Thứ ba 08/09/2026 16:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế

Thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn từ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án dân sự, mỗi khâu là một “mắt xích”, trong đó, thi hành án dân sự là khâu cuối của quá trình tố tụng, có vị trí quan trọng và là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nên cần được nghiên cứu, đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao công tác này thường xuyên.

1. Những kết quả đạt được trong công tác thu hồi tài sản

1.1. Kết quả thu hồi tài sản tham nhũng của Hệ thống Thi hành án dân sự - Dấu ấn rõ nét trong bức tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của nhiệm vụ thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế, Bộ Tư pháp đã quyết liệt chỉ đạo Tổng cục Thi hành án dân sự (THADS) và các cơ quan THADS tập trung tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến loại việc này. Trong thời gian qua, kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế của Hệ thống THADS đã đạt được những kết quả nhất định - tạo dấu ấn trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Số việc và số tiền do cơ quan THADS thi hành xong có xu hướng tăng qua các năm.

Trong giai đoạn 2013 - 2019, các cơ quan THADS tổ chức thu hồi được trên 32.379 tỷ đồng (riêng năm 2019, thu hồi được số tiền hơn 16.651 tỷ đồng, bằng 51% tổng số tiền đã thi hành xong giai đoạn 2013 - 2019); năm 2020, các cơ quan THADS thu được số tiền trên 15.417 tỷ đồng; năm 2021, mặc dù do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nhưng các cơ quan THADS vẫn thu hồi được trên 4.094 tỷ đồng; năm 2022, các cơ quan THADS thu được số tiền trên 15.989 tỷ đồng; 06 tháng đầu năm 2023, các cơ quan THADS thu được số tiền trên 18.531 tỷ đồng, tăng 9.481 tỷ đồng (tăng 104,76%) so với cùng kỳ năm 2022. Những kết quả nêu trên đã góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

1.2. Sự thay đổi căn bản trong nhận thức và hành động - Thu hồi tài sản tham nhũng được xác định là nhiệm vụ chung của cả Hệ thống chính trị, mọi tầng lớp nhân dân

Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã nghiên cứu, trình Ban Bí thư lần đầu tiên ban hành Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế (Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 02/6/2021). Theo đó, công tác thu hồi tài sản tham nhũng không còn là nhiệm vụ “đơn thương độc mã” của Hệ thống THADS mà là nhiệm vụ chung của cả Hệ thống chính trị, mọi tầng lớp nhân dân, trong đó, nòng cốt là cơ quan THADS, đặt dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo thống nhất của Đảng và phải được quan tâm, chú trọng thực hiện ngay từ những giai đoạn đầu của quá trình tố tụng.

Ngay sau khi Chỉ thị số 04-CT/TW được ban hành, Đồng chí Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký văn bản[1] gửi Ban Cán sự Đảng các bộ, ban, ngành ở Trung ương và các tỉnh, thành ủy đề nghị xây dựng Kế hoạch thực hiện Chỉ thị để triển khai tại cơ quan, đơn vị, địa phương. Đến nay, về cơ bản, các tỉnh ủy, thành ủy, Ban Cán sự Đảng các bộ, ngành đã xây dựng kế hoạch, chương trình triển khai thực hiện. Tất cả các ban, bộ, ngành và các tỉnh/thành ủy đều ban hành và xây dựng Kế hoạch riêng với nhiệm vụ trọng tâm là thay đổi căn bản trong nhận thức và hành động của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Để phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Kế hoạch giám sát[2] tại 63/63 Cục THADS tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó, thực hiện việc giám sát trực tiếp tại Thành phố Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh.

1.3. Công tác kiểm tra được tăng cường, đẩy mạnh

Hàng năm, Bộ Tư pháp đã ban hành Chương trình công tác trọng tâm trong lĩnh vực THADS, trong đó yêu cầu Tổng cục THADS xây dựng Kế hoạch kiểm tra và chỉ đạo các cơ quan THADS ban hành Kế hoạch tự kiểm tra, kiểm tra và coi đây là một tiêu chí quan trọng để đánh giá kết quả công tác các cơ quan THADS. Từ năm 2018, Bộ Tư pháp yêu cầu 100% cơ quan THADS tự kiểm tra và các Cục THADS phải kiểm tra toàn diện 2/3 số Chi cục THADS trên địa bàn. Tổng cục THADS đã thành lập nhiều đoàn kiểm tra để tiến hành kiểm tra công tác tổ chức thi hành các vụ án tham nhũng, kinh tế. Tại địa phương, các cơ quan THADS đã ban hành và nghiêm túc tổ chức thực hiện Kế hoạch kiểm tra, trong đó tập trung tự kiểm tra, kiểm tra đối với các nội dung liên quan đến thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, công tác xác minh, phân loại điều kiện thi hành án, đấu giá tài sản thi hành án, trình tự, thủ tục thi hành án, hồ sơ thi hành án.

Tổng cục THADS cũng đã tiến hành nhiều cuộc kiểm tra đột xuất, kiểm tra chuyên đề về công tác phòng, chống tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng. Qua công tác kiểm tra đã phát hiện ra những thiếu sót, vi phạm để kịp thời chỉ đạo chấn chỉnh và xử lý nghiêm khắc. Với phương châm “không có ngoại lệ, không có vùng cấm”, Tổng cục THADS đã ban hành Chương trình hành động đẩy mạnh phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng, sai phạm trong THADS giai đoạn 2021 - 2025 của Hệ thống THADS[3] nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực ngay trong việc thu hồi tài sản tham nhũng.

1.4. Kịp thời phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để sửa đổi, bổ sung

Thực tế cho thấy, các cơ quan thực thi pháp luật trong quá trình thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế đồng thời cũng phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật về hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý tài sản tham nhũng; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; bảo vệ tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chính vì vậy, hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng cũng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước. Ngoài ra, trong quá trình truy tìm, phong tỏa, tịch thu lợi ích và phương tiện của người phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, cơ quan THADS cũng có thể phát hiện ra các hành vi phạm tội mới, các thủ đoạn tẩu tán tài sản, các tài sản phát sinh từ tài sản tham nhũng và thu thập được thêm bằng chứng về các hành vi phạm tội để kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

1.5. Đội ngũ chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án dân sự ngày càng được tôi luyện về phẩm chất đạo đức và trưởng thành về chuyên môn, nghiệp vụ

Xác định yếu tố “con người” là nguồn lực quan trọng, thời gian qua, Tổng cục THADS đã thực hiện các giải pháp nhằm củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân lực cho các đơn vị, cơ quan THADS từ cấp Vụ đến cấp Cục, Chi cục THADS, bảo đảm nguồn lực hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, đặc biệt là các địa bàn trọng điểm như Cục THADS Thành phố Đà Nẵng, Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh…Thực hiện đồng bộ, thường xuyên các giải pháp tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ chấp hành viên, công chức làm công tác THADS; khắc phục, phòng ngừa triệt để các sai sót, vi phạm, tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động THADS.

1.6. Công tác truyền thông về thu hồi tài sản tham nhũng có nhiều đổi mới, tuyên truyền ngày càng sâu và rộng về các nội dung

Tổng cục THADS đã thường xuyên phối hợp cung cấp thông tin cho báo chí về nội dung Chỉ thị 04-CT/TW ngày 02/6/2021, Kế hoạch số 18-KH/BCSĐ ngày 06/8/2021 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp và tình hình, kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Tư pháp. Chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính xác về nội dung vụ việc thu hồi tài sản được báo chí, dư luận quan tâm.

Có thể nói, các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng tuyên truyền sâu và rộng về công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Từ những thông tin công khai, minh bạch trên báo chí đã góp phần hỗ trợ cho cơ quan THADS, chấp hành viên trong thu hồi tài sản tham nhũng. Mặt khác, những thông tin về tham nhũng, tiêu cực trên báo chí là tiếng nói của công luận, của nhân dân để tạo ra áp lực dư luận xã hội nhằm thúc đẩy các cơ quan chức năng sớm vào cuộc làm rõ những vấn đề báo chí đã nêu ra.

1.7. Hợp tác quốc tế về thu hồi tài sản tham nhũng bước đầu đạt được kết quả nhất định

Để tăng cường hơn nữa hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng, thời gian qua, các ban, bộ, ngành liên quan đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện thể chế và triển khai nhiều hoạt động, giải pháp liên quan, cũng như tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này và đã đạt được kết quả bước đầu. Điển hình, thời gian vừa qua, Tổng cục THADS tham mưu Bộ Tư pháp cùng với Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với các cơ quan có liên quan Singapore thu hồi được số tiền của Phan Sào Nam trong tài khoản Ngân hàng tại Singapore.

Bên cạnh đó, thường xuyên, chủ động phối hợp với các tổ chức quốc tế và các cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài để xác minh, truy tìm và xử lý tài sản do phạm tội mà có đang ở nước ngoài. Đẩy mạnh tham gia, ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp hình sự giữa Việt Nam với các nước, tạo cơ sở pháp lý, cơ chế phối hợp trong phòng, chống tham nhũng có yếu tố nước ngoài.

2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Thời gian qua, tỷ lệ thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế tăng lên rõ rệt (năm 2013, tỷ lệ này chỉ đạt dưới 10%, trong giai đoạn 2012 - 2022, bình quân đạt tỷ lệ 34,7%). Tuy nhiên, thực tế việc thu hồi tiền và tài sản trong các vụ án này còn nhỏ so với tổng số thiệt hại do các đối tượng chiếm đoạt, thất thoát.

Tồn tại, hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân khác nhau (cả khách quan và chủ quan), trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu như:

- Tội phạm tham nhũng, kinh tế ngày càng tinh vi, phức tạp, ở diện rộng; việc chuyển hóa, hợp pháp hóa, tẩu tán tiền, tài sản tham nhũng diễn ra phức tạp và tinh vi. Tham nhũng ở khu vực ngoài nhà nước có sự cấu kết rất chặt chẽ với khu vực nhà nước.

- Vướng mắc về thể chế: Quy định pháp luật về thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế còn mang tính nguyên tắc, thiếu các quy định riêng về thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục về thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế; việc thu hồi tài sản gặp nhiều khó khăn khi cơ quan có thẩm quyền xác minh, phong tỏa, thu giữ, tịch thu tài sản tham nhũng ở nước ngoài.

- Công tác phối hợp giữa các cơ quan trong việc thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế còn chưa kịp thời.

- Việc xử lý tài sản gặp khó khăn do: Tài sản có số lượng rất lớn, nằm rải rác ở nhiều địa phương khác nhau, thậm chí ở cả nước ngoài; tính pháp lý của tài sản được tuyên trong bản án không rõ ràng; nhiều tài sản bản án tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án là tài sản chung của người phải thi hành án với vợ/chồng hoặc tổ chức, cá nhân khác, song quan điểm xử lý đối với loại tài sản này trong một số vụ việc Tòa án các cấp là khác nhau gây khó khăn cho công tác thi hành án...

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng

Một là, cụ thể hóa chủ chương, đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thu hồi tài sản do tham nhũng mà có; chú trọng công tác phòng ngừa tham nhũng; tập trung phát hiện, xử lý nghiêm người có hành vi tham nhũng; đồng thời phải xác minh rõ, chính xác tài sản tham nhũng; áp dụng kịp thời các biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; xử lý nghiêm minh những cán bộ cản trở hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng.

Hai là, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát của cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp trong công tác thu hồi tài sản cho Nhà nước bảo đảm công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải chủ động, đi trước, là tiền đề “mở đường” cho xử lý kỷ luật hành chính và xử lý theo pháp luật, góp phần đắc lực cho việc thu hồi tài sản của Nhà nước trong các vụ án tham nhũng, kinh tế.

Ba là, hoàn thiện quy định của pháp luật về phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, cụ thể: Xây dựng cơ chế kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cơ chế kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập; nghiên cứu xây dựng Luật Đăng ký tài sản; hoàn thiện các quy định tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng.

Bốn là, rà soát, đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng. Trước mắt, khi việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự chưa thể thực hiện thì các cơ quan bảo vệ pháp luật cần rà soát, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định trình tự, thủ tục riêng trong việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với tội phạm tham nhũng, kinh tế. Về lâu dài, các cơ quan bảo vệ pháp luật cần rà soát, đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực THADS và các lĩnh vực liên quan (thanh tra, kiểm toán, hình sự, tố tụng hình sự). Nghiên cứu xây dựng cơ chế thi hành án đặc thù đối với án tham nhũng, kinh tế: Xây dựng trình tự, thủ tục riêng cho quá trình xác minh, kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản, đặc biệt là phần vốn góp (cổ phần) và cổ phiếu.

Năm là, tiếp tục đàm phán để gia nhập hoặc phê chuẩn các công ước quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế.

Sáu là, nghiên cứu học tập kinh nghiệm một số nước về cơ chế thu hồi tiền, tài sản do tham nhũng mà có như: Cơ chế tịch thu, thu hồi tài sản thông qua việc khởi kiện dân sự; thông qua thủ tục hành chính; không dựa trên kết án về hình sự; không qua thủ tục kết tội.

Bảy là, các cán bộ, người được giao nhiệm vụ trong quá trình tham gia tố tụng phải kiên quyết, quyết liệt, vận dụng một cách linh hoạt những biện pháp, cách thức thu thập triệt để những thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan chứng minh tài sản bị thất thoát chiếm đoạt để kịp thời phong tỏa, kê biên, xử lý thu hồi tài sản cho Nhà nước.

Tám là, phát huy cơ chế phối hợp trong công tác thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, các cơ quan tố tụng, ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử cần làm rõ tính pháp lý của tài sản kê biên để bảo đảm thi hành án; xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan liên quan trong việc xác minh tài sản của người phạm tội trong các vụ án kinh tế, tham nhũng; xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan liên quan trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ngoài; xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan chuyên môn trong việc: (i) Phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham ô tài sản; (ii) Thu thập các tài liệu, chứng cứ cần thiết, cũng như đưa ra các kết luận đối với từng lĩnh vực chuyên môn (như: Tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng, đấu giá, đấu thầu nhằm bảo đảm tính kịp thời, chính xác của kết luận giám định tư pháp).

Như vậy, để nâng cao được hiệu quả công tác thu hồi tài sản trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế, ngoài các giải pháp về cơ chế chính sách pháp luật về thu hồi tài sản nêu trên, các cơ quan bảo vệ pháp luật cần nghiên cứu xây dựng cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”, một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng” và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng[4]”, làm cho các đối tượng không thể tham ô, chiếm đoạt hay tẩu tán tài sản do phạm tội mà có, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.

Nguyễn Thị Thu Hằng

Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp

[1]. Công văn số 61-CV/BCSĐ ngày 15/6/2021 và Công văn số 147-CV/BCSĐ ngày 08/11/2021 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp.

[2]. Kế hoạch số 406/KH-MTTW-BTT ngày 15/02/2022 của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

[3]. Tổng cục THADS ban hành Quyết định số 808/QĐ-TCTHADS ngày 12/10/2021 triển khai Kế hoạch số 18-KH/BCSĐ ngày 06/8/2021 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp về việc thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW và Chương trình hành động đẩy mạnh phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng, sai phạm trong THADS giai đoạn 2021 - 2025 của Tổng cục THADS (ban hành kèm theo Quyết định số 779/QĐ-TCTHADS ngày 30/9/2021 của Tổng cục trưởng Tổng cục THADS).

[4]. Bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: