Chủ nhật 08/02/2026 05:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Bài viết tập trung phân tích, đánh giá một số vấn đề còn hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm nhìn dưới góc độ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực này.

1. Thực trạng pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm được tìm thấy trong các quy định về nghĩa vụ của công dân, nghĩa vụ của người tiêu dùng và trong các quy định về lĩnh vực an toàn thực phẩm. Cụ thể, các quy định pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm được thể hiện chủ yếu trong các văn bản như: Hiến pháp năm 2013[1], Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024)[2], Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007… và các văn bản hướng dẫn thi hành. Khái quát lại các quy định, có thể thấy, người tiêu dùng thực phẩm có các nhóm nghĩa vụ cơ bản như sau:

Thứ nhất, nhóm các quy định về nghĩa vụ đặc trưng của người tiêu dùng thực phẩm. Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định ba nhóm nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, đó là: (i) Tuân thủ đầy đủ các quy định, hướng dẫn về an toàn thực phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trong vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm; (ii) Kịp thời cung cấp thông tin khi phát hiện nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm, khai báo ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm với Ủy ban nhân dân nơi gần nhất, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm; (iii) Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong quá trình sử dụng thực phẩm[3].

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định sáu nhóm nghĩa vụ cơ bản của người tiêu dùng. Ngoài 03 nhóm nghĩa vụ mang tính chất tương tự như Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã quy định thì người tiêu dùng thực phẩm còn phải thực hiện các nghĩa vụ như: Kiểm tra sản phẩm, hàng hóa trước khi nhận theo quy định của pháp luật, lựa chọn tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng; tiêu dùng không vi phạm pháp luật, không trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, không gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của mình và của người khác; chịu trách nhiệm về việc cung cấp không chính xác hoặc không đầy đủ về thông tin liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh theo quy định của pháp luật và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật[4].

Có thể thấy, nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm về cơ bản đã được cụ thể trong luật chuyên ngành là Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và được quy định một cách khá đầy đủ theo tinh thần của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023. Điều này thể hiện sự đầy đủ, rõ ràng trong các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng nhận thức rõ nghĩa vụ của mình, từ đó hạn chế vi phạm, góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của chính họ, tạo lập môi trường kinh doanh ngày càng bình đẳng.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy, trong các quy định này có một số bất cập nhất định:

- Có sự mất cân đối giữa các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm. Nhóm các quyền luôn nhiều hơn so với nhóm nghĩa vụ. Cụ thể, trong Luật An toàn thực phẩm năm 2010, người tiêu dùng thực phẩm có 05 quyền và có 03 nghĩa vụ, trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, họ có 11 quyền và 06 nghĩa vụ. Dẫu biết rằng người tiêu dùng là bên yếu thế và cần được bảo vệ nhưng ở một mức độ nhất định, rất cần thiết phải có sự hài hòa, cân xứng tương đối để bảo đảm nguyên tắc bảo vệ người tiêu dùng là trách nhiệm chung của toàn xã hội.

- So với quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 thì Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định chưa đầy đủ các nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, chỉ mới thể hiện được 03/06 nghĩa vụ. Thời gian qua, không ít trường hợp người tiêu dùng thực phẩm đã vi phạm các nghĩa vụ chưa được thể chế hóa cụ thể trong Luật An toàn thực phẩm như: Thói quen tiêu dùng “ưa chuộng” thực phẩm rẻ mà không quan tâm đến nguồn gốc, xuất xứ, tiêu dùng thực phẩm trái với thuần phong mỹ tục dân tộc, cụ thể, một số người tiêu dùng ưa chuộng thực phẩm giết mổ tươi sống, một số trường hợp cung cấp thông tin sai lệch về chất lượng sản phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh...

Thứ hai, nhóm các quy định về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm trong các quy phạm nguyên tắc.

Các quy định này mang tính khái quát hóa nghĩa vụ, trách nhiệm của tất cả các chủ thể trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong đó có nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm. Chẳng hạn như, tại điều khoản về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội và việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải bảo đảm công bằng, bình đẳng, không phân biệt về giới, tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội trong giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh[5]. Bên cạnh đó, Điều 3 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định sáu nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm nhưng hầu như không đề cập đến trách nhiệm, nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, mà chỉ tập trung vào tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Có thể nói, các quy định nguyên tắc này hoàn toàn cần thiết và phù hợp, là nền tảng tư tưởng để cụ thể hóa các quy định hay tổ chức thực hiện bảo đảm tính khả thi, hài hòa trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan. Tuy nhiên, các quy định này mang tính khái quát khá cao, rất ít hoặc không có các quy phạm điều chỉnh hay tác động trực tiếp đến nghĩa vụ người tiêu dùng thực phẩm, có chăng là những quy phạm ấn định trách nhiệm chung của toàn xã hội. Đây cũng là một trong những hạn chế của hệ thống quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đặc biệt là Luật An toàn thực phẩm năm 2010, chưa phù hợp với tinh thần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội.

Thứ ba, nhóm các quy định về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm trong các quy định về xử lý vi phạm.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định, người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, bằng chứng về hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh[6]. Rà soát Luật An toàn thực phẩm năm 2010 cho thấy, không có quy định mô tả hành vi bị cấm của người tiêu dùng thực phẩm, toàn bộ quy định là những hành vi bị cấm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm[7]. Riêng trong các quy định hướng dẫn thi hành tại Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, có thể liệt kê một số quy định có đề cập đến trách nhiệm của người tiêu dùng thực phẩm như: Tại khoản 2 Điều 23 quy định “phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp thông tin về an toàn thực phẩm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”, hay khoản 1 Điều 25 quy định “phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi phát hiện sự cố an toàn thực phẩm”. Tuy nhiên, tinh thần của những quy định này không chỉ hướng tới đối tượng bị xử lý duy nhất là “người tiêu dùng thực phẩm” mà là tinh thần trách nhiệm chung của mọi các tổ chức, cá nhân trong xã hội.

Có thể thấy, các quy định về xử lý vi phạm trong thực hiện nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm chỉ hạn chế ở một số quy phạm nhất định, hoặc lồng ghép chung cùng các chủ thể khác, đa phần hướng tới xử lý các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Điều này khá hợp lý vì người tiêu dùng là bên yếu thế nên cần được bảo vệ trong quan hệ với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, một khi đã quy định nghĩa vụ của họ thì cần có những chế tài tương ứng để buộc họ phải có trách nhiệm thực hiện nghiêm minh các nghĩa vụ của mình. Một khi pháp luật quy định nghĩa vụ nhưng thiếu đi các quy phạm chế tài thì tính răn đe thực hiện các nghĩa vụ đó sẽ chưa cao.

Thứ tư, nhóm các quy định về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm trong các quy định về giải quyết tranh chấp.

Khi phát sinh tranh chấp giữa người tiêu dùng với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, pháp luật sẽ dành phần lớn các quy định để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nhưng cũng không có nghĩa là loại trừ tất cả những nghĩa vụ của họ. Trong thủ tục thương lượng, khoản 2 Điều 59 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định, trong quá trình thương lượng, người tiêu dùng có trách nhiệm như: Thương lượng theo quy định của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội, quyền, trách nhiệm công dân, trình bày đúng sự thật các tình tiết của tranh chấp, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan; thực hiện kết quả thương lượng thành trên nguyên tắc trung thực, thiện chí… Quy định rõ ràng về trách nhiệm trong quá trình thương lượng là hết sức phù hợp nhằm giúp cho tranh chấp được giải quyết ổn thỏa, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Trong tố tụng trọng tài và Tòa án, khoản 1 Điều 69 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định: “Người tiêu dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật, trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh”. Quy định thể hiện rõ nghĩa vụ buộc phải thực hiện và nghĩa vụ được loại trừ của người tiêu dùng. Theo đó, người tiêu dùng có hai nghĩa vụ cơ bản phải thực hiện là: (i) Cung cấp chứng cứ; (ii) Chứng minh và nghĩa vụ loại trừ là chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Quy định này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về nghĩa vụ chứng minh của các đương sự[8].

Ngoài ra, việc quy định về nghĩa vụ chứng minh, đặc biệt loại trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh vừa ấn định được trách nhiệm của người tiêu dùng, vừa bảo vệ người tiêu dùng, bên được xem là yếu thế trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm, tạo ra vị thế công bằng tương đối giữa người tiêu dùng và bên sản xuất, kinh doanh sản phẩm. Tuy nhiên, nghĩa vụ “cung cấp chứng cứ” là phù hợp, trong khả năng của người tiêu dùng và cần cân nhắc tính khả thi, tính thực tiễn quy định nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng trong trường hợp họ tự đi khởi kiện.

2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung các quy định đặc trưng về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm trong Luật An toàn thực phẩm theo hướng: (i) Tương xứng một cách tương đối với các quy định về quyền của người tiêu dùng thực phẩm; (ii) Bổ sung đầy đủ, tương thích về nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm so với các quy định về nghĩa vụ của người tiêu dùng quy định tại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023; (iii) Bổ sung một số nghĩa vụ đặc thù của người tiêu dùng thực phẩm trong Luật An toàn thực phẩm. Một số nghĩa vụ cân nhắc bổ sung như: Kiểm tra thông tin về thực phẩm, tiêu dùng thực phẩm an toàn cho sức khỏe và môi trường, tiêu dùng thực phẩm xanh bền vững, tiêu dùng thực phẩm không trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức dân tộc, tiêu dùng thực phẩm nhưng không nguy hại đến quyền lợi, tính mạng, sức khỏe của người khác… Với những quy định được bổ sung như vậy sẽ góp phần làm cân đối, hài hòa giữa các quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, tương thích với các quy định mới của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và đặc biệt là có những quy phạm đặc thù, riêng biệt so với nghĩa vụ chung của người tiêu dùng, góp phần bảo vệ một cách tốt nhất tính mạng, sức khỏe con người.

Thứ hai, bổ sung một khoản trong điều luật quy định về nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm tại Luật An toàn thực phẩm để khẳng định rằng, người tiêu dùng thực phẩm cũng phải có nghĩa vụ (không nhất thiết phải thiết kế điều khoản nguyên tắc ngang bằng về nghĩa vụ giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng vì như vậy sẽ mâu thuẫn với tinh thần bảo vệ bên “yếu thế” trong các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng). Có như vậy, mới tạo sự cân xứng tương đối, công bằng trong môi trường kinh doanh, tạo cơ sở nghiêm minh cho việc thực hiện nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm, thể hiện được tinh thần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội.

Thứ ba, bổ sung các quy định về chế tài xử lý khi người tiêu dùng thực phẩm vi phạm nghĩa vụ. Hiện tại, các quy định về xử lý vi phạm còn khá thiên về xác định các hành vi vi phạm, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hoặc trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm cần bổ sung các điều khoản tương ứng với việc không chấp hành hoặc không thực hiện đúng các nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm. Các chế tài cần quy định rõ ràng, có tính răn đe cao, đặc biệt là đối với những người tiêu dùng có tâm lý “tẩy chay”, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân kinh doanh chân chính. Thậm chí, trong một số trường hợp nghiêm trọng, có thể quy định chuyển từ trách nhiệm hành chính, dân sự sang trách nhiệm hình sự đối với một số hành vi vi phạm nghĩa vụ có tính chất nguy hiểm cao. Quy định như vậy sẽ góp phần tạo sự đồng bộ trong quy định của pháp luật, giúp người tiêu dùng thực phẩm ý thức cao hơn việc thực hiện nghĩa vụ của mình, qua đó, giúp tạo lập, xây dựng môi trường kinh doanh ổn định, bền vững.

Thứ tư, cân nhắc loại trừ nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng trong trường hợp tự đi khởi kiện. Theo đó, pháp luật cần quy định theo hướng ngoài việc không phải chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thì đối với nghĩa vụ chứng minh thiệt hại, có thể ấn định hẳn trách nhiệm này cho tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Với vai trò là tổ chức chuyên môn để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, có nhiều kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, là chủ thể mang tính khách quan và tôn chỉ hoạt động là hỗ trợ tối đa cho bên “yếu thế” thì thiết nghĩ, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 cần quy định: “Người tiêu dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật, trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh”. Quy định loại trừ nghĩa vụ chứng minh như vậy sẽ thể hiện tính khả thi hơn trên thực tế, người tiêu dùng hoàn toàn có thể thực hiện được việc cung cấp chứng cứ (như hóa đơn, biên lai mua hàng tại cơ sở kinh doanh thực phẩm, giấy xác nhận của cơ sở y tế về điều trị do sử dụng thực phẩm không an toàn…) còn nghĩa vụ chứng minh thiệt hại nên giao về cho tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Quy định như vậy, vừa giảm được gánh nặng cho người tiêu dùng, giúp họ có niềm tin trong theo đuổi các vụ kiện để lấy lại quyền lợi, vừa phát huy được vai trò của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, qua đó, góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng thực phẩm.

Thứ năm, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm. Xét ở mối tương quan giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng thực phẩm thì người tiêu dùng luôn là bên yếu thế, do đó, dù biết rằng cần phải sửa đổi các quy định về nghĩa vụ của họ để bảo đảm tính đồng bộ, toàn diện, khách quan, công bằng nhưng để họ có thể thực hiện tốt được nghĩa vụ của mình trên thực tế thì một số giải pháp cần chú trọng như: Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, một khi trình độ, nhận thức của người tiêu dùng được nâng cao thì họ mới có khả năng thực hiện tốt các nghĩa vụ của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, cần tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tạo điều kiện, giúp người tiêu dùng thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, khuyến khích người tiêu dùng thực hiện các nghĩa vụ một cách trung thực, thiện chí; tăng cường chất lượng công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực của đội ngũ chấp hành pháp luật; xây dựng cơ chế vinh danh các cá nhân gương mẫu trong việc thực thi nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm…

Thiết nghĩ, trong xã hội hiện đại, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không những chỉ xem xét đến các quy định kinh điển về quyền lợi của người tiêu dùng mà cần được xem xét ở khía cạnh “nghĩa vụ”, “trách nhiệm” của chính bản thân chủ thể được bảo vệ - người tiêu dùng thực phẩm. Điều đó sẽ góp phần hài hòa lợi ích các bên, góp phần ngày càng nâng tầm vị thế, vai trò của người tiêu dùng thực phẩm, qua đó, góp phần bảo vệ tốt nhất tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng, xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập./.

ThS. Thái Quốc Phong

Trường Cao đẳng Luật miền Nam

[1]. Điều 15 và Điều 46 Hiến pháp năm 2013.

[2]. Trong điều kiện Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 sắp có hiệu lực (từ ngày 01/7/2024), nội dung của bài viết này chủ yếu sử dụng các quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 để phân tích, so sánh.

[3]. Khoản 2 Điều 9 Luật An toàn thực phẩm năm 2010.

[4]. Điều 5 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.

[5]. Khoản 1 và khoản 5 Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.

[6]. Khoản 4 Điều 11 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.

[7]. Điều 5 và Điều 6 Luật An toàn thực phẩm năm 2010.

[8]. Điểm a khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 407), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: