Chủ nhật 15/03/2026 00:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về cấp bảo lãnh Chính phủ đối với khoản vay của doanh nghiệp

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu và làm rõ những bất cập của pháp luật hiện hành về cấp bảo lãnh Chính phủ đối với khoản vay của doanh nghiệp, về giám sát hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ đối với khoản vay của doanh nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu và làm rõ những bất cập của pháp luật hiện hành về cấp bảo lãnh Chính phủ đối với khoản vay của doanh nghiệp, về giám sát hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ đối với khoản vay của doanh nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: This paper examines and clarifies insufficiencies of existing law on government guarantee level for enterprise loans, on supervision of level and management of government guarantee for enterprise loans, and from that point, puts forward recommendations for completing law on this area.

1. Vài nét về thực trạng nợ vay và bản chất của cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay của doanh nghiệp

Trong những năm gần đây, dư nợ các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh ngày càng lớn, tiềm ẩn nguy cơ với nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ và là một trong những áp lực lên nợ công. Năm 2010, con số này là 11,9 tỉ USD, đến cuối năm 2015, số nợ thực tế được Chính phủ bảo lãnh đã lên tới khoảng 21 tỉ USD (gồm cả nợ được bảo lãnh để tái cơ cấu Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam), chiếm khoảng 17,8% tổng dư nợ công và bằng 11,1% GDP năm 2015. Như vậy là chỉ trong 6 năm, các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh tăng gần 1,76 lần và bảo lãnh vay nợ tăng bình quân 50%/năm từ 2010 – 2013[1].

Trong khi đó, các doanh nghiệp (DN) được Chính phủ bảo lãnh nợ vay lại sử dụng vốn chưa hiệu quả. Nhiều dự án gặp khó khăn trong việc trả nợ, phải xin giãn, hoãn, xóa nợ[2]… Nhiều dự án không trả được nợ, Bộ Tài chính phải dùng Quỹ tích lũy trả nợ để cho DN vay trả nợ như: Dự án Xi măng Hạ Long, Xi măng Đồng Bành… Nhiều dự án không có khả năng thu hồi vốn, Chính phủ phải đứng ra trả nợ thay như Nhà máy Bột giấy Phương Nam[3]… Tình trạng này có thể đã không diễn ra nếu như có cơ chế chặt chẽ đảm bảo khả năng trả nợ đầy đủ và đúng hạn của doanh nghiệp; đảm bảo việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác khi đề nghị cấp bảo lãnh Chính phủ của DN; đảm bảo việc thẩm định hồ sơ đề nghị bảo lãnh Chính phủ của cơ quan cấp bảo lãnh hiệu quả cũng như đảm bảo việc minh bạch thông tin về nợ Chính phủ bảo lãnh và bản thân hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay của DN.

Việc Chính phủ cấp bảo lãnh cho các DN vay vốn là hoạt động thường phát sinh khi DN cần huy động một lượng vốn lớn, đặc biệt là trên thị trường vốn quốc tế, nhưng không đủ uy tín để tự vay. Chính phủ bảo lãnh cho DN vay vốn tức là Chính phủ cam kết với bên cho vay về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong trường hợp đến hạn trả nợ mà DN không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Khi đó, Chính phủ có thể giúp DN tiếp cận được với các nguồn vốn với quy mô lớn, lãi suất thấp.

Quan hệ vay vốn có bảo lãnh Chính phủ là mối quan hệ ba bên, bao gồm: Bên cho vay (bên nhận bảo lãnh), Chính phủ (bên bảo lãnh) và bên vay - doanh nghiệp (bên được bảo lãnh). Về bản chất, bảo lãnh Chính phủ là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ vay vốn giữa DN và bên cho vay; nghĩa vụ của bên bảo lãnh (Chính phủ) là nghĩa vụ bổ trợ cho nghĩa vụ chính - nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp (bên được bảo lãnh) đối với bên cho vay (bên nhận bảo lãnh) và quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là quan hệ nghĩa vụ (hợp đồng). Như vậy, trong trường hợp DN không thanh toán được khoản vay đến hạn, thì với trách nhiệm của bên bảo lãnh, Chính phủ phải trả nợ thay cho DN. Hay nói cách khác, nợ doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh có nguy cơ trở thành gánh nặng của ngân sách quốc gia và được xem là một bộ phận của nợ công.

2. Thực trạng quy định về cấp bảo lãnh Chính phủ cho doanh nghiệp vay vốn và những bất cập

Về nguyên tắc, DN vay vốn có nghĩa vụ trả nợ, Chính phủ chỉ trả nợ thay trong trường hợp DN không trả được nợ. Để tránh nguy cơ đối với nợ công từ các khoản nợ này, vấn đề đặt ra là làm thế nào để doanh nghiệp có khả năng trả nợ đầy đủ và đúng hạn? Trước hết, DN cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện cấp bảo lãnh để chứng minh năng lực trả nợ của mình, nhu cầu cần thiết vay vốn và cho thấy phương án sử dụng vốn vay hiệu quả. Luật Quản lý nợ công năm 2009 đã quy định về các điều kiện để DN được cấp bảo lãnh chính phủ tại Điều 34, bao gồm: (i) Đã hoàn thành thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và các quy định của pháp luật có liên quan; (ii) Có đề án vay, phương án sử dụng vốn vay, trả nợ được Bộ Tài chính thẩm định và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; (iii) Trường hợp là doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư phải bảo đảm tối thiểu 20% tổng mức vốn đầu tư là vốn chủ sở hữu; (iv) Tình hình tài chính lành mạnh, không bị lỗ trong ba năm liền kề gần nhất, trừ các khoản lỗ do thực hiện chính sách; tại thời điểm đề nghị cấp bảo lãnh không có nợ quá hạn với các tổ chức tài chính, tín dụng; không có nợ quá hạn liên quan đến các khoản được bảo lãnh, các khoản vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ và ngân sách nhà nước. Trường hợp doanh nghiệp chưa đủ ba năm hoạt động liên tục thì phải có cam kết của chủ sở hữu hoặc của công ty mẹ về bảo đảm khả năng trả nợ đối với khoản vay được bảo lãnh; (v) Chấp thuận các chế tài theo quy định của cơ quan cấp bảo lãnh; (vi) Không vi phạm pháp luật về quản lý nợ công trong thời hạn ba năm liền kề gần nhất tính đến thời điểm đề nghị cấp bảo lãnh.

Luật Quản lý nợ công năm 2017 đưa ra các điều kiện thắt chặt hơn so với Luật Quản lý nợ công năm 2009. Cụ thể, không cho phép DN hoạt động dưới 3 năm được cấp bảo lãnh; không có trường hợp ngoại lệ như các dự án, công trình trọng điểm, dự án lớn có tính cấp bách và có tầm quan trọng đặc biệt cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nếu DN chưa đáp ứng đủ điều kiện về vốn chủ sở hữu, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định miễn áp dụng điều kiện này trong từng trường hợp cụ thể như quy định tại điểm e khoản 2 Điều 34 Luật Quản lý nợ công năm 2009; hay khoản bảo lãnh phải nằm trong hạn mức bảo lãnh hằng năm đã được Chính phủ phê duyệt (Điều 43 Luật Quản lý nợ công năm 2017).

Để đảm bảo việc cấp bảo lãnh Chính phủ hiệu quả, cấp cho những DN thực sự cần vốn, thì thông tin DN cung cấp khi đề nghị cấp bảo lãnh phải đầy đủ, chính xác. Muốn vậy, cần nâng cao trách nhiệm của DN trong việc cung cấp thông tin cho cơ quan cấp bảo lãnh, đồng thời, cơ quan cấp bảo lãnh cũng cần thẩm định kỹ các thông tin để đảm bảo việc cấp bảo lãnh Chính phủ được chính xác. Nghị định số 04/2017/NĐ-CP ngày 16/01/2017 của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ quy định DN phải cung cấp đầy đủ hồ sơ, chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác của các số liệu, hồ sơ cung cấp cho Bộ Tài chính (Điều 55) và điều này đã được ghi nhận ở khoản 2 Điều 48 Luật Quản lý nợ công năm 2017.

Về phía cơ quan cấp bảo lãnh, Bộ Tài chính cần có những thông tin về DN từ một bên thứ ba để bảo đảm tính khách quan. Nghị định số 04/2017/NĐ-CP quy định trong trường hợp cần bổ sung thông tin, Bộ Tài chính lấy ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan quản lý ngành về các vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý có liên quan đến chương trình, dự án vay vốn đề nghị cấp bảo lãnh chính phủ (khoản 3 Điều 14 và khoản 3 Điều 16). Đây là quy định cần thiết nhằm nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc cấp bảo lãnh Chính phủ. Trách nhiệm tham gia ý kiến với Bộ Tài chính của các bộ, cơ quan ngang bộ trong quá trình thẩm định chủ trương cấp bảo lãnh và thẩm định cấp bảo lãnh Chính phủ cũng đã được ghi nhận ở khoản 3 Điều 48 Luật Quản lý nợ công năm 2017. Trên thực tế, việc thẩm định dự án được Chính phủ bảo lãnh phần lớn dựa trên giải trình của chủ dự án, không có trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan như Bộ Xây dựng trong dự án xi măng, Bộ Công thương trong dự án điện[4]… Khi các bộ, ngành tham gia vào quá trình thẩm định dự án cấp bảo lãnh Chính phủ, nếu dự án rủi ro sẽ quy lại trách nhiệm các bộ, ngành và họ phải giải trình về vấn đề này. Tuy vậy, Nghị định số 04/2017/NĐ-CP mới chỉ dừng ở việc quy định các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan quản lý ngành có trách nhiệm tham gia ý kiến về các vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý có liên quan đến chương trình, dự án vay vốn đề nghị cấp bảo lãnh Chính phủ theo đề nghị của Bộ Tài chính (khoản 6 Điều 53) mà chưa quy định rõ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan quản lý ngành phải chịu trách nhiệm về việc tham gia ý kiến.

Bên cạnh việc lấy ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan quản lý ngành như trên, Bộ Tài chính có thể thẩm định chương trình, dự án dựa trên thông tin về DN của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm[5]. Việc các DN được xếp hạng tín nhiệm có ý nghĩa quan trọng đối với người cho vay, người bảo lãnh và chính DN. Người cho vay sẽ có căn cứ để xem xét khả năng trả nợ của DN bên cạnh việc DN được cấp bảo lãnh Chính phủ; người bảo lãnh cũng có căn cứ để xem xét cấp bảo lãnh cho DN nhằm hạn chế rủi ro với nợ công; còn DN có kết quả xếp hạng tín nhiệm tốt thì sẽ huy động được nhiều vốn hơn. Các thông tin về DN của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm là một kênh thông tin độc lập, tin cậy, khách quan giúp Bộ Tài chính có thêm cơ sở xem xét việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho DN. Tuy nhiên, pháp luật hiện nay chưa quy định điều kiện để DN được cấp bảo lãnh Chính phủ là DN phải được xếp hạng tín nhiệm. Không những thế, ở Việt Nam hiện nay, các thông tin đánh giá, xếp hạng DN còn thiếu[6], nên Bộ Tài chính chưa thể dựa vào kênh thông tin này trong quá trình xem xét cấp bảo lãnh Chính phủ.

Để đảm bảo việc cấp bảo lãnh Chính phủ hiệu quả, cũng cần nâng cao trách nhiệm của cơ quan cấp bảo lãnh trong việc thẩm định chương trình, dự án đề nghị cấp bảo lãnh. Trên thực tế, nhiều đối tượng không đủ điều kiện được bảo lãnh nhưng vẫn được cấp bảo lãnh Chính phủ, khi mất khả năng thanh toán lại được Chính phủ trả nợ thay. Báo cáo kiểm toán năm 2013 của Kiểm toán Nhà nước cho thấy, bất cập trong việc cấp bảo lãnh Chính phủ, nhất là với những chương trình, dự án vay vốn nước ngoài do khâu thẩm định có vấn đề. Một minh chứng cho thấy, nợ nước ngoài được bảo lãnh đến hết năm 2012 là 7,2 tỉ USD, tăng gần 29% so với năm trước. Nhưng tại thời điểm cấp bảo lãnh, hầu hết các chủ đầu tư dự án chưa bố trí đủ mức vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng 20% so với tổng mức vốn đầu tư mà chỉ cam kết sẽ đảm bảo tỷ lệ theo quy định. Họ cũng chưa báo cáo về tiến độ góp vốn chủ sở hữu trong quá trình triển khai dự án[7]. Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định trách nhiệm này của Bộ Tài chính tại điểm a khoản 1 Điều 36, nhưng đến Luật Quản lý nợ công năm 2017 lại không ghi nhận điều này.

3. Bất cập trong giám sát hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ cho doanh nghiệp vay vốn

Quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của Nhà nước là một quyền hiến định (Điều 69 Hiến pháp năm 2013). Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 cụ thể hóa quyền giám sát của Quốc hội về ngân sách nhà nước, đó là “giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước” (khoản 10 Điều 19). Trong khi đó, nợ một số doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh có thể trở thành gánh nặng của ngân sách quốc gia. Áp lực này cũng khiến cho sự gia tăng tình trạng bội chi ngân sách do ngân sách trung ương phải gánh chịu những khoản chi bất thường vì phải thực hiện trách nhiệm trả nợ. Chính vì vậy, Quốc hội cần phải giám sát chặt chẽ hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay của DN. Căn cứ để Quốc hội giám sát hoạt động này là vấn đề minh bạch thông tin về nợ Chính phủ bảo lãnh và bản thân hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay của DN.

Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định về nghĩa vụ của Chính phủ báo cáo Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội thông tin về nợ công, trong đó thông tin liên quan đến nợ được Chính phủ bảo lãnh bao gồm: Tình hình thực hiện kế hoạch vay, bảo lãnh và trả nợ hàng năm, trong đó có số ký kết vay, số rút vốn, trị giá phát hành, trị giá bảo lãnh, số trả nợ, số dư nợ, tỷ lệ nợ so với GDP; Tình hình thực hiện các chương trình, dự án sử dụng vốn vay của Chính phủ và vốn vay được Chính phủ bảo lãnh (Điều 44). Về phía Bộ Tài chính, cơ quan này phải thực hiện công khai thông tin về nợ công, trong đó có thông tin về nợ được Chính phủ bảo lãnh. Bộ Tài chính phải công bố định kỳ thông tin về nợ công theo quy định của pháp luật (Điều 47).

Luật Quản lý nợ công năm 2017 quy định về việc báo cáo, công bố thông tin về nợ công cụ thể hơn. Theo đó, Chính phủ báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước thông tin về nợ Chính phủ bảo lãnh bao gồm: Hạn mức bảo lãnh Chính phủ hằng năm; tình hình cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ, bao gồm các dự án bảo lãnh Chính phủ gặp khó khăn trong trả nợ và Quỹ Tích lũy trả nợ phải ứng trả thay chi tiết theo từng dự án; tình hình quản lý, sử dụng Quỹ Tích lũy trả nợ, bao gồm số liệu dư đầu kỳ, thu, chi phát sinh trong kỳ, số dư cuối kỳ (Điều 60). Bộ Tài chính là cơ quan có trách nhiệm công bố thông tin về nợ công. Thông tin về nợ Chính phủ bảo lãnh được công bố là “nợ được Chính phủ bảo lãnh bao gồm dư nợ vay và khoản ứng từ Quỹ Tích lũy trả nợ để trả nợ thay (nếu có)”. Bản tin nợ công được Bộ Tài chính phát hành 06 tháng một lần trên Trang thông tin điện tử của Bộ (Điều 61). Tuy nhiên, trên thực tế, báo cáo của Chính phủ với Quốc hội về bảo lãnh Chính phủ mới chỉ thống kê các dự án cho vay, số DN được bảo lãnh vay nợ mà chưa có thông tin chi tiết về hiệu quả sử dụng vốn vay được bảo lãnh ở từng dự án, khả năng trả nợ của từng dự án, số lượng dự án đã và đang rơi vào nguy cơ chuyển nợ dự phòng, số lượng dự án đã chuyển thành nợ chính thức của Chính phủ, số tiền trả nợ thay của Chính phủ, nguyên nhân không trả được nợ của các DN[8]. Ngoài ra, nguồn thông tin chính thống duy nhất về nợ công tại Việt Nam hiện nay là các Bản tin nợ công và các Bản tin nợ nước ngoài được tổng hợp và biên soạn bởi Bộ Tài chính. Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, bản tin nợ công mới nhất (Bản tin nợ công số 5, phát hành năm 2017) mới công bố số liệu tới năm 2015, trong khi bản tin nợ nước ngoài mới nhất (Bản tin nợ nước ngoài số 7, phát hành năm 2011) mới chỉ báo cáo về tình hình nợ đến năm 2010. Trong các bản tin nợ công này cũng không có các thông tin chi tiết, cụ thể về nợ Chính phủ bảo lãnh cho DN. Như vậy, có thể thấy, Quốc hội và người dân nói chung chưa thể có đầy đủ thông tin để giám sát hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay của DN.

Liên quan đến vấn đề báo cáo và công bố thông tin về bảo lãnh Chính phủ, có thể tham khảo Cẩm nang Minh bạch tài khóa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)[9]. Theo đó:

- Yêu cầu đối với sự minh bạch tài khóa là các cấp chính quyền trung ương báo cáo công khai bản chất và quy mô của các nghĩa vụ dự phòng của mình. Các nghĩa vụ dự phòng bao gồm các bảo lãnh công khai hoặc ngầm định của Chính phủ (trong đó, bảo lãnh vay vốn cho các công ty công là bảo lãnh công khai);

- Báo cáo về nghĩa vụ dự phòng của Chính phủ cần đưa vào tài liệu về ngân sách. Các khoản dự phòng cần được lượng hóa, phân loại. Các thông tin về những lần chính phủ phải thực hiện chi trả các nghĩa vụ dự phòng trong quá khứ cần được công khai;

- Thông tin về bảo lãnh cần phải được công khai trong tài liệu ngân sách, báo cáo tài khóa trong năm, báo cáo tài chính cuối năm cùng với các thông tin cập nhật;

- Trong năm ngân sách, chi tiết về những bảo lãnh mới được phát hành cần phải được công bố (ví dụ trên Công báo). Báo cáo tài khóa trong năm cần chỉ ra được những bảo lãnh mới được phát hành trong thời gian này, những khoản đã thanh toán cho những bảo lãnh phải thực hiện và thực trạng của những khiếu nại đối với người thụ hưởng, đồng thời cập nhật dự báo về những bảo lãnh mới sẽ được phát hành trong năm ngân sách. Các dự báo định lượng về tác động tài khóa tiềm năng của các bảo lãnh dựa trên khả năng sẽ phải thực hiện chúng cũng cần phải được công bố.

4. Một số kiến nghị và kết luận

Thông qua nghiên cứu việc cấp bảo lãnh Chính phủ và việc giám sát hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ đối với khoản vay của DN, có thể đưa ra một số kiến nghị sau:

- Cần quy định rõ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan quản lý ngành phải chịu trách nhiệm về các ý kiến về mặt chuyên môn tham gia vào quá trình thẩm định chủ trương cấp bảo lãnh và thẩm định cấp bảo lãnh cho DN.

- Cần bổ sung điều kiện cấp bảo lãnh Chính phủ là DN phải được xếp hạng tín nhiệm. Tuy nhiên, phải xây dựng khuôn khổ pháp lý chặt chẽ về hoạt động của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm để đảm bảo quyền lợi của DN trong trường hợp tổ chức xếp hạng tín nhiệm không đảm bảo tính bảo mật thông tin.

- Luật Quản lý nợ công năm 2017 cần bổ sung quy định về trách nhiệm Bộ Tài chính liên quan đến kết quả thẩm định hồ sơ đề nghị cấp bảo lãnh Chính phủ của DN như trong Luật Quản lý nợ công năm 2009. Bộ Tài chính có thể tự thẩm định hoặc dựa vào thẩm định của một bên thứ ba, chẳng hạn như thẩm định của tổ chức kiểm toán độc lập nhằm đảm bảo sự chính xác, đúng đắn của hồ sơ do DN cung cấp hay chính là để đảm bảo chỉ những đối tượng thực sự thỏa mãn điều kiện bảo lãnh mới được cấp bảo lãnh Chính phủ.

- Cần có thông tin chi tiết về các dự án được Chính phủ cấp bảo lãnh như hiệu quả sử dụng vốn vay được bảo lãnh, khả năng trả nợ, số lượng dự án có nguy cơ chuyển nợ dự phòng, số lượng dự án đã chuyển thành nợ chính thức của Chính phủ trong các báo cáo của Chính phủ với Quốc hội về bảo lãnh Chính phủ. Nội dung công bố thông tin về bảo lãnh Chính phủ ngoài các thông tin như quy định hiện nay, cần bổ sung các thông tin về những bảo lãnh mới được phát hành trong năm ngân sách, những dự báo định lượng về tác động tài khóa của những bảo lãnh mới này như khuyến nghị về minh bạch tài khóa của IMF. Bên cạnh đó, thông tin về nợ công, trong đó có nợ Chính phủ bảo lãnh cần được Bộ Tài chính tập hợp và công bố cập nhật cho đến thời điểm hiện tại. Có như vậy, Quốc hội, người dân mới giám sát hiệu quả hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ.

Tóm lại, để quản lý nợ DN được Chính phủ bảo lãnh hiệu quả, cần nhanh chóng hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm kiểm soát chặt chẽ việc cấp bảo lãnh Chính phủ đối với khoản vay của DN và tăng cường giám sát hoạt động cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ đối với khoản vay của doanh nghiệp. Có như vậy, các khoản vay của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh mới thực sự là nguồn lực cần thiết cho doanh nghiệp và đất nước.

ThS. Lê Thị Bích Huệ

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem Đặng Linh (2017), Siết các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh, Thời báo Kinh tế Sài Gòn online, ngày 10/3.

[2]. Xem Thu Hằng (2015), Bảo lãnh Chính phủ: Đừng “đổ lên đầu” nợ công!, Thời báo Kinh doanh ngày 11/9, tải từ http://www.stockbiz.vn.

[3]. Xem Việt Hà (2017), Chính phủ siết bảo lãnh nợ - Giảm rủi ro và không gánh nợ thay, VOV ngày 14/3, tải từ http://vov.vn.

[4]. Xem Mỹ Lệ (2017), Từ Nghị định 04 đến sửa Luật Quản lý nợ công, Thời báo Kinh tế Sài Gòn online ngày 10/3.

[5]. Xếp hạng tín nhiệm là một hoạt động nghiệp vụ mang tính chuyên nghiệp được tiến hành bởi một tổ chức chuyên môn (tổ chức xếp hạng tín nhiệm) nhằm đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp, tổ chức hoặc công cụ nợ.

[6]. Ở Việt Nam, mặc dù cơ sở pháp lý cho sự ra đời của tổ chức xếp hạng tín nhiệm được ban hành năm 2014 là Nghị định số 88/2014/NĐ-CP ngày 26/9/2014 của Chính phủ về dịch vụ xếp hạng tín nhiệm nhưng gần ba (03) năm sau vào tháng 7 năm 2017, Việt Nam mới có tổ chức xếp hạng tín nhiệm đầu tiên – đó là Công ty cổ phần Sài Gòn Phát Thịnh Rating (Xem Nguyên Mi (2017), Việt Nam có công ty xếp hạng tín nhiệm đầu tiên, Thanh Niên online ngày 28/7).

[7]. Xem Ngọc Lan (2014), Gánh nặng bảo lãnh nợ vay, Thời báo Kinh tế Sài Gòn online ngày 13/6.

[8]. Xem Ngọc Lan (2017), Rủi ro chưa hết trong bảo lãnh vay nợ chính phủ, Thời báo Kinh tế Sài gòn online ngày 17/3.

[9]. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2011), Cẩm nang về minh bạch tài khóa, tr. 128, 168, 169, 170.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: