Thứ tư 18/03/2026 02:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định về khung giá đất trong Dự thảo Luật Đất đai hiện hành

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2013 được ban hành đã mang lại những kết quả tích cực trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai của Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn tồn tại một số vấn đề còn hạn chế, bất cập, chưa phù hợp. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai là điều rất quan trọng, cấp thiết. Một trong những nội dung trọng tâm hiện nay chính là tại Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đề xuất bãi bỏ quy định về khung giá đất. Bài viết chỉ ra một số bất cập trong quy định về khung giá đất, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện về vấn đề này.

Abstract: The 2013 Land Law was promulgated, bringing positive results in the process of land management and use by the State. However, besides that, there are still some problems that are still limited, inadequate and inappropriate. Therefore, it is very important and urgent to amend, supplement and continue to improve the law on land. One of the current key contents is that in the Draft Land Law, the Ministry of Natural Resources and Environment has proposed to abolish the regulation on the land price bracket. The article points out a number of shortcomings in the regulations on land price brackets, thereby making recommendations to improve this issue.

Trải qua gần 09 năm thực thi, Luật Đất đai năm 2013 đã cho thấy được tầm quan trọng khi trở thành công cụ pháp lý để Nhà nước quản lý, điều tiết các vấn đề, chính sách về đất đai, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của Luật Đất đai năm 2003 trước đó. Có thể thấy rằng, những kết quả mà Luật Đất đai năm 2013 mang lại là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai và thi hành luật này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt là trong bối cảnh của nền kinh tế - xã hội chuyển biến không ngừng như hiện nay. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 cho phù hợp với yêu cầu và tình hình mới là điều rất quan trọng, cấp thiết. Trong những nội dung được đưa ra bàn bạc và thảo luận thì tại Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thế chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao (Nghị quyết số 18-NQ/TW) đã xác định về việc bãi bỏ quy định khung giá đất. Đây được xem là một trong những nội dung quan trọng được đưa vào trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) hiện nay.

1. Quy định pháp luật về khung giá đất và sự cần thiết của việc bãi bỏ khung giá đất

Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã điều chỉnh khung giá đất một cách cụ thể. Theo đó, khung giá đất sẽ do Chính phủ ban hành định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng. Trong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung thì lúc này, Chính phủ sẽ có vai trò điều chỉnh lại cho phù hợp[1]. Tức là, khung giá đất chỉ được áp dụng định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất khác nhau, không có tính chất cố định và sẽ tăng giảm phụ thuộc vào thị trường. Theo đó:

Thứ nhất, việc xây dựng khung giá đất sẽ dựa vào căn cứ sau:

- Nguyên tắc định giá đất được quy định tại Điều 112 Luật Đất đai năm 2013: (i) Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá; (ii) Theo thời hạn sử dụng đất; (iii) Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất; (iv) Cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự nhau thì có mức giá như nhau.

- Tuân thủ phương pháp định giá đất trong những trường hợp đáp ứng gồm: So sánh trực tiếp, chiết trừ, thu nhập, thặng dư và hệ số điều chỉnh. Các phương pháp này đã được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất.

- Tuân thủ các kết quả tổng hợp, phân tích thông tin về giá đất thị trường; các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, quản lý và sử dụng đất đai ảnh hưởng đến giá đất.

Thứ hai, đối tượng được áp dụng khung giá đất sẽ bao gồm cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai; cơ quan có chức năng xây dựng, điều chỉnh, thẩm định khung giá đất, bảng giá đất; tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất, cá nhân hành nghề tư vấn xác định giá đất; tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Theo đó, tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động về đất đai thì đều áp dụng khung giá đất mà Nhà nước quy định với hai loại khung giá đất dựa trên hai nhóm đất chính là nhóm đất nông nghiệp và nhóm đất phi nông nghiệp.

Thứ ba, về trình tự, thủ tục xây dựng khung giá đất: Theo Điều 8 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất, trình tự này trải qua 07 giai đoạn, mỗi giai đoạn sẽ có vai trò và ý nghĩa khác nhau nhưng chung quy lại, đều nhằm xây dựng khung giá đất ở mức độ phù hợp nhất, trình tự này lần lượt trải qua các giai đoạn như sau: (i) Xác định loại đất, vùng kinh tế, loại đô thị trong xây dựng khung giá đất; (ii) Điều tra, tổng hợp, phân tích thông tin về giá đất thị trường; các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, quản lý và sử dụng đất đai ảnh hưởng đến giá đất; (iii) Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện khung giá đất hiện hành; (iv) Xây dựng khung giá đất và tờ trình về việc ban hành khung giá đất; (v) Tổ chức, lấy ý kiến về dự thảo khung giá đất; (vi) Thẩm định dự thảo khung giá đất; (vii) Hoàn thiện khung giá đất trình Chính phủ ban hành. Có thể thấy rằng, để có một khung giá đất phù hợp thì phải qua nhiều giai đoạn và mất nhiều thời gian, đội ngũ nhân lực để thực hiện.

Khung giá đất là quy định đã có từ lâu, tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay đã bộc lộ nhiều hạn chế và việc bãi bỏ quy định này theo đánh giá là sẽ mang lại nhiều ý nghĩa trong công tác quản lý đất đai của Nhà nước. Theo tinh thần tại Nghị quyết số 18-NQ/TW đã đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý và sử dụng đất đồng bộ với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, một trong các giải pháp được đưa ra là hoàn thiện cơ chế xác định giá đất với việc bãi bỏ quy định về khung giá đất, có cơ chế, phương pháp xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường, quy định chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của cơ quan có nhiệm vụ xác định giá đất. Có thể thấy rằng, việc bãi bỏ khung giá đất mang lại nhiều ý nghĩa, cụ thể:

Một là, hoàn thiện cơ chế định giá đất.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Chính phủ sẽ ban hành khung giá đất định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất và theo từng vùng. Trong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá trên thị trường tăng hoặc giảm từ 20% trở lên so với khung giá đất thì Chính phủ sẽ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp và các địa phương khi xây dựng bảng giá đất phải dựa vào khung giá đất. Đây là nguyên nhân chính dẫn tới thực trạng bảng giá đất do địa phương xây dựng không sát với giá giao dịch thực tế trên thị trường[2]. Có nghĩa là, bảng giá đất mà địa phương công bố vì phải nằm trong giới hạn của khung giá đất, không được quy định vượt quá khung đã đưa ra nên bảng giá đất sẽ rơi vào tình trạng không phù hợp với giá giao dịch trên thị trường, từ đó, gây thất thoát nguồn lực tài chính ngân sách nhà nước khi giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng. Bên cạnh đó, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp đất đai kéo dài của người dân về vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Do vậy, khi bãi bỏ quy định về khung giá đất thì địa phương sẽ xác định bảng giá đất dựa trên giá giao dịch của thị trường, thích ứng linh hoạt với tình hình thực tế, quyền lợi của người dân sẽ được bảo đảm và công tác quản lý đất đai của Nhà nước cũng được thực hiện dễ dàng hơn.

Hai là, ngăn ngừa tham nhũng.

Mặc dù Luật Đất đai năm 2013 có quy định giá đất trong khung phải ngang bằng với giá thị trường, tuy nhiên, trên thực tế, chỉ bằng khoảng 30% - 70% giá thị trường và gây ra hệ lụy liên quan đến vấn đề trục lợi, tham nhũng đất đai. Theo đó, việc giao đất và cho thuê đất hiện nay vẫn lấy giá đất ở trong khung giá đất nhân với hệ số 1,2 - 2, giá đất giao cho nhà đầu tư vẫn chỉ chiếm 60% giá thị trường. Đây là một trong những “kẽ hở” dẫn đến thất thoát nguồn thu ngân sách. Ngoài ra, tình trạng cò đất, môi giới thổi giá, tạo sốt ảo ngày càng nghiêm trọng do dựa vào các kỳ điều chỉnh khung giá đất của Chính phủ[3]. Vì vậy, việc bãi bỏ quy định khung giá đất sẽ là cơ hội để hạn chế tình trạng tham nhũng.

Ba là, khắc phục tình trạng hai giá.

Nếu áp dụng khung giá đất do Chính phủ quy định thì tình trạng hai giá đất vẫn tiếp diễn liên tục. Theo đó, khi thực hiện các nghĩa vụ của Nhà nước thì người dân chỉ muốn giá đất rẻ để số tiền thuế đóng vào ngân sách nhà nước ít, còn khi đền bù do thu hồi đất thì người dân lại muốn đất có giá trị cao để được hưởng lợi nhiều[4]. Do vậy, khi bãi bỏ quy định về khung giá đất và việc xác định giá đất dựa trên thị trường thì việc thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến đất đai hay giá đền bù đất do thu hồi sẽ theo giá trị đất đai trên thị trường hiện có và người dân vẫn sẽ được hưởng giá trị cao từ việc đền bù đất đai, đồng thời phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình liên quan đến đất đai. Điều này làm cho tình trạng tranh chấp đất đai, các khiếu kiện về giá trị của đất đai sẽ hạn chế bởi quyền lợi của người dân đã được bảo đảm ngay từ đầu và công tác quản lý đất đai cũng sẽ đạt nhiều hiệu quả tích cực.

Có thể thấy rằng, việc bãi bỏ quy định về khung giá đất có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai, một trong những sửa đổi lớn mà Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) do Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất đã cho thấy những nhìn nhận kịp thời về bất cập, hạn chế còn tồn tại của Luật Đất đai năm 2013 và các mâu thuẫn giữa các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.

2. Kiến nghị hoàn thiện

Khung giá đất được đặt ra nhằm mục đích quản lý giá đất trên thị trường, làm căn cứ để “khống chế” bảng giá đất của các địa phương xác định nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế nhiều bất cập phát sinh từ việc xây dựng và ban hành khung giá đất hiện nay thì việc đề xuất bãi bỏ khung giá đất được xem là cấp thiết và đáp ứng nhu cầu của người sử dụng đất, nhu cầu quản lý và thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước. Việc bỏ khung giá đất sẽ kéo theo cơ chế, phương pháp xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm nhiệm vụ, mục tiêu hoàn thiện cơ chế xác định giá đất mà Nghị quyết số 18-NQ/TW đã đề ra. Đây được xem là sự sửa đổi kịp thời, phù hợp với thực tế sử dụng và quản lý đất đai hiện nay, hạn chế, khắc phục tình trạng hai giá đất, tham nhũng và hoàn thiện các quy định về cơ chế xác định giá đất mà Luật Đất đai năm 2013 còn vướng mắc. Việc bãi bỏ nội dung Chính phủ quy định khung giá đất tại Điều 113 Luật Đất đai năm 2013 để các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tự xác định giá đất phù hợp với giá thị trường đòi hỏi sự đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền địa phương được chủ động xác định giá đất, không còn trong tình trạng bị động do phải dựa vào khung giá đất. Quy định này sẽ là cơ sở cho việc tăng cường sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp thẩm định giá. Việc định giá này được tiến hành trên địa bàn phục vụ cho việc xây dựng bảng giá đất cụ thể, sát với giá thị trường, gắn với đó là hình thành cơ chế hữu hiệu để giám sát việc thực hiện xây dựng bảng giá đất nhằm loại trừ các trường hợp quy định bảng giá đất thấp hơn để thu hút đầu tư, giảm tiền bồi thường…[5]. Tuy nhiên, để hiện thực hóa quy định này thì cần phải có quy định rõ ràng trong xác định giá đất dựa trên giá thị trường, cơ quan nào quản lý và kiểm soát, cơ quan nào sẽ là chủ thể chịu trách nhiệm khi có sai sót xảy ra, cần lên phương án áp dụng cụ thể để bảo đảm rằng các quy định đưa vào thực tiễn không bị cứng nhắc, đồng thời có sự linh hoạt phù hợp với chuyển biến chung trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013.

Có thể thấy, để áp dụng hiệu quả quy định này, trước tiên, cần quy định rõ giá đất phù hợp với giá thị trường phải dựa trên nguyên tắc nào, bởi thực tế, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn chưa có khái niệm pháp lý nào liên quan đến thuật ngữ này. Theo đó, dưới góc độ kinh tế, giá thị trường là giá được hình thành một cách khách quan, chỉ do sự tác động qua lại đơn thuần của hai yếu tố cung và cầu mà không chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ chủ thể nào, kể cả phía Nhà nước. Còn dưới góc độ pháp lý, giá đất phổ biến trên thị trường là mức giá có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong các giao dịch đã chuyển nhượng trên thị trường, trúng đấu giá quyền sử dụng đất, giá đất xác định từ chi phí, thu nhập của các thửa đất có cùng mục đích sử dụng tại một khu vực và trong một khoảng thời gian nhất định[6]. Mặc dù việc xác định bảng giá đất của các địa phương sẽ được dựa trên giá đất thị trường, tuy nhiên, một thực tế chỉ ra rằng, không phải lúc nào giá đất thị trường cũng phản ảnh đúng và đầy đủ giá thị trường bởi nếu có hiện tượng mua bán ép giá, mua bán giữa những người thân quen, giá chuyển nhượng khác với giá thực tế để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế… Do vậy, việc xác định bảng giá đất dựa trên giá thị trường cũng còn nhiều hạn chế nên để thể hiện chính xác giá đất tại một địa phương thì cần phải dựa trên nhiều yếu tố khác nhau và cần có sự hỗ trợ của các tổ chức định giá đất nhằm bảo đảm rằng, đất đai khi chuyển nhượng phải được định giá chính xác nhất để bảo đảm quyền lợi tối ưu của người sử dụng đất và công tác quản lý đất đai của Nhà nước trở nên hiệu quả.

Từ các vấn đề phân tích nêu trên, có thể thấy rằng, việc bãi bỏ quy định về khung giá đất theo tinh thần của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) là điều quan trọng và cấp thiết, bởi điều này sẽ giúp khắc phục được các vấn đề còn hạn chế, bất cập đã tồn tại trong thời gian qua như đã đề cập. Tuy nhiên, để quy định này bảo đảm được tính khả thi trong quá trình đi vào áp dụng thì việc tiếp tục nghiên cứu, đánh giá, lấy ý kiến đóng góp về việc hoàn thiện quy định này là điều rất quan trọng và cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

(Ảnh: Internet)

[1]. Điều 113 Luật Đất đai năm 2013.

[2]. Thu Hà, Nghị quyết Trung ương 5 về đất đai: Đột phá mang tính bước ngoặt về tư duy, https://vov.vn/chinh-tri/nghi-quyet-trung-uong-5-ve-dat-dai-dot-pha-mang-tinh-buoc-ngoat-ve-tu-duy-post960086.vov, truy cập ngày 10/12/2022.

[3]. Văn Duẩn, “Bỏ khung giá đất để dẹp nạn đầu cơ”, https://nld.com.vn/thoi-su/bo-khung-gia-dat-de-dep-nan-dau-co-20220723205909209.htm, truy cập ngày 10/12/2022.

[4]. Vương Trần, Bỏ khung giá đất, xác định theo thị trường sẽ khắc phục tình trạng hai giá, https://laodong.vn/thoi-su/bo-khung-gia-dat-xac-dinh-theo-thi-truong-se-khac-phuc-tinh-trang-hai-gia-1071464.ldo?gidzl=zI0RIVmTF5JtEHD6-me-LFSq4qdWNMjRuJCMIBnOEGhWPXTBk5iuMhbf7aYrMZDSkcHE7MGv2Xua_XqsNm, truy cập ngày 10/12/2022.

[5]. Ngô Long, Ngô Trí Trung, Giải pháp khắc phục bất cập giá đất, định giá đất hiện nay, https://reatimes.vn/nhung-ton-tai-bat-cap-ve-gia-dat-dinh-gia-dat-hien-nay-20201224000009748.html, truy cập ngày 10/12/2022.

[6]. Hoàng Trung Hiếu, Thực trạng quy định pháp luật về định giá đất ở Việt Nam hiện nay, https://reatimes.vn/thuc-trang-quy-dinh-phap-luat-ve-dinh-gia-dat-o-viet-nam-20201224000004791.html, truy cập ngày 10/12/2022.

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 376), tháng 3/2023

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường pháp lý và thúc đẩy hội nhập, việc rà soát, đánh giá và hoàn thiện pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bài viết phân tích mâu thuẫn hiện hành trong quy định pháp luật về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, làm rõ nguyên nhân từ góc độ kỹ thuật lập pháp và tư duy điều chỉnh; đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của pháp luật về hợp đồng, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Đột phá thể chế - nền móng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và tạo đột phá chiến lược được đặt ra với tính cấp thiết và chiều sâu chưa từng có. Đột phá thể chế không chỉ là yêu cầu cải cách quản lý, mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển, sức cạnh tranh và bản lĩnh tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn mới. Trên cơ sở tiếp cận thể chế như hạ tầng mềm của phát triển, bài viết phân tích vai trò trung tâm của đột phá thể chế - đặc biệt là thể chế bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả, nghiêm minh và nhất quán - đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030. Thông qua làm rõ những điểm mới về thể chế trong dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, bài viết khẳng định: chỉ khi nâng cao thực chất hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật, thể chế mới thực sự trở thành nền móng cải cách và động lực nội sinh cho phát triển nhanh, bền vững.
Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Hoàn thiện, thống nhất khung pháp lý về an ninh mạng

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công an đã xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật An ninh mạng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo Luật gồm 09 chương với 58 điều, đang được thảo luận tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV; đã có 70 lượt đại biểu phát biểu ý kiến tại tổ (ngày 31/10/2025), 15 lượt đại biểu phát biểu tại hội trường (ngày 06/11/2025) và 05 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi ý kiến bằng văn bản.
Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Cần thiết ban hành Luật An ninh mạng đáp ứng yêu cầu phát triển mới về công nghệ số

Nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và Luật An ninh mạng năm 2018, dự án Luật An ninh mạng đã được xây dựng trên cơ sở hợp nhất 02 luật nêu trên và đang được Quốc hội khóa XV xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10.
Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam và những điểm mới trong dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; đồng thời, bổ sung một số nội dung mới để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Xây dựng dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình hiện nay

Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là một trong những hình thức hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, đồng thời, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Pháp luật Việt Nam về dẫn độ và những điểm cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về dẫn độ trong giai đoạn hiện nay

Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó.
Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Góp ý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự hướng tới một hành lang pháp lý hiệu quả và đồng bộ

Việc xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động TTTP nói chung và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nói riêng, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: