Thứ ba 03/03/2026 16:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là vấn đề được quan tâm không chỉ ở tầm quốc gia mà còn ở tầm quốc tế bởi tính đặc thù của nó đối với chính quá trình giải quyết nuôi con nuôi

Hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là vấn đề được quan tâm không chỉ ở tầm quốc gia mà còn ở tầm quốc tế bởi tính đặc thù của nó đối với chính quá trình giải quyết nuôi con nuôi. Nếu việc hỗ trợ tài chính này được thực hiện đúng mục đích, theo quy định pháp luật thì sẽ góp phần vào việc chăm sóc và bảo vệ cũng như tìm được mái ấm gia đình thay thế cho trẻ em. Ngược lại, nếu thực hiện sai mục đích và trái quy định thì điều này sẽ làm phát sinh một số hệ quả không mong muốn, trong đó có việc mua bán trẻ em, qua đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, đặc biệt là quyền được sống trong môi trường gia đình, cũng như làm xói mòn tính nhân văn, nhân đạo của công tác giải quyết nuôi con nuôi. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung đánh giá thực trạng hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm bảo đảm việc hỗ trợ tài chính được thực hiện đúng mục đích, vì lợi ích tốt nhất của trẻ và đồng thời, phòng, chống các hành vi tiêu cực có thể xảy ra.

1. Thực trạng hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Kể từ khi thực hiện Luật Nuôi con nuôi[1] cho đến nay, sau khi hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi tại Việt Nam, cha mẹ nuôi nước ngoài thường tự mình hoặc thông qua tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam hỗ trợ tài chính dưới hình thức các khoản tặng cho, hỗ trợ cơ sở trợ giúp xã hội (TGXH) của con nuôi. Đây là các khoản hỗ trợ tự nguyện, không cố định với nhiều mức độ khác nhau, phát sinh nhiều lần trong năm đối với cơ sở TGXH. Các khoản hỗ này đã góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, điều kiện sống, nhu cầu khám chữa bệnh… của trẻ em ở các cơ sở TGXH, khi mà ngân sách nhà nước chưa đủ để đáp ứng nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng thực tế của trẻ em ở các cơ sở này.

Tuy nhiên, qua nắm bắt, theo dõi của Cục Con nuôi thì việc hỗ trợ tài chính này còn tồn tại một số bất cập như: Việc tặng cho, hỗ trợ trong một số trường hợp được thực hiện trực tiếp giữa cha mẹ nuôi nước ngoài với cơ sở TGXH, phần lớn không có hóa đơn chứng từ, không có mức cố định giữa các cha mẹ nuôi của từng tổ chức trong một nước và giữa các nước với nhau. Điều đó dẫn đến tình trạng cơ quan quản lý nhà nước khó theo dõi, kiểm tra và giám sát việc tiếp nhận, sử dụng các khoản hỗ trợ, tặng cho này được bảo đảm đúng mục đích. Bên cạnh đó, thực trạng này có thể dẫn đến sự “cạnh tranh ngầm” giữa các tổ chức con nuôi để được địa phương “ưu tiên” giới thiệu trẻ - điều đã được cảnh báo trong các khuyến nghị về lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế[2] do Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế[3] đưa ra. Thực trạng đó đã khiến cho các nước có quan hệ hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế với Việt Nam đặc biệt quan ngại.

Hiện nay, Luật Nuôi con nuôi (Điều 7) và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Điều 4) đưa ra các nguyên tắc chung cho phép, khuyến khích các tổ chức, cá nhân hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt với điều kiện việc hỗ trợ nhân đạo không được ảnh hưởng đến việc cho nhận con nuôi; quy định chung về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng hỗ trợ nhân đạo để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Ngoài ra, Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở TGXH cho phép các cơ sở TGXH tổ chức vận động và tiếp nhận sự hỗ trợ tài chính, hiện vật của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài để thực hiện các hoạt động của mình (Điều 7); yêu cầu các cơ sở này phải thực hiện việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản tặng cho, hỗ trợ từ các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài đúng theo quy định pháp luật; việc sử dụng và quản lý các nguồn kinh phí phải thực hiện công khai, minh bạch và theo quy chế hoạt động, quy chế chi tiêu của cơ sở; cơ sở có trách nhiệm báo cáo kết quả tài chính, định kỳ và hàng năm theo quy định của pháp luật (Điều 10).

Đối với các khoản hỗ trợ tài chính mang tính nhân đạo do cá nhân người nước ngoài, tổ chức phi Chính phủ nước ngoài thực hiện tại Việt Nam dưới hình thức viện trợ thông qua chương trình, dự án và phi dự án phải tuân thủ theo Nghị định số 93/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi Chính phủ nước ngoài (Nghị định số 93/2009/NĐ-CP) và Thông tư số 07/2010/TT-BKH ngày 30/3/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 93/2009/NĐ-CP.

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp trên thực tế, các cơ sở TGXH khi tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản hỗ trợ, tặng cho trực tiếp từ cha mẹ nuôi nước ngoài hoặc thông qua tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ hoặc thậm chí không nắm được các quy định pháp luật nêu trên[4].

2. Những nguyên nhân chủ yếu

Những tồn tại, bất cập trong việc hỗ trợ tài chính trực tiếp của cha mẹ nuôi nước ngoài hoặc thông qua tổ chức con nuôi nước ngoài đối với các cơ sở TGXH xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

- Nhận thức chưa đầy đủ hoặc chưa đúng của một bộ phận cá nhân, tổ chức, cơ quan tham gia vào quá trình giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đối với nguyên tắc minh bạch tài chính và tách bạch giữa hỗ trợ tài chính mang tính nhân đạo với việc giải quyết nuôi con nuôi.

- Sự cám dỗ của lợi ích vật chất trong công tác nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là điều dẫn tới sự không minh bạch giữa hỗ trợ tài chính với công tác giải quyết nuôi con nuôi và có thể tạo ra sự phụ thuộc vào các nguồn tài trợ từ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

- Chưa có quy định cụ thể về việc bảo đảm tách bạch giữa nuôi con nuôi và hỗ trợ, tặng cho của cha mẹ nuôi và tổ chức con nuôi nước ngoài.

- Thiếu sự hướng dẫn, kiểm tra hoặc hướng dẫn, kiểm tra chưa đầy đủ, toàn diện đối việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng của các cơ sở TGXH đối với các khoản hỗ trợ tài chính từ phía cha mẹ nuôi và tổ chức con nuôi nước ngoài.

- Chưa có cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin hữu hiệu, hai chiều giữa hai ngành Tư pháp và Lao động - Thương binh và Xã hội ở cấp trung ương và địa phương về kết quả giải quyết việc nuôi con nuôi và việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, tặng cho của cha mẹ nuôi và các tổ chức con nuôi cho các cơ sở TGXH.

- Nguồn lực dành do công tác giải quyết nuôi con nuôi còn hạn chế, chưa tương xứng với công tác này. Việc thiếu nguồn lực (kinh phí và con người) dành cho việc khám, phân loại bệnh tật, đánh giá tâm sinh lý, tình trạng phát triển, nhu cầu tìm gia đình thay thế, xác minh nguồn gốc đối với trẻ sống tại cơ sở TGXH khiến cho công tác xác định trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi cũng như việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em hiện đang gặp khó khăn.

3. Các quy định và nguyên tắc chung quốc tế đối với việc hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế

Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em[5] quy định chung liên quan tới việc nuôi con nuôi quốc tế, trong đó yêu cầu các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực hiện mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm rằng việc cho trẻ em làm con nuôi quốc tế không dẫn đến sự trục lợi không chính đáng về tài chính của những người có liên quan tham gia (khoản d Điều 21).

Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế[6] (Công ước La Hay 1993) nghiêm cấm việc thanh toán hay bồi thường để có được sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài (Điều 4); nghiêm cấm việc thu tiền hay thu lợi tài chính không chính đáng từ một hoạt động liên quan đến nuôi con nuôi nước ngoài (Điều 32); chỉ cho phép thanh toán các khoản chi phí, lệ phí chuyên môn vừa phải cho những người liên quan tới việc nuôi con nuôi và những người lãnh đạo, quản lý, nhân viên của các tổ chức có liên quan tới nuôi con nuôi không được nhận thù lao cao một cách bất hợp lý đối với công việc mà họ đã làm (Điều 32); yêu cầu cơ quan trung ương phải thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa thu lợi bất chính từ nuôi con nuôi và ngăn chặn tất cả các vụ việc trái với mục đích của Công ước (Điều 8)... Bên cạnh đó, Báo cáo giải thích thực hiện Công ước La Hay năm 1993, Sách hướng dẫn số 1 thực hiện tốt Công ước La Hay năm 1993 (Chương 5, Mục 5.5) và Khuyến nghị của Khóa họp đặc biệt năm 2000 cũng đã đưa ra cách hướng dẫn, khuyến nghị, bài học kinh nghiệm để thực hiện tốt các quy định của Công ước liên quan tới vấn đề tài chính trong nuôi con nuôi.

Ngoài ra, theo Bản lưu ý về khía cạnh tài chính trong lĩnh vực con nuôi quốc tế của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế thì các khoản hỗ trợ, tặng cho của cha mẹ nuôi thường được thực hiện chia thành 03 nhóm sau:

- Nhóm dự án hợp tác và hỗ trợ phát triển là những khoản hỗ trợ chính thức, thường được thực hiện trực tiếp cho các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức nhà nước liên Chính phủ, các quỹ… tập trung vào bảo vệ trẻ em.

- Nhóm các khoản đóng góp của cha mẹ nuôi: Đây là khoản có thể mang tính chất bắt buộc hoặc không bắt buộc (tùy vào quy định của pháp luật các nước) để tăng cường hệ thống nuôi con nuôi hoặc hệ thống bảo vệ trẻ em.

- Nhóm các khoản tặng cho là khoản tiền hoặc quà dưới dạng vật chất phát sinh một cách tự nguyện từ cha mẹ nuôi hoặc tổ chức con nuôi dành cho các hoạt động bảo đảm phúc lợi của trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng, thường cho cơ sở nuôi dưỡng có trẻ em được cho làm con nuôi. Các khoản này có thể do cha mẹ nuôi tặng cho trực tiếp hoặc thực hiện thông qua các dự án/phi dự án đối với các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em. Các khoản này cũng có thể được các tổ chức con nuôi tặng cho một quỹ cụ thể của nước gốc.

Cho dù việc hỗ trợ tài chính của cha mẹ nuôi nước ngoài được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào nêu trên thì Công ước La Hay năm 1993 yêu cầu các quốc gia thành viên phải có các biện pháp thích hợp nhằm bảo đảm công khai, minh bạch các khoản hỗ trợ tài chính cũng như phân định rạch ròi giữa hỗ trợ tài chính mang tính nhân đạo với việc giải quyết nuôi con nuôi quốc tế.

Từ những nghiên cứu về thực tiễn và khái niệm, Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế đã tổng kết những tồn tại mang tính toàn cầu liên quan đến vấn đề tặng cho như sau: Việc hỗ trợ tài chính trực tiếp dễ trở thành vấn đề mua bán trẻ em hoặc tác động để có được sự đồng ý cho trẻ em nhận làm con nuôi; cơ quan có thẩm quyền không biết đến khoản này và mức là bao nhiêu; không có sự minh bạch đối với việc sử dụng các khoản này; không có hoặc thiếu sự giám sát, theo dõi.

Để hạn chế tình trạng này, Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế khuyến nghị các nước cần: Không cho phép tặng cho trực tiếp đối với các chủ thể liên quan đến quá trình giải quyết nuôi con nuôi; các cơ quan trung ương phải được thông báo một cách có hệ thống hoặc phải tham gia vào việc ấn định mức (nghĩa là phải giới hạn mức tặng cho); cha mẹ nuôi phải đề nghị được cấp biên lai và báo cáo về các khoản đó trong thời gian họ ở nước gốc; các khoản tặng cho đối với cơ sở nuôi dưỡng chỉ nhằm phục vụ cho việc chăm sóc cho những trẻ em đang tiếp tục sống ở cơ sở nuôi dưỡng hoặc các hoạt động liên quan đến đẩy mạnh chương trình duy trì gia đình, ngăn ngừa bỏ rơi hoặc các dự án bảo vệ trẻ em tương tự; các tổ chức được cấp phép hoặc cơ sở nuôi dưỡng khi nhận tặng cho thì phải chỉ rõ loại tặng cho mà họ chấp nhận và nêu rõ việc sử dụng cụ thể; nên tặng cho bằng hiện vật; và trong mọi trường hợp, nghiêm cấm tặng cho trước khi hoàn tất việc nhận con nuôi.

4. Một số kiến nghị

Đứng trước thực trạng hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nêu trên, vấn đề đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước là làm thế nào để quản lý hữu hiệu việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp từ cha mẹ nuôi hoặc thông qua tổ chức con nuôi nước ngoài đối với cơ sở TGXH. Với tinh thần đó, tác giả xin đưa ra một số đề xuất, kiến nghị sau:

Một là, nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cho các cá nhân, tổ chức, cơ quan tham gia vào quá trình giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thông qua các hình thức như: Xây dựng, phát hành cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ; tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng; hội thảo chia sẻ phương thức thực hiện tốt, mô hình điển hình… về việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ tài chính từ cha mẹ nuôi trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Hai là, hoàn thiện thể chế, tăng cường tổ chức thực thi pháp luật

- Bổ sung quy định cụ thể về việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản tặng cho, hỗ trợ của cha mẹ nuôi và tổ chức con nuôi nước ngoài đối với cơ sở TGXH bảo đảm minh bạch, công khai, tách bạch với việc giải quyết nuôi con nuôi; nghiên cứu khả năng quy định về mức hỗ trợ tài chính cố định phù hợp áp dụng chung đối với các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

- Tăng cường hướng dẫn thủ tục tiếp nhận, quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ tài chính từ phía cha mẹ nuôi và tổ chức con nuôi nước ngoài, bảo đảm công khai, minh bạch; có sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền, lồng ghép nội dung này vào báo cáo công tác TGXH và xử lý nghiêm nếu xảy ra vi phạm.

- Có cơ chế chia sẻ thông tin hữu hiệu giữa hai ngành Tư pháp và Lao động - Thương binh và Xã hội cả ở cấp trung ương và địa phương về việc hỗ trợ tài chính của tổ chức con nuôi nước ngoài, cha mẹ nuôi nước ngoài cho các cơ sở TGXH và kết quả tìm gia đình thay thế cho trẻ em ở cơ sở TGXH.

Ba là, bố trí đủ nguồn lực, kinh phí cho công tác giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng như công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em

Cần bảo đảm bố trí đầy đủ nguồn tài chính, nguồn nhân lực và có cơ chế kiểm tra, giám sát hữu hiệu đối với mỗi công đoạn trong toàn bộ quá trình giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng như trong công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em để ngăn ngừa việc thu lợi không chính đáng. Về dài hạn, cần phải giảm dần và tiến tới chấm dứt sự phụ thuộc vào các nguồn tài chính phát sinh từ việc cho nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Bốn là, tăng cường hợp tác giữa các cơ quan trung ương về nuôi con nuôi quốc tế trong khuôn khổ Công ước La Hay năm 1993

- Đối với cơ quan trung ương các nước có quan hệ hợp tác nuôi con nuôi quốc tế với Việt Nam (các nước nhận trẻ em làm con nuôi): Tăng cường trao đổi, chia sẻ thông tin, báo cáo về các trường hợp nuôi con nuôi quốc tế, báo cáo về tình hình hoạt động của các tổ chức con nuôi được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, trong đó có phần về hỗ trợ tài chính nhằm nắm bắt tình hình hỗ trợ tài chính để từ đó có những biện pháp ngăn chặn, xử lý đối với những hành vi vi phạm.

- Đối với cơ quan trung ương các nước cho trẻ em làm con nuôi: Tăng cường trao đổi, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, phương thức, mô hình thực hiện tốt liên quan tới việc bảo đảm minh bạch, công khai, đúng mục đích, tách bạch giữa việc hỗ trợ tài chính với việc giải quyết nuôi con nuôi quốc tế, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

ThS. Đặng Trần Anh Tuấn

Cục Con nuôi

Tài liệu tham khảo:

[1]. Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2011.

[2]. Trong phạm vi bài viết này và trong chừng mực nội dung liên quan tới vấn đề hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì “nuôi con nuôi quốc tế” theo cách gọi trong các điều ước quốc tế liên quan cũng được hiểu là “nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” theo quy định pháp luật Việt Nam.

[3]. Việt Nam là quốc gia thành viên chính thức của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế kể từ ngày 10/4/2013.

[4]. Theo đánh giá của Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp thông qua công tác theo dõi, kiểm tra công tác nuôi con nuôi tại địa phương cũng như hoạt động của các tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép tại Việt Nam.

[5]. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em vào ngày 20/02/1990.

[6]. Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 01/02/2012.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Kết quả đạt được và những đóng góp của công tác lý lịch tư pháp trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình gần 15 năm (2010 - 2025) thực hiện, công tác lý lịch tư pháp đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực Bộ, ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng của Bộ, ngành Tư pháp tạo động lực thúc đẩy các tập thể, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, kể từ ngày thành lập cho đến nay, ngành Tư pháp luôn quán triệt, vận dụng sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Thấm nhuần lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành Tư pháp đã thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tạo động lực để cá nhân, tập thể trong toàn Ngành vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước giao, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự - kinh tế, quản lý nhà nước trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - thành tựu và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh mới, để thực hiện nhiệm vụ được giao, lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế cần định hướng cải cách sâu sắc, trong đó, nổi bật là tư duy đổi mới toàn diện về cách xây dựng và thực thi pháp luật. Mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải trở nên dễ hiểu, dễ tiếp cận, dễ tuân thủ; ngôn ngữ luật cần đơn giản hơn, thủ tục pháp lý cần được số hóa mạnh mẽ và các dịch vụ hỗ trợ pháp lý cần phổ cập rộng rãi.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1858/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1836/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực thừa phát lại thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1859/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực công chứng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 23/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1857/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng thực thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: