Thứ năm 19/02/2026 07:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ những điểm bất cập trong Luật Đất đai năm 2013 về vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, từ đó đưa ra một số kiến nghị, góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1].

Abstract: The article focuses on clarifying the shortcomings of the 2013 Land Law on compensation, support and resettlement, thereby making some recommendations and suggestions for improving the Draft Land Law (amended).

1. Thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Hiện nay, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được pháp luật đất đai điều chỉnh, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập sau:

Một là, bất cập trong quy định về điều kiện để được bồi thường về đất. Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, một trong các trường hợp người có đất bị thu hồi được bồi thường đó là trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Tuy nhiên, Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 mới chỉ dừng lại ở việc nêu tên điều luật, nội hàm khái niệm mang tính liệt kê các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Quy định này thiếu tính khái quát, chưa làm rõ được khái niệm thế nào là dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Chính vì quy định của pháp luật chưa rõ ràng nên dẫn tới nhiều bất cập trong quá trình thực thi pháp luật trên thực tiễn. Chẳng hạn như, dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận là một trong những dự án phải thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, tuy nhiên, do chưa thống nhất khái niệm vì lợi ích quốc gia, công cộng nên vấn đề này còn mang tính chủ quan của các cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến việc một số dự án mang tính lợi ích tư nhân nhưng có “gắn mác” lợi ích công cộng, quốc gia. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả của việc thực thi và áp dụng pháp luật mà còn gây tổn hại trực tiếp đến quyền, lợi ích của người sử dụng đất, một số trường hợp người dân phải chịu mất đất, mất nhà mà khoản đền bù lại không thỏa đáng. Ngoài ra, điểm d khoản 3 Điều 62 còn sử dụng thuật ngữ “chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn” nhưng cũng chưa có khái niệm rõ ràng, do vậy, tương tự như trên, một số nhà đầu tư có thể lợi dụng để xây nhà, xây dựng khu thương mại, dịch vụ để kinh doanh nằm ngoài mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Hai là, căn cứ xác định giá đất bồi thường chưa thực sự thỏa đáng. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, giá đất dùng để làm căn cứ tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi đất[2]. Đây là điểm tiến bộ của Luật Đất đai năm 2013, vì giá đất cụ thể là loại giá đất không quy định về thời hạn áp dụng giống như khung giá đất hay bảng giá đất. Vì vậy, đây là loại giá đất linh hoạt, mang tính chất áp dụng một lần, cho từng đối tượng và trong từng trường hợp cụ thể. Chính điều này khiến cho giá đất tính tiền bồi thường cho người sử dụng đất ngày càng phù hợp hơn tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, giá đất được xác định khi đền bù giải phóng mặt bằng chênh lệch rất lớn so với giá trị thực tế mà đáng lẽ người sử dụng đất được khai thác, sử dụng và hưởng lợi ích. Khi xác định giá đất bồi thường trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất, cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ nguyên tắc định giá đất tại khoản 1 Điều 112 Luật Đất đai năm 2013. Trong đó, một trong những nguyên tắc định giá đất là phải phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất[3]. Quy định này cho thấy sự khác biệt trong quy định của Luật Đất đai năm 2003 (sử dụng cụm từ “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường”[4]) so với quy định của Luật Đất đai năm 2013 (sử dụng cụm từ “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường”). Tuy có sự thay đổi về cách sử dụng thuật ngữ nhưng xét về mặt nội dung, hai thuật ngữ này không có sự khác nhau lớn, đều là những cụm từ mang tính chất định lượng, định tính. Điều này gây khó khăn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thi hành pháp luật.

Ngoài ra, chưa thực sự công bằng khi có sự chênh lệch rất lớn giữa giá bồi thường về đất ở các vùng khác nhau đối với cùng diện tích và mục đích sử dụng. Một trong những nguyên nhân chính là do sự đầu tư phát triển của Nhà nước về cơ sở hạ tầng - kỹ thuật (đường giao thông, hệ thống cấp, thoát nước...) và hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, trạm y tế, chợ, trung tâm thương mại...) ở thành phố lớn hơn nhiều lần so với nông thôn. Điều này có nghĩa rằng, khoản tăng thêm của giá trị bồi thường về đất là do sự đầu tư của Nhà nước và xã hội tạo ra chứ không phải do người sử dụng đất tự tạo ra. Chính vì vậy, chưa thực sự hợp lý khi Nhà nước thu hồi đất, giá đất bồi thường được xác định theo nguyên tắc phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường, nghĩa là đã bao gồm cả giá trị tăng thêm từ sự đầu tư của Nhà nước. Trong khi Nhà nước vừa phải bỏ ra chi phí để đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, xã hội, vừa phải đền bù cho người dân có đất bị thu hồi cả phần giá trị tăng thêm của đất từ các công trình này, điều này càng đặt thêm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân.

Bên cạnh đó, việc thành lập Hội đồng thẩm định giá đất để thẩm định giá trước khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể cũng còn tồn tại một số hạn chế như: Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể... Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định”. Thông thường, thành phần Hội đồng thẩm định giá đất gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan và tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất. Trong đó, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất là một tổ chức dịch vụ tư có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có chức năng tư vấn cho Hội đồng thẩm định xác định giá đất phù hợp. Tuy nhiên, pháp luật lại chưa có quy định ràng buộc trách nhiệm của cơ quan quản lý đất đai trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng việc thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất. Cũng theo quy định tại Điều 114 Luật Đất đai năm 2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vừa là người ký quyết định phê duyệt giá đất, vừa là chủ tịch Hội đồng thẩm định giá đất. Quy định này là chưa hợp lý, chưa bảo đảm nguyên tắc minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước, dễ xảy ra tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”.

Ba là, về thủ tục thẩm định phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, pháp luật hiện hành có quy định việc tổ chức lấy ý kiến của người dân trong khu vực có đất thu hồi phải được thực hiện ít nhất là 20 ngày, kể từ ngày niêm yết[5]. Tuy nhiên, chưa quy định rõ giá trị của việc lấy ý kiến cũng như tỷ lệ bao nhiêu phần trăm ý kiến thì được coi là đồng tình, không đồng tình và hệ quả sau đó. Chính sự bỏ ngỏ này của pháp luật đã làm giảm đi hiệu quả của hoạt động lấy ý kiến người dân về phương án bồi thường, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người có đất bị thu hồi.

Bốn là, nguyên tắc và điều kiện để người sử dụng đất được hưởng tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất chưa được quy định cụ thể. Một số vấn đề liên quan đến tái định cư như nguyên tắc, điều kiện được hưởng chính sách tái định cư, quy trình thực hiện… cũng chưa được Luật Đất đai năm 2013 quy định.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Cụ thể, cần làm rõ khái niệm phát triển kinh tế - xã hội, lợi ích quốc gia, công cộng, chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn. Về vấn đề này, nhóm tác giả đồng tình với Dự thảo Luật Đất đai hiện hành, theo đó, Dự thảo đã sửa đổi, bổ sung nội hàm của khái niệm dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng[6]. Ngoài ra, Dự thảo này còn quy định cụ thể các trường hợp Nhà nước được thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng cũng như đối với một số dự án phải đáp ứng tiêu chí, điều kiện nhất định[7]. Các dự án chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn phù hợp với mục đích phát triển - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng cũng được liệt kê cụ thể tại điểm d khoản 4 Điều 86 của Dự thảo. Việc sửa đổi, bổ sung như trên của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) là hoàn toàn phù hợp, có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn chỉnh các điều kiện để được bồi thường về đất.

Thứ hai, về nguyên tắc định giá đất, theo nhóm tác giả, nên sử dụng cụm từ “tương đương với giá thị trường” thay vì “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường” như quy định của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất trong các trường hợp tương tự dù ở các địa phương khác nhau.

Thứ ba, theo pháp luật hiện hành, giá đất cụ thể được dùng làm căn cứ tính tiền bồi thường là phù hợp, tuy nhiên, nên tách biệt giá trị của thửa đất với phần giá trị tăng thêm do sự đầu tư của Nhà nước và xã hội trong giá đất tính tiền bồi thường. Như vậy, sẽ phần nào giảm áp lực cho ngân sách nhà nước trong việc thanh toán chi phí bồi thường về đất cũng như tạo sự công bằng hơn, hướng tới sự cân bằng lợi ích giữa người dân ở nông thôn và thành thị.

Thứ tư, trong thành phần của Hội đồng thẩm định giá nên có thêm những chuyên gia về định giá đất - có thể là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu pháp luật về đất đai, họ là những người thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung về đất đai và có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Ngoài ra, cũng nên quy định về số lượng các thành phần tham dự Hội đồng thẩm định giá theo hướng tăng thêm số lượng người không phải là đại diện của cơ quan nhà nước. Điều này nhằm mục đích bảo đảm mức giá đất được quyết định là mức giá do đa số quyết định nhưng không mang tính chủ quan từ phía Nhà nước. Bên cạnh đó, thiết nghĩ, để hoàn thiện quy định về giá đất bồi thường thì nên tạo cơ chế để người sử dụng đất có đất bị thu hồi được thương lượng, thỏa thuận mức giá bồi thường với cơ quan nhà nước, như vậy, vừa bảo đảm được quyền lợi của người bị thu hồi đất, vừa giúp công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Thứ năm, nên kéo dài thời gian thông báo thu hồi đất nhằm giúp người dân có đất bị thu hồi có thể thuận tiện hơn trong việc chuẩn bị cuộc sống mới, chuyển đổi nghề nghiệp, nơi ở, thu hoạch mùa màng... Cụ thể, có thể kéo dài gấp đôi là 180 ngày đối với đất nông nghiệp và 360 ngày đối với đất phi nông nghiệp thay vì 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp như quy định hiện hành[8].

Thứ sáu, cần cụ thể hóa quy định tổ chức lấy ý kiến người bị thu hồi đất về phương án bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Cụ thể là, cần quy định chi tiết tỷ lệ đồng ý và không đồng ý của người bị thu hồi đất đối với phương án bồi thường và hệ quả nếu như tỷ lệ không đồng ý quá lớn thì giải quyết như thế nào. Bên cạnh đó, cần đặt ra chế tài về việc xử lý đối với các trường hợp cơ quan có thẩm quyền không điều chỉnh lại phương án sau khi lấy ý kiến của người dân.

Thứ bảy, cần bổ sung quy định về nguyên tắc và điều kiện để người có đất bị thu hồi được hưởng chính sách tái định cư. Về điều kiện tái định cư, cần quy định rõ điều kiện về chủ thể, tính pháp lý của loại đất bị thu hồi hay các trường hợp cụ thể được tái định cư khi nhà nước thu hồi đất[9]. Ngoài ra, theo tác giả, cần bảo đảm cho người dân có chỗ ở, bảo đảm thu nhập và điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Hiện tại, nguyên tắc này cũng đã được Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định chi tiết, rõ ràng.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

[1]. Bản công bố lấy ý kiến nhân dân ngày 05/01/2023.

[2]. Điểm đ khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Điểm c khoản 1 Điều 112 Luật Đất đai năm 2013.

[4]. Điểm a khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai năm 2003.

[5]. Khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, khoản 2 Điều 28 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

[6]. Điều 86 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi): “Dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là các dự án phát huy nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thực hiện chính sách về phát triển hạ tầng, đô thị, nông nghiệp, nông thôn; giải quyết các vấn đề chính sách xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản văn hóa, phân bổ công bằng, hài hòa giá trị tăng thêm từ đất, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nhằm phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.

[7]. Khoản 3, khoản 4 Điều 86 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

[8]. Điều 67 Luật Đất đai năm 2013.

[9]. Bùi Thị Hồng Nhung, “Hoàn thiện quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 09 (457), tháng 5/2022, https://vupc.monre.gov.vn/linh-vuc-dat-dai/4275/hoan-thien-quy-dinh-ve-boi-thuong-ho-tro-tai-dinh-cu-khi-nha-nuoc-thu-hoi-dat, truy cập ngày 07/11/2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 377), tháng 3/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.
Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Bàn về việc sử dụng thuật ngữ “tương trợ tư pháp” thay thế thuật ngữ “ủy thác tư pháp” trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự

Hiện, Bộ Tư pháp đang dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự (dự thảo Luật). Trong chế định tương trợ tư pháp về dân sự, thuật ngữ “ủy thác tư pháp” được sử dụng tương đối phổ biến. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “ủy thác tư pháp” để thiết lập các quy phạm điều chỉnh lĩnh vực tương trợ tư pháp về dân sự là không phù hợp và dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này là hợp lý.
Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự trong giai đoạn mới

Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi mặt của đời sống xã hội, hoạt động TTTP về dân sự đòi hỏi có những bước phát triển mới phù hợp với bối cảnh, điều kiện và tình hình mới trong nước và quốc tế.

Theo dõi chúng tôi trên: