Thứ sáu 16/01/2026 16:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một trong những nguyên tắc quan trọng trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003; Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có ưu điểm là rút ngắn được tiến trình tố tụng, làm giảm chi phí về tiền bạc, công sức, thời gian của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như của các đương sự.

Phần dân sự trong vụ án hình sự thực chất là một vụ án dân sự khi được tách ra để giải quyết riêng, nhưng do tính chất đặc biệt bởi tính liên quan mật thiết giữa vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và khi giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự sẽ đáp ứng được tính chính xác, khách quan, toàn diện. Mặc khác, khi trách nhiệm dân sự được giải quyết sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại và cho cả bị can, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, quy định pháp luật áp dụng đối với vấn đề này chỉ mang tính nguyên tắc chung và được hướng dẫn tại Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự.

Theo hướng dẫn tại Công văn số 121/2003/KHXX thì phần dân sự trong vụ án hình sự được hiểu là những quan hệ về đòi tài sản; đòi bồi thường giá trị tài sản do bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị hủy hoại; yêu cầu sửa chữa tài sản bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Sở dĩ việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ được quy định mang tính nguyên tắc chung bởi lẽ về pháp luật nội dung áp dụng đã được quy định cụ thể tại chương XXI - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự. Do đó, không cần thiết phải quy định trong Bộ luật Hình sự các điều luật cụ thể về nội dung của vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Về thủ tục tố tụng phải tuân theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có thể áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết trong trường hợp Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của các đương sự khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, Tòa án không thể đồng thời áp dụng cả thủ tục tố tụng hình sự và thủ tục tố tụng dân sự để giải quyết một vụ án mà chỉ có thể áp dụng thủ tục tố tụng hình sự trên cơ sở kết hợp với những nguyên tắc và thủ tục của tố tụng dân sự để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án đó. Vì vậy, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ tuân theo thủ tục tố tụng hình sự trên cơ sở kết hợp với các nguyên tắc của tố tụng dân sự từ việc yêu cầu bồi thường, thỏa thuận đến việc từ chối nhận bồi thường.
Do tính đặc thù riêng nên vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết khi khởi tố vụ án hình sự mà không cần có đơn khởi kiện của đương sự. Khi vụ án hình sự có vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm bị khởi tố thì việc dân sự đó đương nhiên được xem xét và giải quyết mà không cần phải khởi kiện riêng bằng một thủ tục khác nữa. Theo thủ tục tố tụng dân sự thì vụ án dân sự chỉ được đặt ra và xem xét giải quyết khi có đơn khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện theo quy định tại các Điều 161, Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự, theo đó, cá nhân, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và Tòa án chỉ giải quyết khi có đơn khởi kiện dân sự. Trong vụ án hình sự, khi đã khởi tố vụ án mà có vấn đề dân sự liên quan đến việc thực hiện tội phạm thì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét giải quyết ngay mà không cần phải có thủ tục khởi kiện dân sự khác nữa. Như vậy, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ được xem xét và giải quyết ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự mà không cần phải có bất kể thủ tục nào khác nữa, kể cả thủ tục phải có yêu cầu khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, chủ thể tham gia vào việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo thủ tục tố tụng hình sự giữa một bên là người phải bồi thường dưới tư cách tố tụng là bị can, bị cáo hoặc bị đơn dân sự (có thể người đó là cha mẹ bị can, bị cáo hoặc người giám hộ của bị can bị cáo hoặc cơ quan tổ chức có trách nhiệm liên đới) với một bên là người được bồi thường với tư cách tố tụng là người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Còn chủ thể tham gia vào việc giải quyết dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự thì giữa một bên là người khởi kiện với tư cách là nguyên đơn dân sự với một bên là người bị khởi kiện với tư cách là bị đơn dân sự. Qua đó, có thể thấy trong thủ tục tố tụng hình sự thì tư cách tố tụng của bị đơn có thể đồng thời là bị can, bị cáo, còn trong tố tụng dân sự tư cách của bị đơn là người bị kiện về dân sự.
Việc đưa ra yêu cầu bồi thường được quy định tại các Điều 51,52,53,54 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì đây là quyền chứ không phải là nghĩa vụ, còn trong tố tụng dân sự thì việc đưa ra yêu cầu là điều kiện bắt buộc để làm phát sinh vấn đề dân sự.
Việc hòa giải thỏa thuận giữa người phạm tội với người bị thiệt hại: Trong pháp luật tố tụng hình sự không quy định thủ tục hòa giải thỏa thuận giữa các bên khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, tuy nhiên vấn đề này trong thực tiễn vẫn xảy ra và được cơ quan tiến hành tố tụng tôn trọng ở mọi giai đoạn tố tụng, còn trong pháp luật tố tụng dân sự thì vấn đề này là thủ tục bắt buộc và được quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Qua phân tích ở trên cho thấy việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ tuân theo thủ tục tố tụng hình sự, tuy nhiên, trong pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định một cách đầy đủ, cụ thể về trình tự thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nên đã gây khó khăn cho những người áp dụng pháp luật trong thực tiễn khi giải quyết vụ án. Đặc biệt là, trường hợp cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án để giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự do cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm hủy án phần dân sự, trả hồ sơ để xét xử lại phần dân sự trong vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm (phần trách nhiệm hình sự có hiệu lực pháp luật). Nhiều trường hợp phổ biến xảy ra là việc hủy án do cấp sơ thẩm không giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự (ví dụ: Xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc vi phạm quy định giao thông đường bộ) mà tách yêu cầu này thành vụ án dân sự khác khi đương sự có đơn yêu cầu. Một số vướng mắc sau trong quá trình thụ lý lại vụ án để giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự:
Thứ nhất, về thủ tục thụ lý vụ án
Theo điểm a khoản 3 mục III, Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự: “Khi nhận lại hồ sơ vụ án phải vào sổ thụ lý loại vụ án hình sự, phân công Thẩm phán chủ toạ phiên Tòa và chuẩn bị việc xét xử. Để bảo đảm cho việc xét xử phần dân sự đúng pháp luật, Tòa án có quyền tiến hành những việc cần thiết theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự để xác minh, thu thập chứng cứ và quyết định việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Như vậy, theo hướng dẫn trên thì việc thụ lý giải quyết lại phần dân sự trong vụ án hình sự được xem là vụ án hình sự và ngày thụ lý vụ án là ngày Tòa án cấp sơ thẩm nhận được hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, ngoài việc áp dụng thủ tục, trình tự tố tụng hình sự thì Tòa án có thể vận dụng một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án và điều này đã có việc hiểu và áp dụng không thống nhất một số vấn đề sau:
Một là, xác định quan hệ tranh chấp và tư cách đượng sự trong vụ án
- Quan điểm thứ nhất xác định đây vẫn là vụ án hình sự nên xác định tên gọi vụ án theo tội danh, điều luật của Bộ luật Hình sự. Ví dụ: Cố ý gây thương tích hoặc vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ… Điều này dẫn đến việc xác định tư cách đương sự vụ án theo vụ án hình sự đã xét xử trước đây do bị hủy phần dân sự. Việc xác định như trên là không chính xác vì phần hình sự đã có hiệu lực pháp luật nên không xét lại nữa nên quan hệ tranh chấp cần xác định là bồi thường ngoài hợp đồng. Theo đó, Tòa án có thẩm quyền áp dụng các quy định tại Chương XXI - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự để giải quyết. Về tư cách bị cáo cũng không còn vì theo điểm b khoản 3 mục III, Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 hướng dẫn: “…nếu bị đơn là người phạm tội thì họ đã bị kết án cho nên không thể buộc họ đứng trước vành móng ngựa một lần nữa (nơi chỉ dành cho bị cáo) và trong một số trường hợp bị đơn không phải là người phạm tội; do đó, để bảo đảm sự thống nhất trong các trường hợp và sự bình đẳng giữa các đương sự, mặc dù mở phiên toà xét xử vụ án hình sự, nhưng được tiến hành như phiên toà dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự”. Tùy theo vụ án mà tư cách này (người đã bị kết án) có thể xác định là bị đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Quan điểm thứ hai xác định quan hệ tranh chấp là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tùy từng trường hợp cụ thể mà xác định quan hệ tranh chấp theo quy định pháp luật cụ thể (ví dụ: Trường hợp phần dân sự trong vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thì xác định là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra). Do vậy, tư cách của người tham gia tố tụng được xác định theo quan hệ tranh chấp mới phù hợp.
Hai là, xác định thời hạn giải quyết vụ án
Do không thống nhất về quan hệ tranh chấp cũng như áp dụng luật hình thức (tố tụng) để giải quyết nên dẫn đến việc hiểu và xác định thời hạn giải quyết vụ án không giống nhau. Thời hạn này tính theo Điều 176 Bộ luật Tố tụng hình sự hay Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quan điểm của tác giả thì cần áp dụng thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án bởi các lý do sau: Vì phần trách nhiệm hình sự đã được giải quyết và có hiệu lực pháp luật, không giải quyết nữa nên quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự cần xác định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như đã phân tích nêu trên, do đó, việc áp dụng thời hạn giải quyết vụ án phải căn cứ vào quan hệ tranh chấp và pháp luật áp dụng. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án cần phải thu thập thêm chứng cứ, cho đương sự một khoảng thời gian hợp lý để có ý kiến cũng như cung cấp chứng cứ bổ sung… nên thời hạn giải quyết được xác định theo Bộ luật Tố tụng dân sự mới đảm bảo được thời gian thu thập, đánh giá chứng cứ, từ đó mới có đủ cơ sở để giải quyết vụ án một cách khách quan và toàn diện. Đồng thời, cách xác định này cũng phù hợp với nội dung hướng dẫn tại điểm a khoản 3 mục III Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003: “…Tòa án có quyền tiến hành những việc cần thiết theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự để xác minh, thu thập chứng cứ và quyết định việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời”.
Thứ hai, về phạm vi giải quyết
Đây là vấn đế khó khăn nhất hiện nay, bởi vì, mặc dù là vụ án hình sự, nhưng thủ tục giải quyết như vụ án dân sự, cho nên thủ tục giải quyết có sự khác biệt so với việc giải quyết vụ án dân sự. Theo thủ tục tố tụng dân sự thì vụ án dân sự chỉ được đặt ra và xem xét giải quyết khi có đơn khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện theo quy định tại các Điều 161, Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự, theo đó, cá nhân, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và toà án chỉ giải quyết khi có đơn khởi kiện dân sự. Đơn khởi kiện là căn cứ để Tòa án xác định yêu cầu cần giải quyết vụ án (phạm vi giải quyết). Do đó, đối với trường hợp này thì đương sự không phải làm đơn khởi kiện và tòa án phải vào sổ thụ lý khi nhận hồ sơ vụ án. Như vậy, để giải quyết yêu cầu dân sự phải căn cứ vào nội dung yêu cầu trong hồ sơ vụ án hình sự đã giải quyết. Tuy nhiên, trong nhiều vụ án hình sự đã giải quyết thì nội dung yêu cầu dân sự chưa rõ ràng hoặc chưa đầy đủ (ví dụ: Tại thời điểm xét xử vụ án hình sự thì bị hại đang điều trị thương tích, chưa thể cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh yêu cầu bồi thường). Đồng thời, nếu căn cứ vào yêu cầu ban đầu này cũng chưa chính xác vì theo pháp luật tố tụng dân sự thì nguyên đơn dân sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ yêu cầu. Để giải quyết thiếu sót này thì một số Tòa án có thể vận dụng biên pháp thu thập chứng cứ, yêu cầu nguyên đơn dân sự làm đơn yêu cầu hoặc trình bày ý kiến để Tòa án xác định yêu cầu cần giải quyết vụ án. Tuy nhiên, đây mới chỉ là cách vận dụng tương tự pháp luật (tố tụng dân sự) để giải quyết chứ chưa có quy định riêng để áp dụng thống nhất trong trường hợp này. Mặc khác, có nhiều đương sự (nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự) không hợp tác, không trình bày ý kiến, không có đơn yêu cầu và thậm chí không đến Tòa án thì việc giải quyết vụ án hết sức khó khăn. Trong trường hợp này, Tòa án có thẩm quyền có thể căn cứ vào yêu cầu dân sự có trong hồ sơ vụ án hình sự đã được giải quyết để làm căn cứ xác định phạm vi yêu cầu được không? Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án có thu thập chứng cứ theo Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự không và nếu đương sự không hợp tác, nại rằng cấp sơ thẩm đã xét xử sai, đã bị hủy nên không tin tưởng, không cung cấp chứng cứ thì giải quyết như thế nào? Vấn đề này cần có tổng kết và hướng dẫn thực hiện để giải quyết các vụ án hiện nay.
Thứ ba, về vấn đề hòa giải
Do vụ án vào sổ thụ lý loại vụ án hình sự, giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự nên thủ tục mở phiên hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc mà Tòa án phải thực hiện khi chuẩn bị xét xử phiên toà sơ thẩm vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng không bắt buộc phải tiến hành hòa giải giữa các đương sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tạo điều kiện cho các bên tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Trường hợp các đương sự tự nguyện thỏa thuận được với nhau thì Tòa án công nhận việc thoả thuận này của các đương sự và sự thoả thuận này được ghi vào phần quyết định của bản án chứ Tòa án không phải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Đây là điểm khác biệt lớn so với tố tụng dân sự, vì trong tố tụng dân sự Tòa án cấp sơ thẩm bắt buộc phải tiến hành mở các phiên hoà giải giữa các đương sự và việc hoà giải được tiến hành trước và tại phiên tòa. Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự.
Thứ tư, về thủ tục phiên tòa
Theo điểm b khoản 3 mục III, Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự: “… mặc dù mở phiên toà xét xử vụ án hình sự, nhưng được tiến hành như phiên tòa dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự”. Vấn đề đặt ra là sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát như thế nào? Kiểm sát viên tham gia phiên tòa chỉ phát biểu ý kiến về phần thủ tục tố tụng hay được phát biểu ý kiến về nội dung, hướng xử lý vụ án.
Ngoài các vấn đề đã phân tích và đánh giá, có thể xác định việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nói chung và Bộ luật Tố tụng hình sự nói riêng. Tuy nhiên, quy định pháp luật áp dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự là chưa đầy đủ. Đồng thời, Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1992 và năm 2003 đã hết hiệu lực thi hành. Hơn nữa, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016, cho nên cần có sự hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để việc áp dụng quy định này được thống nhất.

Phạm Đình Khương
Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Giải trừ trách nhiệm của công chức thuế, tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp

Luật số 56/2024/QH15 bổ sung quy định về trách nhiệm của công chức thuế theo hướng giải trừ trách nhiệm cho công chức thuế khi có gian lận trong kê khai, cung cấp thông tin tạo thuận lợi giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp chân chính.

Cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là địa phương luôn nỗ lực, tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính, với mục tiêu tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, trong đó phải kể đến lĩnh vực cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Điều này được thể hiện rõ nét qua sự quyết tâm, chủ động, sáng tạo trong triển khai, thực hiện các văn bản, quy định nhằm cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và những khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết bàn về những vấn đề cơ bản của quyền riêng tư và sự cần thiết phải bảo vệ quyền riêng tư; phân tích các vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân theo pháp luật quốc tế, từ đó đúc kết và đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: