Thứ bảy 05/09/2026 20:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã ở nước ta hiện nay

Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, đội ngũ công chức cấp xã là đội ngũ trực tiếp thực hiện và giải quyết các công việc liên quan đến người dân. Do đó, công chức cấp xã công tác lâu ở một vị trí chức danh nếu tìm được kẽ hở hay những khiếm khuyết của cơ chế, chính sách sẽ dễ dàng tìm cách tham nhũng hoặc tìm cách móc nối với những người có liên quan để thực hiện những hành vi tham nhũng.

Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, đội ngũ công chức cấp xã là đội ngũ trực tiếp thực hiện và giải quyết các công việc liên quan đến người dân. Do đó, công chức cấp xã công tác lâu ở một vị trí chức danh nếu tìm được kẽ hở hay những khiếm khuyết của cơ chế, chính sách sẽ dễ dàng tìm cách tham nhũng hoặc tìm cách móc nối với những người có liên quan để thực hiện những hành vi tham nhũng. Vì vậy, thực hiện việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với các chức danh công chức cấp xã để chủ động phòng, ngừa tham nhũng là điều cần thiết.

Tuy nhiên, hiện nay các quy định của pháp luật về thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất và bất cập cần được khắc phục để đảm bảo việc định kỳ chuyển đổi được thực hiện có hiệu quả, góp phần đẩy mạnh công tác phòng ngừa tham nhũng.

1. Thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã nhằm phòng ngừa tham nhũng

Định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức (CB,CC,VC) là việc người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định điều động, bố trí, phân công lại vị trí công tác đối với CB,CC,VC có đủ thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác tại các vị trí trong các lĩnh vực, ngành, nghề theo quy định phải định kỳ chuyển đổi nhằm chủ động phòng ngừa tham nhũng. Hiện nay, việc thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác được thực hiện bằng việc cơ quan quản lý CB,CC,VC ban hành quyết định điều động, bố trí lại vị trí công tác đối với CB,CC,VC.

Tại cấp xã, định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã là việc các chức danh công chức cấp xã thuộc diện phải định kỳ chuyển đổi ở đơn vị hành chính này được cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển đổi vị trí sang công tác ở đơn vị hành chính khác khi đã đủ thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì công chức cấp xã do cấp huyện quản lý[1], do đó khi thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác, Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ ban hành quyết định điều động, bố trí công tác đối với những công chức cấp xã thuộc diện định kỳ chuyển đổi.

Do đó, định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã là việc thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với các chức danh công chức cấp xã ở một đơn vị hành chính (xã, phường, thị trấn) sang công tác ở đơn vị hành chính (xã, phường, thị trấn) khác nhằm chủ động phòng ngừa tham nhũng. Tuy nhiên, ở nhiều cơ quan vẫn còn tình trạng nhận thức chưa đúng, nhầm lẫn giữa chuyển đổi vị trí công tác với luân chuyển cán bộ, công chức. Việc chuyển đổi vị trí công tác là nhằm mục đích phòng ngừa tham nhũng và được thực hiện đối với CB,CC,VC nói chung còn luân chuyển là nhằm mục đích đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ, công chức và được áp dụng đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo quản lý.

2. Quy định pháp luật về định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã

Trước đây, khi chưa có Luật Phòng, chống tham nhũng, việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác của CB,CC,VC đã được thực hiện ở một số ngành và lĩnh vực và chưa có quy định mang tính thống nhất. Năm 2005, Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng[2], trong đó, chính thức quy định việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với CB,CC,VC để phòng ngừa tham nhũng[3]. Đồng thời, trong Luật này, Quốc hội giao Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác của CB,CC,VC. Sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 để triển khai thực hiện[4]. Những quy định này đảm bảo việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với CB,CC,VC được tiến hành thống nhất và chặt chẽ hơn.

Đối với cấp xã, các quy định của pháp luật về định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với các chức danh công chức cấp xã vẫn còn một số hạn chế, bất cập sau đây:

Thứ nhất, chưa có quy định thống nhất về các chức danh công chức cấp xã phải thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác

Hiện nay, theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì công chức cấp xã có 7 chức danh: Trưởng Công an; chỉ huy trưởng quân sự; văn phòng - thống kê; địa chính - xây dựng[5]; tài chính - kế toán; tư pháp - hộ tịch; tăn hóa - xã hội. Đến nay, chưa có quy định nào quy định thống nhất trong số 7 chức danh này, chức danh nào phải định kỳ chuyển đổi vị trí công tác.

Thực tế thực hiện việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác ở các địa phương cho thấy, các địa phương thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác đối với chức danh địa chính - xây dựng và chức danh công chức tài chính - kế toán. Bên cạnh đó, có địa phương thực hiện định kỳ chuyển đổi thêm chức danh văn hóa - xã hội hoặc tư pháp - hộ tịch.

Mặt khác, có rất nhiều đối tượng tham nhũng là cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý. Những đối tượng này thường gây ra những vụ tham nhũng lớn, thiệt hại rất nghiêm trọng nhưng pháp luật hiện nay quy định không phải chuyển đổi vị trí công tác đối với các chức danh này. Đối với công chức cấp xã, chức danh trưởng công an và chỉ huy trưởng quân sự là 2 chức danh có thể được xem là chức danh công chức có chức vụ lãnh đạo, quản lý và trên thực tế hiện nay, ở các địa phương, 2 chức danh này cũng không phải thực hiện việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác.

Như vậy, hiện nay, chưa có quy định thống nhất trong các chức danh công chức cấp xã chức danh nào phải định kỳ chuyển đổi vị trí công tác. Điều này dẫn đến trong thực tế thực hiện đã có sự không thống nhất của các địa phương, có thể dẫn đến tình trạng lợi dụng các quy định về định kỳ chuyển đổi vị trí công tác để vụ lợi hoặc để “trù dập” công chức.

Thứ hai, chưa quy định thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với các chức danh công chức cấp xã thuộc diện định kỳ chuyển đổi

Trước đây, khi ban hành Nghị định số 158/2007/NĐ-CP, Chính phủ quy định thời hạn chuyển đổi vị trí công tác đối với tất cả các trường hợp, ở tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực là 3 năm (đủ 36 tháng). Qua thực tế thực hiện quy định cho thấy, thời hạn 3 năm cho mọi vị trí, ngành, nghề, lĩnh vực mà CB,CC,VC công tác là chưa phù hợp. Có những vị trí, thời hạn 3 năm chỉ vừa đủ để CB,CC,VC làm quen và bước đầu thực hiện tốt công việc, nếu chuyển đi nơi khác thì họ lại phải nghiên cứu, làm quen với công việc mới nhận, làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giải quyết công việc của cơ quan, đơn vị. Ngược lại, có những vị trí công tác, thời hạn 3 năm mới chuyển đổi là quá dài, tác dụng phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng bị hạn chế. Vì vậy, ngày 01/01/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 150/2013/NĐ-CP đã sửa đổi thời hạn chuyển đổi vị trí công tác là từ 2 năm (đủ 24 tháng) đến 5 năm (đủ 60 tháng) theo đặc thù của từng ngành, lĩnh vực. Đồng thời, Chính phủ giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định cụ thể thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ.

Tuy nhiên, hiện nay, các chức danh công chức cấp xã đảm nhận tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực ở cấp xã[6] nhưng trên thực tế các Bộ, cơ quan ngang Bộ khi quy định về thời gian định kỳ chuyển đổi công tác của CB,CC,VC thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý vẫn không quy định về các chức danh công chức cấp xã. Thiết nghĩ, cần phải bổ sung quy định về thời hạn thực hiện định kỳ chuyển đổi đối với các chức danh công chức cấp xã thuộc diện định kỳ chuyển đổi. Việc quy định này không giao cho bộ, cơ quan ngang bộ quản lý về ngành, lĩnh vực quy định vì mỗi chức danh công chức cấp xã thực hiện tham mưu Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý trên nhiều lĩnh vực của bộ, cơ quan ngang bộ[7]. Vì vậy, nếu giao cho bộ, cơ quan ngang bộ quy định thì rất khó xác định chức danh nào sẽ do bộ nào quy định.

Thứ ba, quy định về chế độ, chính sách cho công chức khi chuyển đổi vị trí công tác chưa đảm bảo

Khi thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác, công chức cấp xã ở đơn vị hành chính này sẽ được chuyển sang công tác ở đơn vị hành chính khác. Thực tế, có những trường hợp công chức cấp xã sẽ được chuyển đến các đơn vị hành chính có điều kiện khó khăn hơn so với trước. Công chức ở các phường, thị trấn ở các thành phố, thị xã có tâm lý e ngại không muốn chuyển đến công tác ở các xã, thị trấn ở các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn…

Hiện nay, chưa có quy định để khuyến khích, động viên CB,CC,VC nói chung, công chức cấp xã nói riêng chuyển đổi vị trí công tác như: nhà ở công vụ, nâng bậc lương trước thời hạn,… Bên cạnh đó, còn thiếu nhiều chính sách khuyến khích CB,CC,VC chuyển đổi như: phụ cấp đi xa, chính sách sau khi chuyển đổi…

Mặt khác, theo quy định hiện nay, ở cấp xã có phụ cấp theo loại xã. Tuy nhiên, phụ cấp này chỉ áp dụng đối với cán bộ cấp xã mà không áp dụng đối với công chức cấp xã[8]. Do đó, các chức danh công chức cấp xã được định kỳ chuyển đổi đến cũng không được hưởng mức phụ cấp này. Theo tác giả, quy định như vậy là chưa hợp lý vì khi chuyển vị trí công tác từ đơn vị hành chính cấp xã loại 3, loại 2 sang loại 1 thì tính chất công việc của công chức sẽ phức tạp hơn do tính chất của xã loại 1, loại 2, loại 3 có các yếu tố về diện tích, dân số, các yếu tố đặc thù cũng khác nhau.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, giao Bộ Nội vụ quy định thống nhất các chức danh công chức cấp xã phải định kỳ chuyển đổi vị trí công tác

Hiện nay, chưa có quy định trong các chức danh công chức cấp xã, chức danh nào phải định kỳ thực hiện chuyển đổi vị trí công tác. Do đó, cần nghiên cứu để quy định danh mục các chức danh công chức cấp xã phải định kỳ chuyển đổi vị trí công tác. Vì vậy, tác giả kiến nghị bổ sung quy định giao Bộ Nội vụ chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan quy định thống nhất các chức danh công chức cấp xã phải định kỳ chuyển đổi công tác. Theo tác giả, trong 7 chức danh công chức cấp xã thì ngoài chức danh công chức tài chính - kế toán, địa chính - xây dựng, tư pháp - hộ tịch phải định kỳ chuyển đổi (đây là các chức danh có liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực như đất đai, quản lý tài chính, ngân sách, hoạt động tư pháp, thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, dễ phát sinh tiêu cực), thì cần quy định thống nhất chức danh trưởng công an và chỉ huy trưởng quân sự cấp xã cũng phải định kỳ chuyển đổi.

Ngoài ra, cần bổ sung quy định “thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với CB,CC,VC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đang công tác tại các ngành, nghề, lĩnh vực thuộc danh mục phải chuyển đổi” để có cơ sở quy định việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với chức danh trưởng công an và chức danh chỉ huy trưởng quân sự cấp xã. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 150/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 2 Nghị định số 158/2007/NĐ-CP thì đối tượng áp dụng việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác chỉ áp dụng đối với CB,CC,VC không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, như đã phân tích, có rất nhiều trường hợp CB,CC,VC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý công tác tại các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhưng cơ quan quản lý, sử dụng, không có cơ sở để đề xuất thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với đối tượng này. Lẽ dĩ nhiên, thời gian thực hiện định kỳ chuyển đổi của các chức danh này cũng cần quy định đảm bảo phù hợp với tính chất công việc của từng chức danh.

Bên cạnh đó, xuất phát từ thực tiễn của các địa phương, cần quy định phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm quyền quyết định việc có chuyển đổi hay không chuyển đổi các chức danh công chức cấp xã trong trường hợp ở các đơn vị hành chính cấp xã có vị trí trong danh mục định kỳ chuyển đổi vị trí công tác, mà vị trí này có yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ khác với các vị trí khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó. Trong trường hợp này, có thể quy định: Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện để đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Thứ hai, quy định cụ thể thời hạn định kỳ chuyển đổi cho từng chức danh công chức cấp xã thuộc diện phải định kỳ chuyển đổi vị trí công tác

Cần quy định thống nhất thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với các chức danh công chức cấp xã phù hợp với tính chất công việc của từng vị trí chức danh cụ thể. Theo tác giả, những ngành, nghề, vị trí công tác đòi hỏi chuyên môn sâu, nhiều kinh nghiệm nên quy định thống nhất là 5 năm phải định kỳ chuyển đổi (chức danh công chức địa chính - xây dựng, tư pháp - hộ tịch, trưởng công an, chỉ huy trưởng quân sự); những chức danh công việc đặc thù, dễ xảy ra tiêu cực, tham nhũng thì quy định thống nhất 2 năm phải định kỳ chuyển đổi (chức danh tài chính - kế toán).

Hiện nay, Chính phủ giao bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản quy định cụ thể thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ[9]. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, các chức danh công chức cấp xã tham mưu Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước nhiều lĩnh vực. Do đó rất khó xác định bộ, cơ quan ngang bộ nào quy định thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác cho từng chức danh công chức cấp xã. Như vậy, đối với các chức danh công chức cấp xã, theo tác giả nên trao thẩm quyền quy định thời hạn định kỳ chuyển đổi cho Bộ Nội vụ quy định. Ngoài quy định các bộ, cơ quan ngang bộ quy định cụ thể thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với từng vị trí công tác thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ cần bổ sung quy định “Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ quy định cụ thể về thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với các chức danh công chức cấp xã”.

Thứ ba, bổ sung quy định về các chế độ, chính sách hỗ trợ cho các chức danh công chức cấp xã phải thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác

Hiện nay, phần lớn công chức cấp xã là người ở xã, phường, thị trấn nào thì làm việc ở xã, phường, thị trấn đó, trong khi mức lương của công chức cấp xã còn thấp. Do đó, ngoài thời gian làm việc, họ thường làm thêm công việc kinh tế hộ gia đình để trang trải chi phí cuộc sống. Do vậy, khi thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã có thể sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của đội ngũ này và gia đình của họ, do phải đi làm xa, không có điều kiện giúp đỡ gia đình, lại thêm chi phí tiền đi lại... Vì vậy, tác giả kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu trình Chính phủ ban hành những chính sách hỗ trợ CB,CC,VC nói chung, công chức cấp xã nói riêng thuộc đối tượng định kỳ chuyển đổi vị trí công tác để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác.

Theo tác giả, cần bổ sung các quy định về chế độ, chính sách hỗ trợ như: Phụ cấp đi công tác xa, nhà ở công vụ, hỗ trợ cho gia đình, người thân... Ngoài ra, bổ sung quy định về phụ cấp theo loại xã cho công chức được chuyển đổi đến công tác tại các xã loại 1 và loại 2 vì tính chất công việc ở các xã này sẽ khó khăn và phức tạp hơn. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu bổ sung quy định về chuyển đổi trở lại đối với vị trí công tác của công chức nhằm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưõng và tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp xã. Việc ban hành các chính sách, chế độ hỗ trợ nhằm thể hiện sự quan tâm, khuyến khích, động viên các đối tượng thuộc diện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác để đội ngũ này an tâm công tác, ổn định tâm lý và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Chuyển đổi vị trí công tác đối với CB,CC,VC nói chung và đối với công chức cấp xã nói riêng góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tham nhũng. Vì vậy, để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả vấn đề này thì việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức cấp xã nhằm phòng ngừa tham nhũng là điều cần thiết.

ThS. Nguyễn Đặng Phương Truyền
Học viện Hành chính Quốc gia cơ sở TP. Hồ Chí Minh


[1] Khoản 3 Điều 61 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008.

[2] Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2012).

[3] Xem Điều 43 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005.

[4] Nghị định này được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 150/2013/NĐ-CP ngày 01/11/2013 của Chính phủ.

[5] Chức danh này Luật quy định là địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã). Trong bài viết này, tác giả gọi tắt công chức địa chính – xây dựng.

[6] Chức trách, nhiệm vụ của công chức cấp xã được quy định cụ thể tại Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn.

[7]Ví dụ như trường hợp công chức địa chính - xây dựng thực hiện tham mưu Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý các lĩnh đất đai, tài nguyên, môi trường (thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và môi trường), xây dựng (thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng), giao thông (thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Giao thông vận tải)…

[8] Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên ở cấp xã quy định cán bộ cấp xã ở xã loại 1 được hưởng mức phụ cấp 10%, xã loại 2 hưởng mức phụ cấp 5% mức lương hiện hưởng.

[9] Xem khoản 4 Điều 1 Nghị định số 150/2013/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: