Thứ năm 25/06/2026 19:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ những điểm bất cập trong Luật Đất đai năm 2013 về vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, từ đó đưa ra một số kiến nghị, góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1].

Abstract: The article focuses on clarifying the shortcomings of the 2013 Land Law on compensation, support and resettlement, thereby making some recommendations and suggestions for improving the Draft Land Law (amended).

1. Thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Hiện nay, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được pháp luật đất đai điều chỉnh, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề bất cập sau:

Một là, bất cập trong quy định về điều kiện để được bồi thường về đất. Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, một trong các trường hợp người có đất bị thu hồi được bồi thường đó là trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Tuy nhiên, Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 mới chỉ dừng lại ở việc nêu tên điều luật, nội hàm khái niệm mang tính liệt kê các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Quy định này thiếu tính khái quát, chưa làm rõ được khái niệm thế nào là dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Chính vì quy định của pháp luật chưa rõ ràng nên dẫn tới nhiều bất cập trong quá trình thực thi pháp luật trên thực tiễn. Chẳng hạn như, dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận là một trong những dự án phải thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, tuy nhiên, do chưa thống nhất khái niệm vì lợi ích quốc gia, công cộng nên vấn đề này còn mang tính chủ quan của các cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến việc một số dự án mang tính lợi ích tư nhân nhưng có “gắn mác” lợi ích công cộng, quốc gia. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả của việc thực thi và áp dụng pháp luật mà còn gây tổn hại trực tiếp đến quyền, lợi ích của người sử dụng đất, một số trường hợp người dân phải chịu mất đất, mất nhà mà khoản đền bù lại không thỏa đáng. Ngoài ra, điểm d khoản 3 Điều 62 còn sử dụng thuật ngữ “chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn” nhưng cũng chưa có khái niệm rõ ràng, do vậy, tương tự như trên, một số nhà đầu tư có thể lợi dụng để xây nhà, xây dựng khu thương mại, dịch vụ để kinh doanh nằm ngoài mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Hai là, căn cứ xác định giá đất bồi thường chưa thực sự thỏa đáng. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, giá đất dùng để làm căn cứ tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi đất[2]. Đây là điểm tiến bộ của Luật Đất đai năm 2013, vì giá đất cụ thể là loại giá đất không quy định về thời hạn áp dụng giống như khung giá đất hay bảng giá đất. Vì vậy, đây là loại giá đất linh hoạt, mang tính chất áp dụng một lần, cho từng đối tượng và trong từng trường hợp cụ thể. Chính điều này khiến cho giá đất tính tiền bồi thường cho người sử dụng đất ngày càng phù hợp hơn tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, giá đất được xác định khi đền bù giải phóng mặt bằng chênh lệch rất lớn so với giá trị thực tế mà đáng lẽ người sử dụng đất được khai thác, sử dụng và hưởng lợi ích. Khi xác định giá đất bồi thường trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất, cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ nguyên tắc định giá đất tại khoản 1 Điều 112 Luật Đất đai năm 2013. Trong đó, một trong những nguyên tắc định giá đất là phải phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất[3]. Quy định này cho thấy sự khác biệt trong quy định của Luật Đất đai năm 2003 (sử dụng cụm từ “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường”[4]) so với quy định của Luật Đất đai năm 2013 (sử dụng cụm từ “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường”). Tuy có sự thay đổi về cách sử dụng thuật ngữ nhưng xét về mặt nội dung, hai thuật ngữ này không có sự khác nhau lớn, đều là những cụm từ mang tính chất định lượng, định tính. Điều này gây khó khăn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thi hành pháp luật.

Ngoài ra, chưa thực sự công bằng khi có sự chênh lệch rất lớn giữa giá bồi thường về đất ở các vùng khác nhau đối với cùng diện tích và mục đích sử dụng. Một trong những nguyên nhân chính là do sự đầu tư phát triển của Nhà nước về cơ sở hạ tầng - kỹ thuật (đường giao thông, hệ thống cấp, thoát nước...) và hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, trạm y tế, chợ, trung tâm thương mại...) ở thành phố lớn hơn nhiều lần so với nông thôn. Điều này có nghĩa rằng, khoản tăng thêm của giá trị bồi thường về đất là do sự đầu tư của Nhà nước và xã hội tạo ra chứ không phải do người sử dụng đất tự tạo ra. Chính vì vậy, chưa thực sự hợp lý khi Nhà nước thu hồi đất, giá đất bồi thường được xác định theo nguyên tắc phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường, nghĩa là đã bao gồm cả giá trị tăng thêm từ sự đầu tư của Nhà nước. Trong khi Nhà nước vừa phải bỏ ra chi phí để đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, xã hội, vừa phải đền bù cho người dân có đất bị thu hồi cả phần giá trị tăng thêm của đất từ các công trình này, điều này càng đặt thêm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân.

Bên cạnh đó, việc thành lập Hội đồng thẩm định giá đất để thẩm định giá trước khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể cũng còn tồn tại một số hạn chế như: Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể... Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định”. Thông thường, thành phần Hội đồng thẩm định giá đất gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan và tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất. Trong đó, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất là một tổ chức dịch vụ tư có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có chức năng tư vấn cho Hội đồng thẩm định xác định giá đất phù hợp. Tuy nhiên, pháp luật lại chưa có quy định ràng buộc trách nhiệm của cơ quan quản lý đất đai trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng việc thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất. Cũng theo quy định tại Điều 114 Luật Đất đai năm 2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vừa là người ký quyết định phê duyệt giá đất, vừa là chủ tịch Hội đồng thẩm định giá đất. Quy định này là chưa hợp lý, chưa bảo đảm nguyên tắc minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước, dễ xảy ra tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”.

Ba là, về thủ tục thẩm định phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, pháp luật hiện hành có quy định việc tổ chức lấy ý kiến của người dân trong khu vực có đất thu hồi phải được thực hiện ít nhất là 20 ngày, kể từ ngày niêm yết[5]. Tuy nhiên, chưa quy định rõ giá trị của việc lấy ý kiến cũng như tỷ lệ bao nhiêu phần trăm ý kiến thì được coi là đồng tình, không đồng tình và hệ quả sau đó. Chính sự bỏ ngỏ này của pháp luật đã làm giảm đi hiệu quả của hoạt động lấy ý kiến người dân về phương án bồi thường, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người có đất bị thu hồi.

Bốn là, nguyên tắc và điều kiện để người sử dụng đất được hưởng tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất chưa được quy định cụ thể. Một số vấn đề liên quan đến tái định cư như nguyên tắc, điều kiện được hưởng chính sách tái định cư, quy trình thực hiện… cũng chưa được Luật Đất đai năm 2013 quy định.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Cụ thể, cần làm rõ khái niệm phát triển kinh tế - xã hội, lợi ích quốc gia, công cộng, chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn. Về vấn đề này, nhóm tác giả đồng tình với Dự thảo Luật Đất đai hiện hành, theo đó, Dự thảo đã sửa đổi, bổ sung nội hàm của khái niệm dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng[6]. Ngoài ra, Dự thảo này còn quy định cụ thể các trường hợp Nhà nước được thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng cũng như đối với một số dự án phải đáp ứng tiêu chí, điều kiện nhất định[7]. Các dự án chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn phù hợp với mục đích phát triển - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng cũng được liệt kê cụ thể tại điểm d khoản 4 Điều 86 của Dự thảo. Việc sửa đổi, bổ sung như trên của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) là hoàn toàn phù hợp, có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn chỉnh các điều kiện để được bồi thường về đất.

Thứ hai, về nguyên tắc định giá đất, theo nhóm tác giả, nên sử dụng cụm từ “tương đương với giá thị trường” thay vì “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường” như quy định của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất trong các trường hợp tương tự dù ở các địa phương khác nhau.

Thứ ba, theo pháp luật hiện hành, giá đất cụ thể được dùng làm căn cứ tính tiền bồi thường là phù hợp, tuy nhiên, nên tách biệt giá trị của thửa đất với phần giá trị tăng thêm do sự đầu tư của Nhà nước và xã hội trong giá đất tính tiền bồi thường. Như vậy, sẽ phần nào giảm áp lực cho ngân sách nhà nước trong việc thanh toán chi phí bồi thường về đất cũng như tạo sự công bằng hơn, hướng tới sự cân bằng lợi ích giữa người dân ở nông thôn và thành thị.

Thứ tư, trong thành phần của Hội đồng thẩm định giá nên có thêm những chuyên gia về định giá đất - có thể là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu pháp luật về đất đai, họ là những người thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung về đất đai và có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Ngoài ra, cũng nên quy định về số lượng các thành phần tham dự Hội đồng thẩm định giá theo hướng tăng thêm số lượng người không phải là đại diện của cơ quan nhà nước. Điều này nhằm mục đích bảo đảm mức giá đất được quyết định là mức giá do đa số quyết định nhưng không mang tính chủ quan từ phía Nhà nước. Bên cạnh đó, thiết nghĩ, để hoàn thiện quy định về giá đất bồi thường thì nên tạo cơ chế để người sử dụng đất có đất bị thu hồi được thương lượng, thỏa thuận mức giá bồi thường với cơ quan nhà nước, như vậy, vừa bảo đảm được quyền lợi của người bị thu hồi đất, vừa giúp công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Thứ năm, nên kéo dài thời gian thông báo thu hồi đất nhằm giúp người dân có đất bị thu hồi có thể thuận tiện hơn trong việc chuẩn bị cuộc sống mới, chuyển đổi nghề nghiệp, nơi ở, thu hoạch mùa màng... Cụ thể, có thể kéo dài gấp đôi là 180 ngày đối với đất nông nghiệp và 360 ngày đối với đất phi nông nghiệp thay vì 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp như quy định hiện hành[8].

Thứ sáu, cần cụ thể hóa quy định tổ chức lấy ý kiến người bị thu hồi đất về phương án bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Cụ thể là, cần quy định chi tiết tỷ lệ đồng ý và không đồng ý của người bị thu hồi đất đối với phương án bồi thường và hệ quả nếu như tỷ lệ không đồng ý quá lớn thì giải quyết như thế nào. Bên cạnh đó, cần đặt ra chế tài về việc xử lý đối với các trường hợp cơ quan có thẩm quyền không điều chỉnh lại phương án sau khi lấy ý kiến của người dân.

Thứ bảy, cần bổ sung quy định về nguyên tắc và điều kiện để người có đất bị thu hồi được hưởng chính sách tái định cư. Về điều kiện tái định cư, cần quy định rõ điều kiện về chủ thể, tính pháp lý của loại đất bị thu hồi hay các trường hợp cụ thể được tái định cư khi nhà nước thu hồi đất[9]. Ngoài ra, theo tác giả, cần bảo đảm cho người dân có chỗ ở, bảo đảm thu nhập và điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Hiện tại, nguyên tắc này cũng đã được Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định chi tiết, rõ ràng.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

[1]. Bản công bố lấy ý kiến nhân dân ngày 05/01/2023.

[2]. Điểm đ khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Điểm c khoản 1 Điều 112 Luật Đất đai năm 2013.

[4]. Điểm a khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai năm 2003.

[5]. Khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, khoản 2 Điều 28 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

[6]. Điều 86 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi): “Dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là các dự án phát huy nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thực hiện chính sách về phát triển hạ tầng, đô thị, nông nghiệp, nông thôn; giải quyết các vấn đề chính sách xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản văn hóa, phân bổ công bằng, hài hòa giá trị tăng thêm từ đất, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nhằm phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.

[7]. Khoản 3, khoản 4 Điều 86 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

[8]. Điều 67 Luật Đất đai năm 2013.

[9]. Bùi Thị Hồng Nhung, “Hoàn thiện quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 09 (457), tháng 5/2022, https://vupc.monre.gov.vn/linh-vuc-dat-dai/4275/hoan-thien-quy-dinh-ve-boi-thuong-ho-tro-tai-dinh-cu-khi-nha-nuoc-thu-hoi-dat, truy cập ngày 07/11/2022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 377), tháng 3/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nga, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á; từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiên cứu tập trung phân tích ba nội dung chính: (i) mô hình pháp luật điều chỉnh quan hệ Nhà nước - tôn giáo; (ii) cơ chế bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân; (iii) phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Tóm tắt: Trong xã hội đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo, pháp luật không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn thiết lập cơ chế duy trì trật tự công, ổn định xã hội và thúc đẩy hòa hợp cộng đồng. Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và được cụ thể hóa trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, các cách tiếp cận hiện chưa làm rõ đầy đủ cơ sở lý luận của mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo như một nền tảng cho cải cách pháp luật. Nghiên cứu phân tích các mô hình lý luận về quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo, đánh giá mô hình chính sách, pháp luật hiện hành của Việt Nam và xu hướng sửa đổi trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Thông qua tham chiếu kinh nghiệm của Singapore như một trường hợp điển hình trong ASEAN, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong cách tiếp cận pháp luật hiện nay ở Việt Nam và đề xuất các định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật theo hướng vừa bảo đảm tốt hơn quyền tự do tôn giáo, vừa đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước và hội nhập quốc tế.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã bước đầu thiết lập hành lang pháp lý cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Nghiên cứu phân tích các chính sách, quy định mới về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, đánh giá tính tương thích và khả thi trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Bằng phương pháp phân tích quy phạm và so sánh đối chiếu, nghiên cứu làm rõ sự biến đổi của các hình thức thực hành tôn giáo trong môi trường số và trách nhiệm của các chủ thể liên quan, đặc biệt là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng, qua đó, xác định các yêu cầu đối với tổ chức thực thi nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh số hóa.
Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng và sự đa dạng ngày càng gia tăng của các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, hệ thống chính sách, pháp luật Việt Nam đã có nhiều bước hoàn thiện, đặc biệt, với việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật còn tồn tại một số hạn chế như tính minh bạch chưa cao, thủ tục hành chính còn phức tạp và sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật giữa các địa phương. Nghiên cứu phân tích thực trạng chính sách, pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Truyền thông chính sách trong xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới

Truyền thông chính sách trong xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Truyền thông chính sách trong xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có ý nghĩa quan trọng nhằm định hướng nhận thức xã hội và góp phần bảo đảm an ninh tôn giáo trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu làm rõ các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), đồng thời, phân tích những kết quả đạt được và hạn chế trong truyền thông chính sách đối với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực thi trong thực tiễn.
Thực trạng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Thực trạng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 2, ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Sau hơn 08 năm thi hành, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, một số chính sách, quy định pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện những thành công, hạn chế, bất cập để hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới là cần thiết. Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một số định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: