực hiện đầy đủ trách nhiệm của cơ quan THADS, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời, tạo điều kiện cho người dân có quyền yêu cầu văn phòng THADS tổ chức thi hành án; bất kỳ giai đoạn nào sau khi được gửi lại tài liệu yêu cầu thi hành án, nếu phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì người yêu cầu đều có quyền yêu cầu thi hành án trở lại, thời gian gửi lại yêu cầu thi hành án không bị tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Thứ bảy, giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS được quy định cơ bản như Luật THADS năm 2008. Bên cạnh đó, nhằm phù hợp với Luật Khiếu nại năm 2011 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), mô hình tổ chức THADS sau sắp xếp và xã hội hóa hoạt động THADS, Luật THADS năm 2025 sửa đổi như sau: Thủ trưởng cơ quan THADS giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình và của Phó Thủ trưởng, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý; Trưởng văn phòng THADS giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình và của Thừa hành viên thuộc văn phòng; Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS giải quyết lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan THADS và quyết định giải quyết khiếu nại của Trưởng văn phòng THADS. Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS.
5. Tăng cường các điều kiện bảo đảm, đáp ứng yêu cầu quản lý và hoạt động thi hành án dân sự theo mô hình mới
Thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, Quy định số 183-QĐ/TW ngày 02/6/2026 của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị, đồng thời, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các luật liên quan[8], Luật THADS năm 2025 bổ sung quy định về bảo đảm hoạt động THADS (Điều 9); ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong THADS (Điều 5).
Bên cạnh đó, thực hiện Kế hoạch triển khai Kết luận số 87-KL/TW ngày 13/7/2024 của Bộ Chính trị về Đề án “Xây dựng cơ chế xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ, kê biên, phong tỏa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, vụ việc”[9], kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội[10], nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý kho vật chứng của cơ quan THADS, Điều 116 Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi điểm đ khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025) theo hướng: vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì tiếp tục được lưu giữ tại kho của cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cho đến khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quy định này nhằm hạn chế việc phải di chuyển vật chứng qua các kho khác nhau, gây tốn kém chi phí, nhân lực, đồng thời, giúp bảo đảm an toàn vật chứng, phù hợp với thực tế cơ quan THADS không có lực lượng chuyên nghiệp để bảo vệ vật chứng và Nhà nước không phải đầu tư ngân sách cho cả hai hệ thống kho như hiện nay.
6. Tiếp tục thực hiện xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự - giải pháp giảm tải áp lực công việc cho các cơ quan thi hành án dân sự
Chủ trương xã hội hóa một số hoạt động THADS được Nghị quyết số 49-NQ/TW đề ra, đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu thực hiện xã hội hóa một số hoạt động THADS với cơ chế bảo đảm và lộ trình phù hợp.
Tiếp tục thực hiện chủ trương trên, trong bối cảnh sắp xếp hệ thống THADS, số việc, tiền phải thi hành ngày càng tăng trong khi biên chế giảm, Luật THADS năm 2025 đã bổ sung các quy định về Thừa hành viên và văn phòng THADS với những nội dung chính sau:
Thứ nhất, đổi tên Thừa phát lại thành Thừa hành viên và đổi tên Văn phòng Thừa phát lại thành văn phòng THADS để bảo đảm tính phổ thông, dễ hiểu, phù hợp với phạm vi và tính chất hoạt động. Tuy nhiên việc thay đổi tên gọi không làm thay đổi bản chất pháp lý của mô hình này; các chức năng, hoạt động hiện vẫn tiếp tục được kế thừa và hoàn thiện.
Thứ hai, văn phòng THADS tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự; không có thẩm quyền tổ chức thi hành các vụ việc thi hành án chủ động mà các nhiệm vụ này do cơ quan THADS thực hiện.
Thứ ba, về nhiệm vụ, quyền hạn. Thừa hành viên tiếp tục được thực hiện 04 thủ tục về thi hành án theo Nghị định số 08/2020 NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP), gồm: (i) thực hiện kịp thời, đúng nội dung quyết định thi hành án được Thủ trưởng cơ quan THADS ban hành theo đề nghị của Trưởng văn phòng THADS; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; (ii) mời đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án; (iii) kiến nghị Thủ trưởng cơ quan THADS xem xét sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành theo đề nghị của Trưởng văn phòng THADS; (iv) xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án.
Bên cạnh đó, so với Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Luật THADS năm 2025 đã mở rộng thẩm quyền của Thừa hành viên đối với 04 thủ tục sau: (i) được ra quyết định thi hành án; (ii) được đề nghị Tòa án xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án; (iii) được yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu; (iv) được yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản thi hành án.
Đồng thời, Thừa hành viên được thực hiện thêm 01 thủ tục: “Thừa hành viên được đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản”.
Thứ tư, quy định rõ tại Luật THADS năm 2025 về thủ tục thi hành án của Thừa hành viên, văn phòng THADS, trong đó có quy định trường hợp người yêu cầu có văn bản đề nghị văn phòng THADS chấm dứt việc thi hành án và chuyển cơ quan THADS để áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng, Trưởng văn phòng THADS phải thu hồi quyết định thi hành án và chuyển hồ sơ thi hành án cho cơ quan THADS có thẩm quyền, trừ trường hợp người yêu cầu không đồng ý. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định.
Tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng về xã hội hóa một số hoạt động THADS và chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, Cục Quản lý THADS đã hoàn thành nhiệm vụ tham mưu ban hành Nghị định số 151/2026/NĐ-CP.
Ban Pháp chế và Nghiệp vụ thi hành án dân sự, Cục Quản lý Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp
[1]. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
[2]. Quyết định số 2835/QĐ-TTg ngày 31/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 159/QĐ-TTg ngày 21/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 368/QĐ-BTP ngày 23/01/2026 của Bộ Tư pháp; Kế hoạch số 389/KH-CQLTHADS ngày 26/01/2026 của Cục Quản lý THADS.
[3]. Nghị định số 150/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 quy định về tổ chức cán bộ và điều kiện bảo đảm hoạt động của hệ thống THADS (Nghị định số 150/2026/NĐ-CP); Nghị định số 151/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng THADS, Thừa hành viên (Nghị định số 151/2026/NĐ-CP) và Nghị định số 152/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS (Nghị định số 152/2026/NĐ-CP).
[4]. Thông tư số 06/2026/TT-BTP ngày 16/5/2026 hướng dẫn giao nhận, bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ; thủ tục quản lý hành chính, biểu mẫu và quy trình xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong THADS (Thông tư số 06/2026/TT-BTP) và Thông tư số 08/2026/TT-BTP ngày 16/5/2026 hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Văn phòng THADS, Thừa hành viên.
[5]. 34 cơ quan THADS cấp tỉnh tương ứng với 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh và 34 Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; 355 Phòng THADS khu vực đặt tương ứng với 355 Tòa án, Viện kiểm sát khu vực.
[6]. Cụ thể: (i) Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 3769/BTP-TCTHADS ngày 25/6/2025 và Công văn số 5556/BTP-CQLTHADS ngày 09/9/2025, trong đó có nội dung hướng dẫn về chuyển giao bản án, quyết định và công tác kiểm sát THADS; (ii) Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, đặc biệt là Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 07/7/2025 đã dành một phần quan trọng để hướng dẫn, phổ biến về mô hình tổ chức mới của hệ thống THADS, hướng dẫn về công tác chuyển giao bản án, quyết định…; (iii) Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kịp thời ban hành Thông tư số 03/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 để hướng dẫn việc tiếp nhận các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đối với công tác THADS, thi hành án hành chính.
[7]. Theo Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[8]. Điều 485 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 7 Luật Ngân sách nhà nước năm 2025.
[9]. Quyết định số 107/QĐ-TTg ngày 24/9/2024 của Thủ tướng Chính phủ.
[10]. Thông báo kết luận số 2908/TB-VPQH ngày 13/8/2025 về dự án Luật.
(Nguồn: Ấn phẩm “80 năm Thi hành án dân sự Việt Nam - Vẻ vang truyền thống, vững bước tương lai”, xuất bản năm 2026)