Thứ hai 26/10/2026 21:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trong bài viết, tác giả phân tích quy định pháp luật về giải quyết đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền tại Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và đề xuất giải pháp bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan khi giải quyết quan hệ này trên thực tế.

1. Khái quát chung về đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền

Kết hôn không đúng thẩm quyền là việc đăng ký kết hôn không được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn. Đây là trường hợp hai bên nam, nữ đã đáp ứng đủ điều kiện kết hôn hoặc vẫn vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước không có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hộ tịch. Đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền có thể xảy ra trong các trường hợp: (i) Cả hai bên nam, nữ cùng cư trú tại một nơi nhưng lại đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân không phải tại nơi cư trú; (ii) Hai bên nam, nữ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân không phải nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ; (iii) Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã trong trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật Hộ tịch phải đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền có một số đặc điểm như sau:

Một là, chủ thể trong quan hệ đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền là hai bên nam và nữ, giữa hai bên có mối quan hệ tình cảm, mong muốn xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp thông qua việc thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Đây là điểm khác biệt giữa quan hệ chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ khi họ không được cấp giấy chứng nhận kết hôn - chứng thư pháp lý xác thực quan hệ vợ chồng.

Hai là, hai bên có thể vi phạm điều kiện kết hôn hoặc tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn. Việc tuân thủ hay vi phạm điều kiện kết hôn không phải là yếu tố nhận diện việc đăng ký kết hôn sai thẩm quyền, do đó, chỉ cần các bên đăng ký kết hôn tại cơ quan không có thẩm quyền giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn của họ thì được xác định là đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền.

2. Xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2.1. Quyền yêu cầu xử lý đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền

Về chủ thể có quyền yêu cầu xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mới chỉ có quy định về quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật tại Điều 10 mà không quy định quyền yêu cầu xử lý trường hợp kết hôn không đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP) cũng có đề cập: “Trường hợp việc kết hôn được đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền… mà có yêu cầu Tòa án giải quyết thì thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này”. Với quy định này, có thể hiểu, quyền yêu cầu giải quyết trường hợp đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền dành cho chính các đương sự trong quan hệ đó. Tuy nhiên, trên thực tế, bản thân người trong cuộc sẽ rất ít khi yêu cầu xử lý quan hệ của chính họ. Do đó, theo PGS.TS. Nguyễn Thị Lan thì “cần phải bổ sung quy định về quyền yêu cầu trong trường hợp này, có thể áp dụng tương tự quyền yêu cầu đối với hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và mở rộng thêm đối với chính chủ thể trong quan hệ đó thì sẽ bảo vệ tối đa hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể”[1]. Quan điểm như vậy là phù hợp, bởi lẽ, các trường hợp đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền có cả trường hợp các bên vi phạm điều kiện kết hôn - vi phạm pháp luật, do đó, việc mở rộng phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý là hoàn toàn đúng đắn, góp phần bảo đảm việc tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh.

2.2. Cách thức xử lý đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền

Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước”. Theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện thủ tục xử lý như sau:

2.2.1. Thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật hộ tịch

Khác với hủy kết hôn trái pháp luật, cơ quan có thẩm quyền xử lý không phải là Tòa án nhân dân. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn sẽ thu hồi, hủy giấy chứng nhận kết hôn cấp không đúng thẩm quyền theo Điều 69, Điều 70 Luật Hộ tịch năm 2014.

Có thể thấy, thay vì để chính cơ quan đã cấp giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền tự thu hồi và hủy bỏ thì theo quy định của pháp luật, chỉ cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn cấp trên mới có quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận không đúng thẩm quyền của cơ quan cấp dưới.

Tuy vậy, khoản 3 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP lại đưa ra hướng dẫn với nội dung: “Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ đồng thời hủy giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định tại Điều 13 của Luật hôn nhân và gia đình. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ đối với con; tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình”.

Với hướng dẫn trên thì Tòa án cũng đồng thời có thẩm quyền hủy giấy chứng nhận kết hôn, sau đó, thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn (tức là Ủy ban nhân dân nơi tiến hành đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền) để tiến hành xử lý theo quy định tại Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều này dẫn đến sự mâu thuẫn trong việc xác định thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn khi ở hai văn bản, hai cơ quan là Ủy ban nhân dâp cấp trên trực tiếp và Tòa án nhân dân đều có quyền này. Điều này là chưa phù hợp bởi Luật Hộ tịch là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn thông tư liên tịch theo quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Mặt khác, việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, theo đó, trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Do vậy, cần quy định thống nhất theo hướng, khi có yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ, đồng thời, hướng dẫn hai bên nam, nữ đến Ủy ban nhân dân có thẩm quyền để đăng ký kết hôn lại và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định tại Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.2.2. Yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Sau khi thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền thì phải yêu cầu hai bên đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kết hôn lại là điều cần thiết. Khi đăng ký kết hôn lại thì quan hệ hôn nhân này vẫn được tính kể từ ngày đăng ký kết hôn trước. Về bản chất, việc thu hồi, hủy giấy chứng nhận kết hôn sai thẩm quyền là để cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận kết hôn đúng thẩm quyền việc kết hôn này có hiệu lực pháp lý, còn nội dung về thông tin người chồng, thông tin người vợ, ngày đăng ký vẫn được giữ nguyên. Quy định này của pháp luật là để bảo vệ quyền lợi và một số vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân không bị ảnh hưởng.

Cách giải quyết như trên cho thấy có sự thay đổi so với quy định trước đây về giải quyết vấn đề này, khi tuyên bố họ không phải là vợ chồng trước pháp luật[2]. Hiện nay, các nhà làm luật trên quan điểm cho rằng, việc kết hôn này có lỗi của cơ quan nhà nước, do đó, sau khi bị thu hồi giấy chứng nhận kết hôn, nếu các đương sự đăng ký kết hôn lại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì quan hệ hôn nhân của họ được thừa nhận tại thời điểm đăng ký kết hôn trước. Có thể nhận thấy, nội dung của Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP đã thể hiện sự linh hoạt trong đường lối xử lý đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền. Mặc dù vậy, vẫn có một số vấn đề phát sinh trên thực tế như sau:

Thứ nhất, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như văn bản hướng dẫn thi hành mới chỉ dừng lại ở quy định “yêu cầu” hai bên kết hôn sai thẩm quyền tiến hành đăng ký kết hôn lại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuy nhiên lại không ấn định rõ thời hạn mà các bên phải hoàn thành quy định về mặt hình thức này.

Thứ hai, có thể tại thời điểm đăng ký kết hôn, các bên đã vi phạm điều kiện kết hôn, sau khi bị thu hồi giấy chứng nhận kết hôn, họ đăng ký kết hôn lại và quan hệ hôn nhân được tính từ ngày đăng ký kết hôn trước, nghĩa là thừa nhận cả khoảng thời gian họ đang vi phạm điều kiện kết hôn, như vậy là chưa phù hợp. Do đó, kiến nghị của PGS. TS. Nguyễn Thị Lan theo tác giả là phù hợp theo hướng quan hệ hôn nhân của họ được tính kể từ thời điểm đăng ký kết hôn trước nếu họ không vi phạm điều kiện kết hôn. Nếu tại thời điểm thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn và sau đó, kết hôn lại với nhau thì thời điểm xác định quan hệ hôn nhân phải tính từ thời điểm đăng ký kết hôn lại, như một quan hệ hôn nhân mới được xác lập[3].

Vậy, nếu hai bên không đăng ký kết hôn lại hoặc một trong hai bên lại yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn với người khác thì giải quyết như thế nào? Nếu xét trên phương diện pháp luật, việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đồng nghĩa với việc quan hệ hôn nhân giữa các bên đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền cũng bị hủy, không phát sinh hiệu lực từ thời điểm kết hôn, do đó, giữa họ không phát sinh quan hệ vợ chồng. Chỉ trong trường hợp hai bên tiến hành đăng ký kết hôn lại như phân tích ở trên thì quan hệ hôn nhân mới được tính từ ngày đăng ký kết hôn trước. Trong khi đó, việc đăng ký kết hôn - xác lập quan hệ hôn nhân phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của hai bên nam, nữ. Do vậy, có thể dẫn đến tình trạng một bên không muốn đăng ký kết hôn lại do cân nhắc về lợi ích hoặc đã chung sống như vợ chồng với người khác hoặc một trong hai bên yêu cầu đăng ký kết hôn với người khác thì nếu đủ điều kiện kết hôn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành đăng ký và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho họ. Lúc này, quan hệ giữa hai bên đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền được xử lý tương tự như trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn tại Điều 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghĩa là quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Mặc dù, khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định “việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”, tuy nhiên, như vậy là chưa đủ để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi chấm dứt quan hệ này. Vì vậy, tác giả không đồng tình với cách xử lý trên, bởi lẽ, xét trong trường hợp hai bên đã bảo đảm đủ điều kiện kết hôn, chỉ vì đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền - vốn không phải lỗi của họ, tuy nhiên lại đẩy hoàn toàn hậu quả pháp lý bất lợi cho một bên gánh chịu, như vậy là chưa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đặc biệt là phụ nữ và con - những đối tượng yếu thế trong quan hệ này. Do đó, cần phải bổ sung quy định về thời hạn cụ thể mà hai bên có nghĩa vụ đăng ký kết hôn lại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu như các bên không đăng ký kết hôn lại, mà không vi phạm các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì khi giải quyết quan hệ tài sản giữa các bên cần xử lý theo hướng thừa nhận quan hệ hôn nhân trong khoảng thời gian mà họ đăng ký kết hôn sai thẩm quyền, do đó, giải quyết quan hệ tài sản như khi vợ chồng ly hôn để bảo đảm sự công bằng./.

Nông Thị Thoa

Khoa Pháp luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. PGS. TS. Nguyễn Thị Lan, “Về giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật, kết hôn không đúng thẩm quyền và nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7 (tháng 4/2019), tr. 2.

[2]. Điểm c Mục 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[3]. PGS. TS. Nguyễn Thị Lan, tlđd, tr. 2.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: