Thứ hai 26/10/2026 03:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một trong những nguyên tắc quan trọng trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003; Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có ưu điểm là rút ngắn được tiến trình tố tụng, làm giảm chi phí về tiền bạc, công sức, thời gian của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như của các đương sự.

Phần dân sự trong vụ án hình sự thực chất là một vụ án dân sự khi được tách ra để giải quyết riêng, nhưng do tính chất đặc biệt bởi tính liên quan mật thiết giữa vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và khi giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự sẽ đáp ứng được tính chính xác, khách quan, toàn diện. Mặc khác, khi trách nhiệm dân sự được giải quyết sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại và cho cả bị can, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, quy định pháp luật áp dụng đối với vấn đề này chỉ mang tính nguyên tắc chung và được hướng dẫn tại Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự.

Theo hướng dẫn tại Công văn số 121/2003/KHXX thì phần dân sự trong vụ án hình sự được hiểu là những quan hệ về đòi tài sản; đòi bồi thường giá trị tài sản do bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị hủy hoại; yêu cầu sửa chữa tài sản bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Sở dĩ việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ được quy định mang tính nguyên tắc chung bởi lẽ về pháp luật nội dung áp dụng đã được quy định cụ thể tại chương XXI - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự. Do đó, không cần thiết phải quy định trong Bộ luật Hình sự các điều luật cụ thể về nội dung của vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Về thủ tục tố tụng phải tuân theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có thể áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết trong trường hợp Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định nhằm đảm bảo quyền bình đẳng của các đương sự khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, Tòa án không thể đồng thời áp dụng cả thủ tục tố tụng hình sự và thủ tục tố tụng dân sự để giải quyết một vụ án mà chỉ có thể áp dụng thủ tục tố tụng hình sự trên cơ sở kết hợp với những nguyên tắc và thủ tục của tố tụng dân sự để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án đó. Vì vậy, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ tuân theo thủ tục tố tụng hình sự trên cơ sở kết hợp với các nguyên tắc của tố tụng dân sự từ việc yêu cầu bồi thường, thỏa thuận đến việc từ chối nhận bồi thường.
Do tính đặc thù riêng nên vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết khi khởi tố vụ án hình sự mà không cần có đơn khởi kiện của đương sự. Khi vụ án hình sự có vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm bị khởi tố thì việc dân sự đó đương nhiên được xem xét và giải quyết mà không cần phải khởi kiện riêng bằng một thủ tục khác nữa. Theo thủ tục tố tụng dân sự thì vụ án dân sự chỉ được đặt ra và xem xét giải quyết khi có đơn khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện theo quy định tại các Điều 161, Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự, theo đó, cá nhân, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và Tòa án chỉ giải quyết khi có đơn khởi kiện dân sự. Trong vụ án hình sự, khi đã khởi tố vụ án mà có vấn đề dân sự liên quan đến việc thực hiện tội phạm thì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét giải quyết ngay mà không cần phải có thủ tục khởi kiện dân sự khác nữa. Như vậy, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ được xem xét và giải quyết ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự mà không cần phải có bất kể thủ tục nào khác nữa, kể cả thủ tục phải có yêu cầu khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, chủ thể tham gia vào việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo thủ tục tố tụng hình sự giữa một bên là người phải bồi thường dưới tư cách tố tụng là bị can, bị cáo hoặc bị đơn dân sự (có thể người đó là cha mẹ bị can, bị cáo hoặc người giám hộ của bị can bị cáo hoặc cơ quan tổ chức có trách nhiệm liên đới) với một bên là người được bồi thường với tư cách tố tụng là người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Còn chủ thể tham gia vào việc giải quyết dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự thì giữa một bên là người khởi kiện với tư cách là nguyên đơn dân sự với một bên là người bị khởi kiện với tư cách là bị đơn dân sự. Qua đó, có thể thấy trong thủ tục tố tụng hình sự thì tư cách tố tụng của bị đơn có thể đồng thời là bị can, bị cáo, còn trong tố tụng dân sự tư cách của bị đơn là người bị kiện về dân sự.
Việc đưa ra yêu cầu bồi thường được quy định tại các Điều 51,52,53,54 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì đây là quyền chứ không phải là nghĩa vụ, còn trong tố tụng dân sự thì việc đưa ra yêu cầu là điều kiện bắt buộc để làm phát sinh vấn đề dân sự.
Việc hòa giải thỏa thuận giữa người phạm tội với người bị thiệt hại: Trong pháp luật tố tụng hình sự không quy định thủ tục hòa giải thỏa thuận giữa các bên khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, tuy nhiên vấn đề này trong thực tiễn vẫn xảy ra và được cơ quan tiến hành tố tụng tôn trọng ở mọi giai đoạn tố tụng, còn trong pháp luật tố tụng dân sự thì vấn đề này là thủ tục bắt buộc và được quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Qua phân tích ở trên cho thấy việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ tuân theo thủ tục tố tụng hình sự, tuy nhiên, trong pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định một cách đầy đủ, cụ thể về trình tự thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nên đã gây khó khăn cho những người áp dụng pháp luật trong thực tiễn khi giải quyết vụ án. Đặc biệt là, trường hợp cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án để giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự do cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm hủy án phần dân sự, trả hồ sơ để xét xử lại phần dân sự trong vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm (phần trách nhiệm hình sự có hiệu lực pháp luật). Nhiều trường hợp phổ biến xảy ra là việc hủy án do cấp sơ thẩm không giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự (ví dụ: Xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc vi phạm quy định giao thông đường bộ) mà tách yêu cầu này thành vụ án dân sự khác khi đương sự có đơn yêu cầu. Một số vướng mắc sau trong quá trình thụ lý lại vụ án để giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự:
Thứ nhất, về thủ tục thụ lý vụ án
Theo điểm a khoản 3 mục III, Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự: “Khi nhận lại hồ sơ vụ án phải vào sổ thụ lý loại vụ án hình sự, phân công Thẩm phán chủ toạ phiên Tòa và chuẩn bị việc xét xử. Để bảo đảm cho việc xét xử phần dân sự đúng pháp luật, Tòa án có quyền tiến hành những việc cần thiết theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự để xác minh, thu thập chứng cứ và quyết định việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Như vậy, theo hướng dẫn trên thì việc thụ lý giải quyết lại phần dân sự trong vụ án hình sự được xem là vụ án hình sự và ngày thụ lý vụ án là ngày Tòa án cấp sơ thẩm nhận được hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, ngoài việc áp dụng thủ tục, trình tự tố tụng hình sự thì Tòa án có thể vận dụng một số quy định của pháp luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án và điều này đã có việc hiểu và áp dụng không thống nhất một số vấn đề sau:
Một là, xác định quan hệ tranh chấp và tư cách đượng sự trong vụ án
- Quan điểm thứ nhất xác định đây vẫn là vụ án hình sự nên xác định tên gọi vụ án theo tội danh, điều luật của Bộ luật Hình sự. Ví dụ: Cố ý gây thương tích hoặc vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ… Điều này dẫn đến việc xác định tư cách đương sự vụ án theo vụ án hình sự đã xét xử trước đây do bị hủy phần dân sự. Việc xác định như trên là không chính xác vì phần hình sự đã có hiệu lực pháp luật nên không xét lại nữa nên quan hệ tranh chấp cần xác định là bồi thường ngoài hợp đồng. Theo đó, Tòa án có thẩm quyền áp dụng các quy định tại Chương XXI - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự để giải quyết. Về tư cách bị cáo cũng không còn vì theo điểm b khoản 3 mục III, Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 hướng dẫn: “…nếu bị đơn là người phạm tội thì họ đã bị kết án cho nên không thể buộc họ đứng trước vành móng ngựa một lần nữa (nơi chỉ dành cho bị cáo) và trong một số trường hợp bị đơn không phải là người phạm tội; do đó, để bảo đảm sự thống nhất trong các trường hợp và sự bình đẳng giữa các đương sự, mặc dù mở phiên toà xét xử vụ án hình sự, nhưng được tiến hành như phiên toà dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự”. Tùy theo vụ án mà tư cách này (người đã bị kết án) có thể xác định là bị đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Quan điểm thứ hai xác định quan hệ tranh chấp là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tùy từng trường hợp cụ thể mà xác định quan hệ tranh chấp theo quy định pháp luật cụ thể (ví dụ: Trường hợp phần dân sự trong vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thì xác định là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra). Do vậy, tư cách của người tham gia tố tụng được xác định theo quan hệ tranh chấp mới phù hợp.
Hai là, xác định thời hạn giải quyết vụ án
Do không thống nhất về quan hệ tranh chấp cũng như áp dụng luật hình thức (tố tụng) để giải quyết nên dẫn đến việc hiểu và xác định thời hạn giải quyết vụ án không giống nhau. Thời hạn này tính theo Điều 176 Bộ luật Tố tụng hình sự hay Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quan điểm của tác giả thì cần áp dụng thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án bởi các lý do sau: Vì phần trách nhiệm hình sự đã được giải quyết và có hiệu lực pháp luật, không giải quyết nữa nên quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự cần xác định theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như đã phân tích nêu trên, do đó, việc áp dụng thời hạn giải quyết vụ án phải căn cứ vào quan hệ tranh chấp và pháp luật áp dụng. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án cần phải thu thập thêm chứng cứ, cho đương sự một khoảng thời gian hợp lý để có ý kiến cũng như cung cấp chứng cứ bổ sung… nên thời hạn giải quyết được xác định theo Bộ luật Tố tụng dân sự mới đảm bảo được thời gian thu thập, đánh giá chứng cứ, từ đó mới có đủ cơ sở để giải quyết vụ án một cách khách quan và toàn diện. Đồng thời, cách xác định này cũng phù hợp với nội dung hướng dẫn tại điểm a khoản 3 mục III Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003: “…Tòa án có quyền tiến hành những việc cần thiết theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự để xác minh, thu thập chứng cứ và quyết định việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời”.
Thứ hai, về phạm vi giải quyết
Đây là vấn đế khó khăn nhất hiện nay, bởi vì, mặc dù là vụ án hình sự, nhưng thủ tục giải quyết như vụ án dân sự, cho nên thủ tục giải quyết có sự khác biệt so với việc giải quyết vụ án dân sự. Theo thủ tục tố tụng dân sự thì vụ án dân sự chỉ được đặt ra và xem xét giải quyết khi có đơn khởi kiện của các chủ thể có quyền khởi kiện theo quy định tại các Điều 161, Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự, theo đó, cá nhân, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và toà án chỉ giải quyết khi có đơn khởi kiện dân sự. Đơn khởi kiện là căn cứ để Tòa án xác định yêu cầu cần giải quyết vụ án (phạm vi giải quyết). Do đó, đối với trường hợp này thì đương sự không phải làm đơn khởi kiện và tòa án phải vào sổ thụ lý khi nhận hồ sơ vụ án. Như vậy, để giải quyết yêu cầu dân sự phải căn cứ vào nội dung yêu cầu trong hồ sơ vụ án hình sự đã giải quyết. Tuy nhiên, trong nhiều vụ án hình sự đã giải quyết thì nội dung yêu cầu dân sự chưa rõ ràng hoặc chưa đầy đủ (ví dụ: Tại thời điểm xét xử vụ án hình sự thì bị hại đang điều trị thương tích, chưa thể cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh yêu cầu bồi thường). Đồng thời, nếu căn cứ vào yêu cầu ban đầu này cũng chưa chính xác vì theo pháp luật tố tụng dân sự thì nguyên đơn dân sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ yêu cầu. Để giải quyết thiếu sót này thì một số Tòa án có thể vận dụng biên pháp thu thập chứng cứ, yêu cầu nguyên đơn dân sự làm đơn yêu cầu hoặc trình bày ý kiến để Tòa án xác định yêu cầu cần giải quyết vụ án. Tuy nhiên, đây mới chỉ là cách vận dụng tương tự pháp luật (tố tụng dân sự) để giải quyết chứ chưa có quy định riêng để áp dụng thống nhất trong trường hợp này. Mặc khác, có nhiều đương sự (nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự) không hợp tác, không trình bày ý kiến, không có đơn yêu cầu và thậm chí không đến Tòa án thì việc giải quyết vụ án hết sức khó khăn. Trong trường hợp này, Tòa án có thẩm quyền có thể căn cứ vào yêu cầu dân sự có trong hồ sơ vụ án hình sự đã được giải quyết để làm căn cứ xác định phạm vi yêu cầu được không? Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án có thu thập chứng cứ theo Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự không và nếu đương sự không hợp tác, nại rằng cấp sơ thẩm đã xét xử sai, đã bị hủy nên không tin tưởng, không cung cấp chứng cứ thì giải quyết như thế nào? Vấn đề này cần có tổng kết và hướng dẫn thực hiện để giải quyết các vụ án hiện nay.
Thứ ba, về vấn đề hòa giải
Do vụ án vào sổ thụ lý loại vụ án hình sự, giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự nên thủ tục mở phiên hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc mà Tòa án phải thực hiện khi chuẩn bị xét xử phiên toà sơ thẩm vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng không bắt buộc phải tiến hành hòa giải giữa các đương sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tạo điều kiện cho các bên tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Trường hợp các đương sự tự nguyện thỏa thuận được với nhau thì Tòa án công nhận việc thoả thuận này của các đương sự và sự thoả thuận này được ghi vào phần quyết định của bản án chứ Tòa án không phải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Đây là điểm khác biệt lớn so với tố tụng dân sự, vì trong tố tụng dân sự Tòa án cấp sơ thẩm bắt buộc phải tiến hành mở các phiên hoà giải giữa các đương sự và việc hoà giải được tiến hành trước và tại phiên tòa. Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự.
Thứ tư, về thủ tục phiên tòa
Theo điểm b khoản 3 mục III, Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự: “… mặc dù mở phiên toà xét xử vụ án hình sự, nhưng được tiến hành như phiên tòa dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự”. Vấn đề đặt ra là sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát như thế nào? Kiểm sát viên tham gia phiên tòa chỉ phát biểu ý kiến về phần thủ tục tố tụng hay được phát biểu ý kiến về nội dung, hướng xử lý vụ án.
Ngoài các vấn đề đã phân tích và đánh giá, có thể xác định việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nói chung và Bộ luật Tố tụng hình sự nói riêng. Tuy nhiên, quy định pháp luật áp dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự là chưa đầy đủ. Đồng thời, Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1992 và năm 2003 đã hết hiệu lực thi hành. Hơn nữa, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016, cho nên cần có sự hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để việc áp dụng quy định này được thống nhất.

Phạm Đình Khương
Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Hoàn thiện pháp luật và đổi mới thể chế về kỳ thi quốc gia và Hội đồng tuyển chọn luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư là yêu cầu cấp thiết, nhất là ngay từ khâu kiểm soát đầu vào đóng vai trò then chốt. Bằng phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết và cơ sở khoa học, chỉ ra những bất cập của cơ chế kiểm tra tập sự phân mảnh hiện hành. Đồng thời, so sánh kinh nghiệm quốc tế tại các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật thành văn (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức) cho thấy, vai trò chủ trì của cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát tiêu chuẩn đầu vào phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể chế, mô hình thực hiện và định hướng vận hành nhằm bảo đảm tính khả thi, minh bạch và hiệu quả.
Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Kết quả tích cực trong triển khai Chương trình lập pháp

Báo cáo số 794/BC-BTP ngày 29/9/2026 của Bộ Tư pháp thể hiện rõ, trong Quý III/2026, Chương trình lập pháp năm 2026 cơ bản được triển khai đúng tiến độ, công tác xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đạt nhiều kết quả nổi bật, việc triển khai rà soát, cập nhật danh mục, xác định phương án và tổ chức xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027 cũng có sự chuyển biến tích cực.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính đồng bộ, thực chất, hiệu quả

Báo cáo số 796/BC-BTP ngày 30/9/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 9 và quý III năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026 cho thấy, thời gian qua, các nhiệm vụ cải cách TTHC thường xuyên, dài hạn tiếp tục được thực hiện đồng bộ, bài bản. Tuy nhiên, công tác này còn tồn tại những hạn chế nhất định, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy công tác cải cách TTHC đồng bộ, thực chất, hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp về phòng, chống rửa tiền

Ngày 28/9/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh ký Quyết định số 2146/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Tư pháp thực hiện các Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt giai đoạn 2026 - 2030 và thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam (Kế hoạch).
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).

Theo dõi chúng tôi trên: