Thứ hai 06/04/2026 15:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo Bộ luật Lao động năm 2019

Trong bài viết này, tác giả Nguyễn Năng Quang chỉ tập trung phân tích những nội dung chính liên quan đến tranh chấp lao động cá nhân theo quy định tại Mục 2, Chương XIV, từ Điều 187 đến Điều 190 bao gồm: (i) Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động (Thẩm quyền của Hòa giải viên lao động, Thẩm quyền của Trọng tài lao động); (ii) Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân; (iii) Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

Theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019 thì Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động”. Bên cạnh việc đưa ra khái niệm về tranh chấp lao động thì Bộ luật Lao động năm 2019 cũng đã quy định một cách cụ thể những tranh chấp được xem là tranh chấp lao động. Theo đó, các loại tranh chấp lao động bao gồm: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại; tranh chấp lao động tập thể về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động.

Quy định về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân (GQTCLĐCN) được quy định tại Mục 2 Chương XIV, từ Điều 187 đến Điều 190 của Bộ luật Lao động năm 2019 bao gồm các nội dung về thẩm quyền, thời hiệu, trình tự, thủ tục GQTCLĐCN và hiện đã được hướng dẫn trong Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động (từ Điều 92 đến Điều 108).

1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Thẩm quyền GQTCLĐCN được quy định tại Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2019 bao gồm: (i) Hòa giải viên lao động (HGVLĐ); (ii) Hội đồng trọng tài lao động (HĐTTLĐ); (iii) Toà án nhân dân.

1.1. Thẩm quyền của Hòa giải viên lao động

Quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 mở rộng thẩm quyền của HGVLĐ trong GQTCLĐCN, theo đó: “Hòa giải viên lao động là người do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm để hòa giải tranh chấp lao động (TCLĐ), tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề; hỗ trợ phát triển quan hệ lao động”[1]. Bên cạnh nhiệm vụ hòa giải tranh chấp lao động, tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề, HGVLĐ còn có nhiệm vụ hỗ trợ phát triển quan hệ lao động tại địa phương, giúp cho quan hệ lao động dần cải thiện và ngày một phát triển tích cực, hợp tác. HGVLĐ hỗ trợ phát triển đào tạo kiến thức chung về quan hệ lao động và cách thức vận hành của quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, dân chủ hóa quan hệ lao động và vai trò điều tiết của Nhà nước trong cơ chế ba bên tại địa phương. Tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, chế độ, điều kiện hoạt động và việc quản lý HGVLĐ do Chính phủ quy định[2].

1.2. Thẩm quyền của Trọng tài lao động

Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung thêm một chủ thể có thẩm quyền GQTCLĐCN mới là Trọng tài lao động. Phương thức này đã được thực hiện qua giải quyết TCLĐ tập thể. TCLĐ cá nhân trước hết sẽ được giải quyết theo thủ tục hòa giải tại HGVLĐ. Thủ tục hòa giải tại HGVLĐ là bắt buộc, trừ 06 trường hợp đã được quy định[3]. Trong 06 trường hợp đó, các bên tranh chấp được quyền khởi kiện ra Tòa hoặc thỏa thuận gửi yêu cầu giải quyết tranh chấp đến HĐTTLĐ mà không cần qua thủ tục hòa giải tại HGVLĐ. Trong trường hợp hòa giải không thành hoặc hòa giải thành, nhưng một trong các bên không thực hiện thỏa thuận, hoặc HGVLĐ không giải quyết vụ việc trong thời gian quy định, thì các bên tranh chấp được quyền khởi kiện ra Tòa án hoặc thỏa thuận gửi yêu cầu giải quyết tranh chấp đến HĐTTLĐ. Việc QGTCLĐCN tại HĐTTLĐ là trên cơ sở tự nguyện, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên.

Thành phần của HĐTTLĐ sẽ có ít nhất 15 trọng tài viên, bao gồm đại diện ba bên với số lượng ngang nhau do các bên đề cử. Trọng tài viên lao động làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm. Tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, chế độ và điều kiện hoạt động của Trọng tài viên lao động, HĐTTLĐ; tổ chức hoạt động của HĐTTLĐ; việc thành lập và hoạt động của Ban trọng tài lao động không được quy định cụ thể trong Bộ luật Lao động năm 2019 mà sẽ do Chính phủ hướng dẫn[4]. Việc quy định thay đổi về số lượng thành viên tối thiểu của Hội đồng trọng tài là 15 người, gồm đại diện ngang nhau từ ba bên so với trước đây số lượng thành viên HĐTTLĐ là số lẻ, không quá 07 người nhằm tăng cường sự lựa chọn cho các bên tranh chấp. Mở rộng thành phần tham gia quá trình GQTCLĐCN là biện pháp đúng đắn, hợp lý của kết quả giải quyết trên cơ sở sử dụng trí tuệ và kinh nghiệm của những người tham gia. Đồng thời, HĐTTLĐ không trực tiếp giải quyết tranh chấp mà thông qua Ban trọng tài lao động. Mỗi bên tranh chấp được chọn ra 01 trọng tài viên trong danh sách trọng tài, thống nhất lựa chọn 01 trọng tài viên lao động khác làm Trưởng ban trọng tài lao động.

Việc chuyển cách thức hoạt động từ cả Hội đồng trọng tài (phương thức giải quyết TCLĐ tập thể theo Bộ luật Lao động năm 2012) sang Ban trọng tài gồm 03 trọng tài viên (phương thức GQTCLĐCN theo Bộ luật Lao động năm 2019), góp phần làm tinh giản bộ máy xử lý, giải quyết nhanh gọn các trường hợp TCLĐ, đồng thời, không làm phát sinh biên chế hay phát sinh các tổ chức khác dẫn đến việc chồng chéo về mặt thẩm quyền. Điều này cho thấy, Nhà nước nâng cao vai trò của việc khuyến khích các bên tranh chấp giải quyết vấn đề của mình trước hết thông qua hòa giải, nếu hòa giải không thành thì thông qua trọng tài và không nên đưa vụ tranh chấp ra Tòa án. Pháp luật lao động Việt Nam mong muốn các bên giải quyết bởi hòa giải và trọng tài ở mức tối đa trước khi đưa ra Tòa án, góp phần nâng cao vị thế của HĐTTLĐ trong việc giải quyết các tranh chấp, phù hợp với bản chất của phương thức giải quyết TCLĐ bằng trọng tài, giảm tải việc giải quyết tranh chấp cho các chủ thể khác, tiết kiệm thời gian, chi phí và đảm bảo tối đa quyền và lợi ích của các bên khi tham gia vào quan hệ lao động.

Theo Bộ luật Lao động năm 2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết TCLĐ tập thể về quyền, hiện tại, Bộ luật Lao động năm 2019 đã thay đổi thẩm quyền giải quyết TCLĐ tập thể về quyền từ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thành HĐTTLĐ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập HĐTTLĐ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan hành chính không can thiệp sâu. Mặt khác, việc để cơ quan hành chính can thiệp vào quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động là một bất cập, triệt tiêu những mặt tích cực trong vấn đề thương lượng giữa các bên. Ngoài ra, Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung trách nhiệm tiếp nhận yêu cầu giải quyết TCLĐ tại cơ quan chuyên môn về lao động của Ủy ban nhân dân, theo đó: “Khi có yêu cầu, cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân là đầu mối tiếp nhận yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động và có trách nhiệm phân loại, hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ các bên trong giải quyết tranh chấp lao động”. Quy định này nêu rõ ảnh hưởng, vai trò của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân trong việc thực hiện phân loại, hướng dẫn, hỗ trợ các bên trong giải quyết TCLĐ (khoản 3 Điều 181).

Theo quy định mới, trong trường hợp có yêu cầu của một trong hai bên, hoặc cả hai bên tranh chấp, cơ quan chuyên môn về lao động có nhiệm vụ tiếp nhận và chuyển TCLĐ cá nhân đó đến HGVLĐ đối với trường hợp bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải tại HGVLĐ, chuyển đến HĐTTLĐ trong trường hợp yêu cầu giải quyết thông qua trọng tài hoặc hướng dẫn gửi đến Tòa án để giải quyết theo thủ tục tố tụng. Cơ chế đổi mới này không quy định sự can thiệp hành chính của Nhà nước đối với giải quyết TCLĐ, mà tăng cường vai trò hỗ trợ của Nhà nước vào quá trình giải quyết TCLĐ, thúc đẩy phát triển quan hệ lao động thông qua việc bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân là đầu mối tiếp nhận các yêu cầu giải quyết TCLĐ, có trách nhiệm phân loại, hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp[5]. Quy định này thể hiện tính chuyên môn hóa cao, giúp các Tòa án giảm tải bớt khối lượng công việc, đồng thời giúp người lao động và người sử dụng lao động bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của mình, tạo thuận lợi cho các bên tranh chấp, góp phần tiết kiệm thời gian, kinh phí.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định TCLĐ cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của HGVLĐ trước khi yêu cầu HĐTTLĐ hoặc Tòa án nhân dân giải quyết. Tuy nhiên, Bộ luật Lao động năm 2019 cũng quy định 06 trường hợp không bắt buộc thông qua thủ tục hòa giải, trong khi Bộ luật Lao động năm 2012 chỉ quy định 05 tranh chấp không bắt buộc thông qua thủ tục này mà có thể yêu cầu ngay ra Tòa án để giải quyết. Việc quy định bổ sung 01 tranh chấp không bắt buộc qua thủ tục hòa giải là: “Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại” [6] nhằm nhấn mạnh tranh chấp mang tính phức tạp, các bên tranh chấp có nhiều sự lựa chọn yêu cầu các phương thức GQTCLĐCN khác nhau. Ngoài ra, Bộ luật Lao động năm 2019 còn bổ sung các TCLĐ cá nhân không bắt buộc qua thủ tục hòa giải của HGVLĐ về bảo hiểm. Cụ thể, ngoài tranh chấp về “bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế” thì bổ sung “bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động”[7]. Trên thực tế, nhiều trường hợp tranh chấp có tính chất nghiêm trọng mà hòa giải có nguy cơ không giải quyết triệt để được vấn đề hoặc mang đến những bất lợi nhất định cho phía người lao động, pháp luật quy định các trường hợp ngoại lệ là các tranh chấp không bắt buộc phải thông qua hòa giải. Điều đó, cũng hướng tới người lao động, các bên tranh chấp mở rộng quyền lựa chọn phương thức GQTCLĐCN.

Theo Bộ luật Lao động năm 2019, pháp luật lao động quy định thêm chủ thể có thẩm quyền GQTCLĐCN là trọng tài lao động. Nếu các bên tranh chấp thỏa thuận gửi yêu cầu giải quyết tranh chấp đến HĐTTLĐ thì HĐTTLĐ phải ra quyết định thành lập Ban trọng tài lao động để giải quyết vụ việc. Khi yêu cầu HĐTTLĐ giải quyết, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết. Ban trọng tài lao động gồm có: Các trọng tài viên do mỗi bên lựa chọn và trưởng ban trọng tài do các trọng tài viên này bầu ra. Trường hợp các bên tranh chấp cùng lựa chọn một trọng tài viên để GQTCLĐCN thì Ban trọng tài lao động chỉ gồm 01 trọng tài viên lao động đã được lựa chọn. Ban trọng tài lao động làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số trừ trường hợp có 01 trọng tài. Tuy nhiên, trường hợp Ban trọng tài không được thành lập, không ra quyết định hoặc các bên không thi hành quyết định của Ban trọng tài, thì vẫn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc thi hành quyết định của trọng tài lao động hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp.

3. Thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Bên cạnh việc kế thừa các quy định hiện hành tại Bộ luật Lao động năm 2012 về thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động và yêu cầu Tòa án GQTCLĐCN thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung quy định về thời hiệu yêu cầu giải quyết TCLĐ đối với HĐTTLĐ: “Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Việc bổ sung thời hiệu yêu cầu HĐTTLĐ GQTCLĐCN là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm sẽ tạo điều kiện cho người lao động cũng như người sử dụng lao động thực hiện quyền yêu cầu của mình một cách tốt nhất, nhất là trong thời kỳ mà vấn đề lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh như hiện nay.

Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung các trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể yêu cầu đúng thời hạn thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu yêu cầu GQTCLĐCN, cụ thể khoản 4 Điều 190 quy định: “Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân”.

Ngoài ra, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định thêm thời hiệu yêu cầu HĐTTLĐ GQTCLĐCN là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, thường xuất hiện tình trạng trốn tránh, che giấu hành vi vi phạm (đặc biệt đối với hoạt động giúp việc gia đình), người sử dụng lao động có thể không ký hợp đồng lao động, không đóng bảo hiểm xã hội mà người lao động không thể biết được, hoặc biết có hành vi đó nhưng vì người sử dụng lao động viện mọi lý do để thuyết phục, khiến người lao động không biết rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm phạm, khi phát hiện ra vi phạm thì đã muộn, thời hiệu khởi kiện đã hết. Vì thế, việc quy định thời hiệu khởi kiện từ ngày phát hiện ra hành vi mà các bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm như Bộ luật Lao động hiện hành là hoàn toàn hợp lý, đảm bảo tính công bằng, minh bạch và dân chủ.

ThS.LS. Nguyễn Năng Quang
Văn phòng Luật sư Tâm Nguyên Luật TP. Hồ Chí Minh



[1]. Theo Khoản 1 Điều 184 Bộ luật Lao động năm 2019.

[2]. Xem thêm từ Điều 92 đến Điều 97 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.

[3]. Khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động.

[4]. Xem thêm từ Điều 98 đến Điều 104 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.

[5]. Theo khoản 3 Điều 181 Bộ luật Lao động năm 2019.

[6]. Điểm e khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2012.

[7]. Điểm d khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2012.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Theo dõi chúng tôi trên: