Thứ tư 23/09/2026 10:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Bài viết tập trung phân tích, đánh giá một số vấn đề còn hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm nhìn dưới góc độ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực này.

1. Thực trạng pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm được tìm thấy trong các quy định về nghĩa vụ của công dân, nghĩa vụ của người tiêu dùng và trong các quy định về lĩnh vực an toàn thực phẩm. Cụ thể, các quy định pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm được thể hiện chủ yếu trong các văn bản như: Hiến pháp năm 2013[1], Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024)[2], Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007… và các văn bản hướng dẫn thi hành. Khái quát lại các quy định, có thể thấy, người tiêu dùng thực phẩm có các nhóm nghĩa vụ cơ bản như sau:

Thứ nhất, nhóm các quy định về nghĩa vụ đặc trưng của người tiêu dùng thực phẩm. Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định ba nhóm nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, đó là: (i) Tuân thủ đầy đủ các quy định, hướng dẫn về an toàn thực phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trong vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm; (ii) Kịp thời cung cấp thông tin khi phát hiện nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm, khai báo ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm với Ủy ban nhân dân nơi gần nhất, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm; (iii) Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong quá trình sử dụng thực phẩm[3].

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định sáu nhóm nghĩa vụ cơ bản của người tiêu dùng. Ngoài 03 nhóm nghĩa vụ mang tính chất tương tự như Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã quy định thì người tiêu dùng thực phẩm còn phải thực hiện các nghĩa vụ như: Kiểm tra sản phẩm, hàng hóa trước khi nhận theo quy định của pháp luật, lựa chọn tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng; tiêu dùng không vi phạm pháp luật, không trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, không gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của mình và của người khác; chịu trách nhiệm về việc cung cấp không chính xác hoặc không đầy đủ về thông tin liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh theo quy định của pháp luật và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật[4].

Có thể thấy, nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm về cơ bản đã được cụ thể trong luật chuyên ngành là Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và được quy định một cách khá đầy đủ theo tinh thần của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023. Điều này thể hiện sự đầy đủ, rõ ràng trong các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng nhận thức rõ nghĩa vụ của mình, từ đó hạn chế vi phạm, góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của chính họ, tạo lập môi trường kinh doanh ngày càng bình đẳng.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy, trong các quy định này có một số bất cập nhất định:

- Có sự mất cân đối giữa các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm. Nhóm các quyền luôn nhiều hơn so với nhóm nghĩa vụ. Cụ thể, trong Luật An toàn thực phẩm năm 2010, người tiêu dùng thực phẩm có 05 quyền và có 03 nghĩa vụ, trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, họ có 11 quyền và 06 nghĩa vụ. Dẫu biết rằng người tiêu dùng là bên yếu thế và cần được bảo vệ nhưng ở một mức độ nhất định, rất cần thiết phải có sự hài hòa, cân xứng tương đối để bảo đảm nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng là trách nhiệm chung của toàn xã hội.

- So với quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 thì Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định chưa đầy đủ các nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, chỉ mới thể hiện được 03/06 nghĩa vụ. Thời gian qua, không ít trường hợp người tiêu dùng thực phẩm đã vi phạm các nghĩa vụ chưa được thể chế hóa cụ thể trong Luật An toàn thực phẩm như: Thói quen tiêu dùng “ưa chuộng” thực phẩm rẻ mà không quan tâm đến nguồn gốc, xuất xứ, tiêu dùng thực phẩm trái với thuần phong mỹ tục dân tộc, cụ thể, một số người tiêu dùng ưa chuộng thực phẩm giết mổ tươi sống, một số trường hợp cung cấp thông tin sai lệch về chất lượng sản phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh...

Thứ hai, nhóm các quy định về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm trong các quy phạm nguyên tắc.

Các quy định này mang tính khái quát hóa nghĩa vụ, trách nhiệm của tất cả các chủ thể trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong đó có nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm. Chẳng hạn như, tại điều khoản về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội và việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải bảo đảm công bằng, bình đẳng, không phân biệt về giới, tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội trong giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh[5]. Bên cạnh đó, Điều 3 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định sáu nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm nhưng hầu như không đề cập đến trách nhiệm, nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, mà chỉ tập trung vào tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Có thể nói, các quy định nguyên tắc này hoàn toàn cần thiết và phù hợp, là nền tảng tư tưởng để cụ thể hóa các quy định hay tổ chức thực hiện bảo đảm tính khả thi, hài hòa trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan. Tuy nhiên, các quy định này mang tính khái quát khá cao, rất ít hoặc không có các quy phạm điều chỉnh hay tác động trực tiếp đến nghĩa vụ người tiêu dùng thực phẩm, có chăng là những quy phạm ấn định trách nhiệm chung của toàn xã hội. Đây cũng là một trong những hạn chế của hệ thống quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đặc biệt là Luật An toàn thực phẩm năm 2010, chưa phù hợp với tinh thần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội.

Thứ ba, nhóm các quy định về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm trong các quy định về xử lý vi phạm.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định, người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, bằng chứng về hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh[6]. Rà soát Luật An toàn thực phẩm năm 2010 cho thấy, không có quy định mô tả hành vi bị cấm của người tiêu dùng thực phẩm, toàn bộ quy định là những hành vi bị cấm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm[7]. Riêng trong các quy định hướng dẫn thi hành tại Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, có thể liệt kê một số quy định có đề cập đến trách nhiệm của người tiêu dùng thực phẩm như: Tại khoản 2 Điều 23 quy định “phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp thông tin về an toàn thực phẩm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”, hay khoản 1 Điều 25 quy định “phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi phát hiện sự cố an toàn thực phẩm”. Tuy nhiên, tinh thần của những quy định này không chỉ hướng tới đối tượng bị xử lý duy nhất là “người tiêu dùng thực phẩm” mà là tinh thần trách nhiệm chung của mọi các tổ chức, cá nhân trong xã hội.

Có thể thấy, các quy định về xử lý vi phạm trong thực hiện nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm chỉ hạn chế ở một số quy phạm nhất định, hoặc lồng ghép chung cùng các chủ thể khác, đa phần hướng tới xử lý các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Điều này khá hợp lý vì người tiêu dùng là bên yếu thế nên cần được bảo vệ trong quan hệ với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, một khi đã quy định nghĩa vụ của họ thì cần có những chế tài tương ứng để buộc họ phải có trách nhiệm thực hiện nghiêm minh các nghĩa vụ của mình. Một khi pháp luật quy định nghĩa vụ nhưng thiếu đi các quy phạm chế tài thì tính răn đe thực hiện các nghĩa vụ đó sẽ chưa cao.

Thứ tư, nhóm các quy định về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm trong các quy định về giải quyết tranh chấp.

Khi phát sinh tranh chấp giữa người tiêu dùng với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, pháp luật sẽ dành phần lớn các quy định để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nhưng cũng không có nghĩa là loại trừ tất cả những nghĩa vụ của họ. Trong thủ tục thương lượng, khoản 2 Điều 59 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định, trong quá trình thương lượng, người tiêu dùng có trách nhiệm như: Thương lượng theo quy định của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội, quyền, trách nhiệm công dân, trình bày đúng sự thật các tình tiết của tranh chấp, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan; thực hiện kết quả thương lượng thành trên nguyên tắc trung thực, thiện chí… Quy định rõ ràng về trách nhiệm trong quá trình thương lượng là hết sức phù hợp nhằm giúp cho tranh chấp được giải quyết ổn thỏa, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Trong tố tụng trọng tài và Tòa án, khoản 1 Điều 69 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định: “Người tiêu dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật, trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh”. Quy định thể hiện rõ nghĩa vụ buộc phải thực hiện và nghĩa vụ được loại trừ của người tiêu dùng. Theo đó, người tiêu dùng có hai nghĩa vụ cơ bản phải thực hiện là: (i) Cung cấp chứng cứ; (ii) Chứng minh và nghĩa vụ loại trừ là chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Quy định này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về nghĩa vụ chứng minh của các đương sự[8].

Ngoài ra, việc quy định về nghĩa vụ chứng minh, đặc biệt loại trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh vừa ấn định được trách nhiệm của người tiêu dùng, vừa bảo vệ người tiêu dùng, bên được xem là yếu thế trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm, tạo ra vị thế công bằng tương đối giữa người tiêu dùng và bên sản xuất, kinh doanh sản phẩm. Tuy nhiên, nghĩa vụ “cung cấp chứng cứ” là phù hợp, trong khả năng của người tiêu dùng và cần cân nhắc tính khả thi, tính thực tiễn quy định nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng trong trường hợp họ tự đi khởi kiện.

2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung các quy định đặc trưng về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm trong Luật An toàn thực phẩm theo hướng: (i) Tương xứng một cách tương đối với các quy định về quyền của người tiêu dùng thực phẩm; (ii) Bổ sung đầy đủ, tương thích về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm so với các quy định về nghĩa vụ của người tiêu dùng quy định tại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023; (iii) Bổ sung một số nghĩa vụ đặc thù của người tiêu dùng thực phẩm trong Luật An toàn thực phẩm. Một số nghĩa vụ cân nhắc bổ sung như: Kiểm tra thông tin về thực phẩm, tiêu dùng thực phẩm an toàn cho sức khỏe và môi trường, tiêu dùng thực phẩm xanh bền vững, tiêu dùng thực phẩm không trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức dân tộc, tiêu dùng thực phẩm nhưng không nguy hại đến quyền lợi, tính mạng, sức khỏe của người khác… Với những quy định được bổ sung như vậy sẽ góp phần làm cân đối, hài hòa giữa các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, tương thích với các quy định mới của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và đặc biệt là có những quy phạm đặc thù, riêng biệt so với nghĩa vụ chung của người tiêu dùng, góp phần bảo vệ một cách tốt nhất tính mạng, sức khỏe con người.

Thứ hai, bổ sung một khoản trong điều luật quy định về nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm tại Luật An toàn thực phẩm để khẳng định rằng, người tiêu dùng thực phẩm cũng phải có nghĩa vụ (không nhất thiết phải thiết kế điều khoản nguyên tắc ngang bằng về nghĩa vụ giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng vì như vậy sẽ mâu thuẫn với tinh thần bảo vệ bên “yếu thế” trong các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng). Có như vậy, mới tạo sự cân xứng tương đối, công bằng trong môi trường kinh doanh, tạo cơ sở nghiêm minh cho việc thực hiện nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, thể hiện được tinh thần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội.

Thứ ba, bổ sung các quy định về chế tài xử lý khi người tiêu dùng thực phẩm vi phạm nghĩa vụ. Hiện tại, các quy định về xử lý vi phạm còn khá thiên về xác định các hành vi vi phạm, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hoặc trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm cần bổ sung các điều khoản tương ứng với việc không chấp hành hoặc không thực hiện đúng các nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm. Các chế tài cần quy định rõ ràng, có tính răn đe cao, đặc biệt là đối với những người tiêu dùng có tâm lý “tẩy chay”, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân kinh doanh chân chính. Thậm chí, trong một số trường hợp nghiêm trọng, có thể quy định chuyển từ trách nhiệm hành chính, dân sự sang trách nhiệm hình sự đối với một số hành vi vi phạm nghĩa vụ có tính chất nguy hiểm cao. Quy định như vậy sẽ góp phần tạo sự đồng bộ trong quy định của pháp luật, giúp người tiêu dùng thực phẩm ý thức cao hơn việc thực hiện nghĩa vụ của mình, qua đó, giúp tạo lập, xây dựng môi trường kinh doanh ổn định, bền vững.

Thứ tư, cân nhắc loại trừ nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng trong trường hợp tự đi khởi kiện. Theo đó, pháp luật cần quy định theo hướng ngoài việc không phải chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thì đối với nghĩa vụ chứng minh thiệt hại, có thể ấn định hẳn trách nhiệm này cho tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Với vai trò là tổ chức chuyên môn để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, có nhiều kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, là chủ thể mang tính khách quan và tôn chỉ hoạt động là hỗ trợ tối đa cho bên “yếu thế” thì thiết nghĩ, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 cần quy định: “Người tiêu dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật, trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh”. Quy định loại trừ nghĩa vụ chứng minh như vậy sẽ thể hiện tính khả thi hơn trên thực tế, người tiêu dùng hoàn toàn có thể thực hiện được việc cung cấp chứng cứ (như hóa đơn, biên lai mua hàng tại cơ sở kinh doanh thực phẩm, giấy xác nhận của cơ sở y tế về điều trị do sử dụng thực phẩm không an toàn…) còn nghĩa vụ chứng minh thiệt hại nên giao về cho tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Quy định như vậy, vừa giảm được gánh nặng cho người tiêu dùng, giúp họ có niềm tin trong theo đuổi các vụ kiện để lấy lại quyền lợi, vừa phát huy được vai trò của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, qua đó, góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng thực phẩm.

Thứ năm, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm. Xét ở mối tương quan giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng thực phẩm thì người tiêu dùng luôn là bên yếu thế, do đó, dù biết rằng cần phải sửa đổi các quy định về nghĩa vụ của họ để bảo đảm tính đồng bộ, toàn diện, khách quan, công bằng nhưng để họ có thể thực hiện tốt được nghĩa vụ của mình trên thực tế thì một số giải pháp cần chú trọng như: Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, một khi trình độ, nhận thức của người tiêu dùng được nâng cao thì họ mới có khả năng thực hiện tốt các nghĩa vụ của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, cần tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tạo điều kiện, giúp người tiêu dùng thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, khuyến khích người tiêu dùng thực hiện các nghĩa vụ một cách trung thực, thiện chí; tăng cường chất lượng công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực của đội ngũ chấp hành pháp luật; xây dựng cơ chế vinh danh các cá nhân gương mẫu trong việc thực thi nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm…

Thiết nghĩ, trong xã hội hiện đại, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không những chỉ xem xét đến các quy định kinh điển về quyền lợi của người tiêu dùng mà cần được xem xét ở khía cạnh “nghĩa vụ”, “trách nhiệm” của chính bản thân chủ thể được bảo vệ - người tiêu dùng thực phẩm. Điều đó sẽ góp phần hài hòa lợi ích các bên, góp phần ngày càng nâng tầm vị thế, vai trò của người tiêu dùng thực phẩm, qua đó, góp phần bảo vệ tốt nhất tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng, xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập./.

ThS. Thái Quốc Phong

Trường Cao đẳng Luật miền Nam

[1]. Điều 15 và Điều 46 Hiến pháp năm 2013.

[2]. Trong điều kiện Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 sắp có hiệu lực (từ ngày 01/7/2024), nội dung của bài viết này chủ yếu sử dụng các quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 để phân tích, so sánh.

[3]. Khoản 2 Điều 9 Luật An toàn thực phẩm năm 2010.

[4]. Điều 5 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.

[5]. Khoản 1 và khoản 5 Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.

[6]. Khoản 4 Điều 11 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.

[7]. Điều 5 và Điều 6 Luật An toàn thực phẩm năm 2010.

[8]. Điểm a khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 407), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: