Thứ bảy 16/05/2026 06:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự trong các vụ án hình sự

Thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự là một trong những nội dung quan trọng trong công tác thi hành án dân sự (THADS) chiếm tỷ lệ lớn về việc và giá trị trong tổng số việc THADS phải thi hành.

Thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự là một trong những nội dung quan trọng trong công tác thi hành án dân sự (THADS) chiếm tỷ lệ lớn về việc và giá trị trong tổng số việc THADS phải thi hành. Theo Điều 1, khoản 1 Điều 2 và Mục 1 Chương V Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) thì những vụ việc phải thi hành án trong bản án, quyết định hình sự thuộc thẩm quyền của cơ quan THADS bao gồm: Hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và phần quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự (gồm các việc như thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng; bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; bồi thường thiệt hại về tài sản...).

Phân tích kết quả thi hành phần dân sự trong bản án hình sự (theo thống kê của Tổng cục THADS) có thể thấy, các việc THADS trong bản án, quyết định hình sự chiếm số lượng lớn cả về việc và về tiền, tuy nhiên, kết quả thi hành đạt được là chưa cao, đặc biệt là kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản[1]. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan như: Số lượng các việc THADS trong bản án, quyết định hình sự phát sinh ngày càng nhiều, có chiều hướng tăng theo từng năm (năm 2016 tổng thụ lý: 225.465 việc, số tiền 31.744 tỷ 449 triệu 845 nghìn đồng; năm 2017 tổng thụ lý: 299.314 việc, số tiền 44.192 tỷ 933 triệu 732 nghìn đồng)[2]. Do đó, trách nhiệm của các cơ quan THADS ngày càng trở nên nặng nề hơn, sức ép công việc cùng với tính chất phức tạp của các vụ việc thi hành án gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác cũng như việc hoàn thành chỉ tiêu của các cơ quan THADS. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế[3]…

Thực tiễn công tác thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự đang đặt ra rất nhiều thách thức, đòi hỏi phải có những giải pháp để nâng cao hiệu quả thi hành phần dân sự trong các bản án, quyết định hình sự nói riêng và hiệu quả công tác THADS nói chung. Trong phạm vi bài viết, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

Một là, cần nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với cơ quan công an trong việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án. Điều 68 Luật Thi hành án dân sự quy định về yêu cầu lực lượng hỗ trợ chấp hành viên để tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự: “Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án mà đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, thực hiện yêu cầu của chấp hành viên trong việc tạm giữ tài sản, giấy tờ”. Theo đó, trong trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương sự chống đối, chấp hành viên có quyền yêu cầu lực lượng công an hoặc các tổ chức, cá nhân hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc này vẫn gặp phải vướng mắc khi chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục cũng như trách nhiệm của lực lượng công an trong quá trình tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự, dẫn đến một số trường hợp cơ quan THADS bị lực lượng công an từ chối hỗ trợ[4]. Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp và Bộ Công an quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong THADS chỉ quy định về phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong THADS, còn việc hỗ trợ chấp hành viên tạm giữ tài sản do chưa có văn bản quy định nên không cử lực lượng tham gia. Do đó, cần quan tâm đến vấn đề phối hợp giữa cơ quan THADS và cơ quan công an không chỉ trong việc cưỡng chế thi hành án mà cả trong việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án.

Hai là, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan THADS với trại giam, trại tạm giam. Mặc dù Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải THADS và trả tiền, giấy tờ cho người được THADS là phạm nhân đã có những quy định về việc phối hợp giữa cơ quan THADS và cơ quan thi hành án hình sự trong thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải THADS và trả tiền, giấy tờ cho người được THADS là phạm nhân[5], tuy nhiên, trên thực tế, việc phối kết hợp vẫn còn một số bất cập nhất định, đặc biệt là việc thông tin của trại giam, cơ sở giam giữ về nơi chấp hành hình phạt tù của người phải thi hành án là phạm nhân cho cơ quan THADS đôi lúc còn chưa kịp thời, chưa đồng bộ[6].

Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC chỉ quy định trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ có giá hoặc giấy tờ khác của phạm nhân là người phải THADS hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện để THADS; trả tiền, giấy tờ cho phạm nhân là người được THADS tại trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện; trách nhiệm của trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, cơ quan THADS trong việc thi hành phần quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự[7]. Trong khi đó, số lượng việc thi hành án phải trả lại các tài sản khác cho phạm nhân là rất lớn. Do đó, cần xem xét bổ sung các quy định về việc phối hợp giữa trại giam, trại tạm giam với cơ quan THADS trong việc trả lại đối với những tài sản khác để thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật[8].

Ba là, cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các giai đoạn bắt đầu tố tụng đến giai đoạn THADS trong cơ chế bảo đảm thi hành án. Theo quy định tại Điều 122 Luật Thi hành án dân sự thì vật chứng, tài sản tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự do yêu cầu phục vụ việc xét xử mà chưa được chuyển cho cơ quan THADS trong giai đoạn truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì phải chuyển giao cho cơ quan THADS tại thời điểm Tòa án chuyển giao bản án, quyết định. Theo quy định trên, việc chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự có thể thực hiện cùng thời điểm với thời điểm chuyển giao bản án, quyết định. Trong thực tiễn một số vụ việc, công tác phối hợp giữa cơ quan tố tụng với cơ quan THADS còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu; việc đính chính, giải thích bản án, chuyển giao vật chứng, các tài liệu liên quan có trường hợp còn chưa kịp thời; việc áp dụng các biện pháp chế tài đối với các trường hợp cố ý không thi hành án hoặc chống đối, tẩu tán tài sản, cản trở thi hành án còn chưa nghiêm[9]. THADS là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng nên cơ quan THADS cần phải nắm được các thông tin cần thiết và sớm nhất có thể về tài sản, giấy tờ của bị can, bị cáo trong vụ án hình sự để có cơ sở bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả phần tiền và tài sản có liên quan trong các bản án, quyết định hình sự. Do đó, vai trò chủ động của cơ quan THADS cần phải được phát huy nhiều hơn nữa trong việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, vật chứng, tài sản tạm giữ có liên quan đến vụ án từ cơ quan điều tra trong giai đoạn tố tụng.

Theo quy định tại Điều 127 Luật Thi hành án dân sự, chấp hành viên xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 98, Điều 99, Điều 100 và Điều 101 Luật Thi hành án dân sự đối với các tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành. Tuy nhiên, thực tiễn xử lý tài sản kê biên phát sinh rất nhiều vấn đề như: Diện tích tài sản thực tế với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị chênh lệch, hiện trạng tài sản bị thay đổi sau khi có quyết định kê biên… cũng gây nhiều khó khăn cho giai đoạn thi hành án sau này. Do vậy, việc kê biên trong giai đoạn trước khi xét xử cũng nên bổ sung thành phần tham gia là cơ quan THADS để cơ quan THADS có những thuận lợi hơn trong quá trình xử lý tài sản kê biên trong giai đoạn thi hành án. Đồng thời, đối với các việc dân sự trong vụ án hình sự như bồi thường thiệt hại, tịch thu tài sản, truy thu do thu lợi bất chính…, pháp luật cần quy định rõ trong khi giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng như công an, Tòa án phải có trách nhiệm ước tính tất cả nghĩa vụ dân sự mà bị can, bị cáo sẽ phải thi hành, đồng thời phải triệt để thực hiện việc kê biên, tạm giữ tài sản của họ để bảo đảm cho việc thi hành án sau này[10].

Bốn là, cần tăng cường công tác quản lý nhân khẩu sau khi người phải thi hành án chấp hành xong hình phạt tù. Trên thực tế, sau khi mãn hạn tù, rất nhiều trường hợp người phải thi hành án bỏ đi lang thang, không xác định được địa chỉ, nơi cư trú[11]. Đây cũng là một trong số các nguyên nhân lớn dẫn đến tình trạng án tồn đọng hiện nay. Luật Cư trú năm 2006 không có quy định riêng vấn đề quản lý nhà nước đối với người phải thi hành án; đồng thời chưa có quy định rõ biện pháp xử lý đối với trường hợp người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thông báo với cơ quan thi hành án khi có thay đổi địa chỉ, nơi cư trú. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung Luật Cư trú năm 2006 quy định về quản lý nơi cư trú đối với người phải thi hành án khi chuyển đi nơi khác, theo đó, cần bổ sung, làm rõ nơi cư trú mới của đối tượng phải thi hành án về hình sự cũng như dân sự, khắc phục tình trạng cả cơ quan công an và chính quyền cơ sở không nắm được nơi cư trú mới của họ. Có thể xem xét quy định về việc đăng tải danh sách những đối tượng này lên cổng thông tin điện tử của cơ quan công an để thuận lợi cho việc tra cứu thông tin khi cần thiết. Đối với những trường hợp công dân chuyển về nơi ở mới thì công an cấp xã lập danh sách và gửi thông tin về nơi ở cũ của người mới chuyển đến. Một bản án cần có nhiều địa chỉ, trong trường hợp cơ quan thi hành án không xác minh được địa chỉ theo bản án thì phải có địa chỉ khác theo hộ khẩu hoặc địa chỉ nơi tạm trú hoặc người thân thích của họ để thuận tiện cho việc điều tra xác minh. Nên quy định trách nhiệm quản lý các đối tượng đang chấp hành án cho công an tại cấp xã; trách nhiệm cung cấp thông tin nơi cư trú của người phải thi hành án cho công an cấp xã. Một mặt phù hợp với pháp luật cư trú, mặt khác tăng cường và nâng cao khả năng thi hành các bản án hình sự có phần dân sự và các loại án khác[12].

Có thể nói, tính thống nhất, hiệu lực và hiệu quả của pháp luật THADS trong hệ thống pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ và tương tác biện chứng với hiệu quả của công tác THADS trên thực tế. Công lý chỉ có ý nghĩa khi và chỉ khi quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành[13]. Do đó, việc nâng cao hiệu quả thi hành án đối với phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự nói riêng và nâng cao chất lượng công tác THADS nói chung có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội





[1]. Bảo Thắng, Tội phạm tham nhũng: Phá hoại “con voi”, thu hồi “con kiến”, https://laodong.vn/phap-luat/toi-pham-tham-nhung-pha-hoai-con-voi-thu-hoi-con-kien-685663.bld, truy cập ngày 12/9/2017.

[2]. Tổng cục THADS, “Một số giải pháp nhằm giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành phần dân sự trong các bản án hình sự”, Tài liệu Hội thảo về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn được tổ chức tại Hải Phòng ngày 26/01/2018.

[3]. Xem thêm: Hoàng Thị Thanh Hoa, Quang Minh, Một số nguyên nhân ảnh hưởng hiệu quả thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2280, đăng ngày 28/02/2018, truy cập ngày 05/9/2018.

[4]. Tổng cục THADS, “Một số giải pháp nhằm giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành phần dân sự trong các bản án hình sự”, Tài liệu Hội thảo về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn được tổ chức tại Hải Phòng ngày 26/01/2018.

[5]. Điều 3 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC quy định, giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho cơ quan THADS nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm họ, tên, địa chỉ của phạm nhân là người phải THADS hoặc phạm nhân là người được THADS theo bản án hình sự, trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tiếp nhận phạm nhân vào trại giam.

[6]. Nguyễn Tuấn, Công tác phối hợp giữa cơ quan THADS và cơ quan công an trong THADS - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả, http://thads.moj.gov.vn/tuyenquang/noidung/tintuc/lists/thongtinkhac/ view_detail.aspx?itemid=67, truy cập ngày 04/8/2018.

[7]. Điều 1 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC.

[8]. Xem thêm: ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa, Về trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho người được thi hành án là phạm nhân, http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=857, đăng ngày 22/02/2018, truy cập ngày 05/9/2018.

[9]. Vụ Nghiệp vụ 2, Tổng cục THADS, Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả thi hành án các vụ việc liên quan đến án tham nhũng, kinh tế, http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx? itemid=822, đăng ngày 08/5/2017, truy cập ngày 04/8/2018.

[10]. Đặng Đình Quyền, Biện pháp bảo đảm cho bản án, quyết định về dân sự của Tòa án có tính khả thi,

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=13, truy cập ngày 22/7/2018.

[11]. Trần Đại Sỹ, Hoãn thi hành án do đương sự bỏ địa chỉ, http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/ tuthuctien/view_detail.aspx?itemid=293, đăng ngày 07/9/2015.

[12]. Xem Trần Đại Sỹ, Hoãn thi hành án do đương sự bỏ địa chỉ,

http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/tuthuctien/view_detail.aspx?itemid=293, đăng ngày 07/9/2015.

[13]. Nguyễn Văn Nghĩa, “Công lý chỉ có ý nghĩa khi và chỉ khi quyết định của Tòa án được thi hành”, http://baophapluat.vn/tu-phap/cong-ly-chi-co-y-nghia-khi-va-chi-khi-quyet-dinh-cua-toa-an-duoc-thi-hanh-348236.html, đăng ngày 07/8/2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: