Thứ tư 11/03/2026 06:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết yêu cầu cấp giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam và giấy xác nhận là người gốc Việt Nam

Cấp giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam (GXNQT) và giấy xác nhận là người gốc Việt Nam (GXNGV) hiện được quy định tại Nghị định số 16/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam (Nghị định số 16/2020/NĐ-CP). Trước khi Nghị định số 16/2020/NĐ-CP được ban hành thì hai thủ tục này được quy định tại Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA ngày 01/3/2010 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam (Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA) và Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BTP-BNG-BCA ngày 31/01/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an sửa đổi, bổ sung Điều 13 Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT/BTP-BNG-BCA.

Bên cạnh các thủ tục nhập, trở lại, thôi, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam trước đây đã được quy định trong Luật Quốc tịch Việt Nam và Nghị định thì việc đưa các quy định cấp GXNQT và GXNGV từ thông tư lên nghị định đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong công tác quản lý về quốc tịch nói chung và công tác quản lý về việc cấp các loại giấy này nói riêng.

1. Những thuận lợi trong việc giải quyết yêu cầu xin cấp giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận là người gốc Việt Nam

1.1. Quy định rõ về thẩm quyền

Điều 30, Điều 32 Nghị định số 16/2020/NĐ-CP quy định cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và cấp hai loại giấy này là Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện, nơi người có yêu cầu cấp GXNQT và GXNGV đang cư trú vào thời điểm nộp hồ sơ. Riêng đối với thủ tục cấp GXNGV thì người yêu cầu còn có thể nộp hồ sơ tại Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Bộ Ngoại giao. Như vậy, có thể thấy, người có nhu cầu cấp các giấy tờ trên hiện đang cư trú tại bất kỳ đâu trong nước hay nước ngoài đều có thể đến cơ quan có thẩm quyền tại nơi đang cư trú để nộp hồ sơ.

1.2. Quy định cụ thể, rõ ràng về trình tự, thủ tục

- Đối với thủ tục cấp GXNQT

Theo Nghị định số 16/2020/NĐ-CP, người có nhu cầu cấp GXNQT ngoài các giấy tờ phải nộp theo mẫu (ảnh, tờ khai, giấy tờ chứng minh nhân thân) thì một trong các giấy tờ quan trọng phải có là giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, cụ thể là các giấy tờ sau: (i) Giấy tờ theo quy định tại Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Quốc tịch Việt Nam). Ngoài ra, theo quy định của Luật Căn cước công dân năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2016) thì thẻ căn cước công dân được sử dụng thay chứng minh nhân dân. Do đó, thẻ căn cước công dân cũng có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam. (ii) Giấy tờ tương tự do chính quyền cũ trước đây cấp, kể cả giấy khai sinh trong đó không có mục quốc tịch hoặc mục quốc tịch bỏ trống nhưng trên đó ghi họ tên Việt Nam của người yêu cầu và cha, mẹ của người đó.

Tuy nhiên, trên thực tế, không phải trường hợp nào cũng có đủ một trong các giấy tờ trên để chứng minh quốc tịch Việt Nam. Do đó, để tạo điều kiện cho công dân Việt Nam có thể được cấp GXNQT, Nghị định số 16/2020/NĐ-CP còn có quy định mở đó là: Trong trường hợp không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam như trên, người yêu cầu phải lập bản khai lý lịch, kèm theo một trong các giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định này để làm cơ sở xác minh quốc tịch Việt Nam.

Trên cơ sở hồ sơ của người có yêu cầu cấp GXNQT, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh, tra cứu quốc tịch Việt Nam theo các bước quy định tại khoản 2 Điều 31 Nghị định số 16/2020/NĐ-CP.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả tra cứu, xác minh theo quy định, nếu có đủ căn cứ để xác định quốc tịch Việt Nam và người đó không có tên trong danh sách được thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cơ quan thụ lý hồ sơ ghi vào sổ cấp GXNQT; người đứng đầu cơ quan ký và cấp GXNQT theo mẫu quy định cho người yêu cầu. Nếu không có cơ sở để cấp GXNQT, cơ quan thụ lý hồ sơ trả lời bằng văn bản cho người yêu cầu biết.

- Đối với thủ tục cấp GXNGV

So với thủ tục cấp GXNQT thì hồ sơ, trình tự, thủ tục giải quyết cấp GXNGV được quy định đơn giản hơn, cụ thể:

Ngoài các giấy tờ phải nộp theo mẫu (ảnh, tờ khai, giấy tờ chứng minh nhân thân) thì người yêu cầu cấp GXNGV phải có một trong các giấy tờ như giấy tờ được cấp trước đây để chứng minh người đó đã từng có quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ để chứng minh khi sinh ra người đó có cha mẹ hoặc ông bà nội, ông bà ngoại đã từng có quốc tịch Việt Nam.

Trường hợp không có bất kỳ giấy tờ nào nêu trên thì tùy từng hoàn cảnh cụ thể, có thể nộp bản sao giấy tờ về nhân thân, quốc tịch, hộ tịch do chế độ cũ ở miền Nam cấp trước ngày 30/4/1975; giấy tờ do chính quyền cũ ở Hà Nội cấp từ năm 1911 đến năm 1956; giấy bảo lãnh của Hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài nơi người đó đang cư trú, trong đó xác nhận người đó có gốc Việt Nam; giấy bảo lãnh của người có quốc tịch Việt Nam, trong đó xác nhận người đó có gốc Việt Nam; giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp trong đó ghi quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch gốc Việt Nam.

Về thủ tục giải quyết: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, cơ quan thụ lý hồ sơ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra thông tin trong hồ sơ với giấy tờ do người yêu cầu xuất trình và đối chiếu với cơ sở dữ liệu, tài liệu liên quan đến quốc tịch. Nếu thấy có đủ cơ sở để xác định người đó có nguồn gốc Việt Nam, cơ quan thụ lý hồ sơ ghi vào sổ cấp giấy xác nhận là người gốc Việt Nam; người đứng đầu cơ quan ký và cấp giấy xác nhận là người gốc Việt Nam theo mẫu quy định cho người yêu cầu. Nếu không có cơ sở để cấp giấy xác nhận là người gốc Việt Nam, cơ quan thụ lý hồ sơ thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết.

Như vậy, có thể thấy, hiện nay, các quy định về cấp GXNQT và cấp GXNGV được quy định cụ thể, rõ ràng hơn về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết, tạo thuận lợi cho công dân khi làm các thủ tục xin cấp các loại giấy này, đồng thời cũng tạo điều kiện để các cơ quan có thẩm quyền thực hiện tốt hơn trách nhiệm của mình trong giải quyết và quản lý việc cấp các loại giấy tờ trên.

2. Những hạn chế, bất cập trong giải quyết yêu cầu xin cấp giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam và giấy xác nhận là người gốc Việt Nam

Thứ nhất, về thẩm quyền giải quyết việc cấp GXNQT và cấp GXNGV, theo quy định tại Điều 1 Luật Cư trú năm 2006 thì cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú; theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú năm 2006, nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc tạm trú. Như vậy, đối với những trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam trong một thời gian nhất định và không có đăng ký tạm trú (chỉ lưu trú) muốn cấp các giấy tờ trên thì Sở Tư pháp nơi người đó lưu trú không có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ mà hướng dẫn người dân nộp hồ sơ cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nơi người đó cư trú. Theo phản ánh của nhiều địa phương, trong thời gian qua, có nhiều trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam lưu trú trong một thời gian dài (không đăng ký tạm trú) muốn nộp hồ sơ xin cấp GXNQT/GXNGV tại Sở Tư pháp nơi đang lưu trú (vì nhiều lý do khách quan không thể quay về nước sở tại để nộp hồ sơ) nhưng Sở Tư pháp không thể tiếp nhận vì không đúng thẩm quyền theo nơi cư trú. Việc này dẫn đến những bất cập, nhất là đối với những người lớn tuổi, về Việt Nam lưu trú đã lâu, các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam không có, giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đã hết hạn, sức khỏe yếu không thể trở về nước sở tại... dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích của công dân.

Hiện nay, mặc dù Luật Cư trú năm 2020 và nghị định quy định chi tiết đã có hiệu lực thi hành thay thế các quy định trước đây, nhưng bất cập này có được giải quyết hay không thì vẫn cần phải chờ thực tiễn thực thi trong thời gian tới.

Thứ hai, giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam theo Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam là căn cứ để cấp GXNQT. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn có một số bất cập như: Quy định trường hợp giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ, nhưng trên thực tế, hầu hết những trường hợp đăng ký khai sinh trước năm 1975 trên giấy khai sinh không có mục ghi quốc tịch nên việc yêu cầu xuất trình thêm giấy tờ của cha mẹ đã gây khó khăn cho người dân vì có nhiều trường hợp người lớn tuổi, cha mẹ đã chết từ lâu nhưng không có đăng ký khai tử hoặc không có giấy tờ tùy thân của cha mẹ. Đồng thời, gây khó khăn trong việc xác định một người có quốc tịch Việt Nam hay không. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ có hộ chiếu nước ngoài và không có giấy tờ gì chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam, nhưng họ có giấy xác nhận tàng thư hộ khẩu của cơ quan công an là trước khi xuất cảnh họ có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương, đây cũng có thể coi là giấy tờ có giá trị chứng minh quốc tịch Việt Nam, tuy nhiên, Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam không có quy định về loại giấy tờ này.

Thứ ba, về tra cứu quốc tịch Việt Nam, theo quy định thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Sở Tư pháp hoặc cơ quan đại diện phải kiểm tra, tra cứu hoặc có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp tra cứu quốc tịch Việt Nam để biết người đó đã có tên trong danh sách được thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam hay chưa. Thực tế hiện nay, Bộ Tư pháp vẫn chưa hoàn thiện xong Cơ sở dữ liệu về quốc tịch để có thể chia sẻ cho tất cả các địa phương, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để có thể sử dụng và tự tra cứu. Do đó, hầu hết hồ sơ của các trường hợp có yêu cầu cấp GXNQT đều được gửi về Bộ Tư pháp để thực hiện việc tra cứu, điều đó một phần dẫn đến quá tải trong việc tra cứu và có văn bản trả lời (hiện tại trung bình mỗi tháng Bộ Tư pháp tiếp nhận đề nghị tra cứu khoảng 200 trường hợp), đồng thời, khó bảo đảm đúng thời hạn quy định của pháp luật.

Thứ tư, về khái niệm gốc Việt Nam, theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam thì “người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Như vậy, theo quy định này, để xác định một người có phải “gốc” Việt Nam hay không cần căn cứ trên các yếu tố: Đã từng có quốc tịch Việt Nam cộng thêm quốc tịch Việt Nam mà họ có phải được xác định trên nguyên tắc huyết thống (có quốc tịch từ cha mẹ, không phải do được nhập) và con cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài cũng được xác định là có gốc Việt Nam. Tuy nhiên, thực hiện quy định này, hiện nay đang có luồng ý kiến khác nhau liên quan đến khái niệm “huyết thống”. Có ý kiến cho rằng, cha mẹ có quốc tịch Việt Nam (không quan tâm đến lý do có quốc tịch Việt Nam của cha mẹ là gì), con của họ có quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ thì việc người con của họ có quốc tịch được coi là “huyết thống” và là người gốc Việt Nam. Ý kiến khác cho rằng, “huyết thống” phải được xác định là người có dòng máu Việt Nam (gốc gác tổ tiên lâu đời). Do có quan điểm khác nhau, nên việc triển khai trên thực tế còn gặp khó khăn.

Thứ năm, trong hồ sơ thủ tục cấp GXNGV có quy định “trường hợp không có bất kỳ giấy tờ nào nêu trên thì tùy từng hoàn cảnh cụ thể, có thể nộp giấy bảo lãnh của Hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài nơi người đó đang cư trú, trong đó xác nhận người đó có gốc Việt Nam; giấy bảo lãnh của người có quốc tịch Việt Nam, trong đó xác nhận người đó có gốc Việt Nam”. Tuy nhiên, trên thực tế thì hiện nay chưa có quy định về mẫu giấy bảo lãnh và giấy bảo lãnh đó có cần phải chứng thực chữ ký của người cam kết, bảo lãnh hay không, nên mỗi địa phương có cách hướng dẫn khác nhau khi công dân nộp loại giấy tờ này.

Có thể thấy rằng, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2020/NĐ-CP là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết thuận lợi, thỏa đáng các yêu cầu về quốc tịch của người dân. Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật để đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu cải cách hành chính là rất cần thiết.

ThS. Hán Thị Vân Khánh
Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: