Thứ hai 31/08/2026 21:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trong bài viết, tác giả phân tích quy định pháp luật về giải quyết đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền tại Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và đề xuất giải pháp bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan khi giải quyết quan hệ này trên thực tế.

1. Khái quát chung về đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền

Kết hôn không đúng thẩm quyền là việc đăng ký kết hôn không được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn. Đây là trường hợp hai bên nam, nữ đã đáp ứng đủ điều kiện kết hôn hoặc vẫn vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước không có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hộ tịch. Đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền có thể xảy ra trong các trường hợp: (i) Cả hai bên nam, nữ cùng cư trú tại một nơi nhưng lại đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân không phải tại nơi cư trú; (ii) Hai bên nam, nữ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân không phải nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ; (iii) Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã trong trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật Hộ tịch phải đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền có một số đặc điểm như sau:

Một là, chủ thể trong quan hệ đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền là hai bên nam và nữ, giữa hai bên có mối quan hệ tình cảm, mong muốn xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp thông qua việc thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Đây là điểm khác biệt giữa quan hệ chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ khi họ không được cấp giấy chứng nhận kết hôn - chứng thư pháp lý xác thực quan hệ vợ chồng.

Hai là, hai bên có thể vi phạm điều kiện kết hôn hoặc tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn. Việc tuân thủ hay vi phạm điều kiện kết hôn không phải là yếu tố nhận diện việc đăng ký kết hôn sai thẩm quyền, do đó, chỉ cần các bên đăng ký kết hôn tại cơ quan không có thẩm quyền giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn của họ thì được xác định là đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền.

2. Xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2.1. Quyền yêu cầu xử lý đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền

Về chủ thể có quyền yêu cầu xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mới chỉ có quy định về quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật tại Điều 10 mà không quy định quyền yêu cầu xử lý trường hợp kết hôn không đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP) cũng có đề cập: “Trường hợp việc kết hôn được đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền… mà có yêu cầu Tòa án giải quyết thì thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này”. Với quy định này, có thể hiểu, quyền yêu cầu giải quyết trường hợp đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền dành cho chính các đương sự trong quan hệ đó. Tuy nhiên, trên thực tế, bản thân người trong cuộc sẽ rất ít khi yêu cầu xử lý quan hệ của chính họ. Do đó, theo PGS.TS. Nguyễn Thị Lan thì “cần phải bổ sung quy định về quyền yêu cầu trong trường hợp này, có thể áp dụng tương tự quyền yêu cầu đối với hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và mở rộng thêm đối với chính chủ thể trong quan hệ đó thì sẽ bảo vệ tối đa hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể”[1]. Quan điểm như vậy là phù hợp, bởi lẽ, các trường hợp đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền có cả trường hợp các bên vi phạm điều kiện kết hôn - vi phạm pháp luật, do đó, việc mở rộng phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý là hoàn toàn đúng đắn, góp phần bảo đảm việc tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh.

2.2. Cách thức xử lý đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền

Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước”. Theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện thủ tục xử lý như sau:

2.2.1. Thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật hộ tịch

Khác với hủy kết hôn trái pháp luật, cơ quan có thẩm quyền xử lý không phải là Tòa án nhân dân. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn sẽ thu hồi, hủy giấy chứng nhận kết hôn cấp không đúng thẩm quyền theo Điều 69, Điều 70 Luật Hộ tịch năm 2014.

Có thể thấy, thay vì để chính cơ quan đã cấp giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền tự thu hồi và hủy bỏ thì theo quy định của pháp luật, chỉ cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn cấp trên mới có quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận không đúng thẩm quyền của cơ quan cấp dưới.

Tuy vậy, khoản 3 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP lại đưa ra hướng dẫn với nội dung: “Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ đồng thời hủy giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định tại Điều 13 của Luật hôn nhân và gia đình. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ đối với con; tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình”.

Với hướng dẫn trên thì Tòa án cũng đồng thời có thẩm quyền hủy giấy chứng nhận kết hôn, sau đó, thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn (tức là Ủy ban nhân dân nơi tiến hành đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền) để tiến hành xử lý theo quy định tại Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều này dẫn đến sự mâu thuẫn trong việc xác định thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn khi ở hai văn bản, hai cơ quan là Ủy ban nhân dâp cấp trên trực tiếp và Tòa án nhân dân đều có quyền này. Điều này là chưa phù hợp bởi Luật Hộ tịch là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn thông tư liên tịch theo quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Mặt khác, việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, theo đó, trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Do vậy, cần quy định thống nhất theo hướng, khi có yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ, đồng thời, hướng dẫn hai bên nam, nữ đến Ủy ban nhân dân có thẩm quyền để đăng ký kết hôn lại và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định tại Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.2.2. Yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Sau khi thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn không đúng thẩm quyền thì phải yêu cầu hai bên đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kết hôn lại là điều cần thiết. Khi đăng ký kết hôn lại thì quan hệ hôn nhân này vẫn được tính kể từ ngày đăng ký kết hôn trước. Về bản chất, việc thu hồi, hủy giấy chứng nhận kết hôn sai thẩm quyền là để cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận kết hôn đúng thẩm quyền việc kết hôn này có hiệu lực pháp lý, còn nội dung về thông tin người chồng, thông tin người vợ, ngày đăng ký vẫn được giữ nguyên. Quy định này của pháp luật là để bảo vệ quyền lợi và một số vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân không bị ảnh hưởng.

Cách giải quyết như trên cho thấy có sự thay đổi so với quy định trước đây về giải quyết vấn đề này, khi tuyên bố họ không phải là vợ chồng trước pháp luật[2]. Hiện nay, các nhà làm luật trên quan điểm cho rằng, việc kết hôn này có lỗi của cơ quan nhà nước, do đó, sau khi bị thu hồi giấy chứng nhận kết hôn, nếu các đương sự đăng ký kết hôn lại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì quan hệ hôn nhân của họ được thừa nhận tại thời điểm đăng ký kết hôn trước. Có thể nhận thấy, nội dung của Điều 13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP đã thể hiện sự linh hoạt trong đường lối xử lý đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền. Mặc dù vậy, vẫn có một số vấn đề phát sinh trên thực tế như sau:

Thứ nhất, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như văn bản hướng dẫn thi hành mới chỉ dừng lại ở quy định “yêu cầu” hai bên kết hôn sai thẩm quyền tiến hành đăng ký kết hôn lại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuy nhiên lại không ấn định rõ thời hạn mà các bên phải hoàn thành quy định về mặt hình thức này.

Thứ hai, có thể tại thời điểm đăng ký kết hôn, các bên đã vi phạm điều kiện kết hôn, sau khi bị thu hồi giấy chứng nhận kết hôn, họ đăng ký kết hôn lại và quan hệ hôn nhân được tính từ ngày đăng ký kết hôn trước, nghĩa là thừa nhận cả khoảng thời gian họ đang vi phạm điều kiện kết hôn, như vậy là chưa phù hợp. Do đó, kiến nghị của PGS. TS. Nguyễn Thị Lan theo tác giả là phù hợp theo hướng quan hệ hôn nhân của họ được tính kể từ thời điểm đăng ký kết hôn trước nếu họ không vi phạm điều kiện kết hôn. Nếu tại thời điểm thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn và sau đó, kết hôn lại với nhau thì thời điểm xác định quan hệ hôn nhân phải tính từ thời điểm đăng ký kết hôn lại, như một quan hệ hôn nhân mới được xác lập[3].

Vậy, nếu hai bên không đăng ký kết hôn lại hoặc một trong hai bên lại yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn với người khác thì giải quyết như thế nào? Nếu xét trên phương diện pháp luật, việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đồng nghĩa với việc quan hệ hôn nhân giữa các bên đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền cũng bị hủy, không phát sinh hiệu lực từ thời điểm kết hôn, do đó, giữa họ không phát sinh quan hệ vợ chồng. Chỉ trong trường hợp hai bên tiến hành đăng ký kết hôn lại như phân tích ở trên thì quan hệ hôn nhân mới được tính từ ngày đăng ký kết hôn trước. Trong khi đó, việc đăng ký kết hôn - xác lập quan hệ hôn nhân phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của hai bên nam, nữ. Do vậy, có thể dẫn đến tình trạng một bên không muốn đăng ký kết hôn lại do cân nhắc về lợi ích hoặc đã chung sống như vợ chồng với người khác hoặc một trong hai bên yêu cầu đăng ký kết hôn với người khác thì nếu đủ điều kiện kết hôn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành đăng ký và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho họ. Lúc này, quan hệ giữa hai bên đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền được xử lý tương tự như trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn tại Điều 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghĩa là quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Mặc dù, khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định “việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”, tuy nhiên, như vậy là chưa đủ để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi chấm dứt quan hệ này. Vì vậy, tác giả không đồng tình với cách xử lý trên, bởi lẽ, xét trong trường hợp hai bên đã bảo đảm đủ điều kiện kết hôn, chỉ vì đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền - vốn không phải lỗi của họ, tuy nhiên lại đẩy hoàn toàn hậu quả pháp lý bất lợi cho một bên gánh chịu, như vậy là chưa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đặc biệt là phụ nữ và con - những đối tượng yếu thế trong quan hệ này. Do đó, cần phải bổ sung quy định về thời hạn cụ thể mà hai bên có nghĩa vụ đăng ký kết hôn lại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu như các bên không đăng ký kết hôn lại, mà không vi phạm các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì khi giải quyết quan hệ tài sản giữa các bên cần xử lý theo hướng thừa nhận quan hệ hôn nhân trong khoảng thời gian mà họ đăng ký kết hôn sai thẩm quyền, do đó, giải quyết quan hệ tài sản như khi vợ chồng ly hôn để bảo đảm sự công bằng./.

Nông Thị Thoa

Khoa Pháp luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. PGS. TS. Nguyễn Thị Lan, “Về giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật, kết hôn không đúng thẩm quyền và nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7 (tháng 4/2019), tr. 2.

[2]. Điểm c Mục 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[3]. PGS. TS. Nguyễn Thị Lan, tlđd, tr. 2.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: