Đây là một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách (Nghị định số 66/2025/NĐ-CP). Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2025 và thay thế Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn và Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc.
 |
Nghị định số 66/2025/NĐ-CP gồm 05 chương và 15 điều được xây dựng nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về chính sách dân tộc, chính sách của Quốc hội và Chính phủ về phát triển giáo dục và đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; đồng thời thu hẹp khoảng cách về giáo dục giữa các vùng miền, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, củng cố và duy trì bền vững kết quả phổ cập giáo dục mầm non, tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Trên cơ sở đó, Nghị định được áp dụng cho đối tượng là trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên gồm: Trẻ em nhà trẻ bán trú học tại cơ sở giáo dục mầm non; học sinh bán trú học tại cơ sở giáo dục phổ thông; học viên bán trú học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông; học sinh dân tộc nội trú học tại cơ sở giáo dục phổ thông được cấp có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh dân tộc nội trú, Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc, Trường Hữu nghị 80, Trường Hữu nghị T78; học sinh dự bị đại học học tại trường dự bị đại học, Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc.
Nội dung Nghị định được xây dựng trên cơ sở kế thừa Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn (Nghị định số 116/2016/NĐ-CP) và Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc, trong đó có những điểm mới sau:
Thứ nhất, bổ sung đối tượng trẻ em, học sinh, học viên được hưởng chính sách.
Nghị định đã bổ sung 02 nhóm đối tượng là trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 03 tuổi (trẻ em nhà trẻ) bán trú học tại cơ sở giáo dục mầm non được hưởng chính sách (khoản 1 Điều 4) gồm: (i) Trẻ em nhà trẻ thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn đang học tại cơ sở giáo dục mầm non công lập thuộc xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; (ii) Trẻ em nhà trẻ người dân tộc thiểu số thường trú tại xã khu vực II, khu vực I vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang học tại cơ sở giáo dục mầm non công lập thuộc xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đối tượng trẻ em nhà trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa được hưởng bất kỳ chính sách hỗ trợ giáo dục nào. Do vậy, việc bổ sung các quy định này không chỉ góp phần phổ cập giáo dục mầm non ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi mà còn bảo đảm công bằng trong thụ hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
Bên cạnh đó, thực hiện quy định tại khoản 2 Điều 85 Luật Giáo dục năm 2019 và nội dung “Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chính sách cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bố trí đủ kinh phí thực hiện các chương trình, dự án, đề án đã được Quốc hội, Chính phủ phê duyệt liên quan đến chế độ, chính sách cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Có giải pháp cụ thể, sớm thu hẹp khoảng cách về giáo dục giữa thành thị và nông thôn, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” tại Nghị quyết số 41/2021/QH15 ngày 13/11/2021 của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XV, Nghị định đã bổ sung thêm đối tượng học sinh được hưởng chính sách học sinh bán trú, cụ thể: “Người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều theo quy định của Chính phủ mà bản thân và bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ thường trú tại xã khu vực II, khu vực I vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”. Ngoài ra, việc bổ sung quy định này cũng khắc phục những khó khăn về phân định vùng mới theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung mức hưởng chính sách đối với đối tượng là trẻ em nhà trẻ bán trú, học sinh bán trú, học viên bán trú, học sinh dân tộc nội trú và học sinh dự bị đại học.
Nghị định đã sửa đổi một số quy định về kinh phí hỗ trợ tiền ăn, hỗ trợ tiền nhà ở tại Nghị định số 116/2016/NĐ-CP. Theo đó:
(i) Về kinh phí hỗ trợ tiền ăn: Trẻ em nhà trẻ bán trú sẽ được hỗ trợ mỗi tháng là 360.000 đồng và được hưởng không quá 09 tháng/năm học; học sinh bán trú và học viên bán trú được hỗ trợ mỗi tháng là 936.000 đồng và được hưởng không quá 09 tháng/năm học; học sinh bán trú lớp 1 là người dân tộc thiểu số có học tiếng Việt trước khi vào học chương trình lớp 1 được hưởng thêm 01 tháng (khoản 1, khoản 2 Điều 6). Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, cần phải tăng mức hỗ trợ tiền ăn cho học sinh bán trú, bởi, quy định về mức hỗ trợ tiền ăn “mỗi học sinh được hỗ trợ mỗi tháng bằng 40% mức lương cơ sở và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh” như khoản 1 Điều 5 Nghị định số 116/2016/NĐ-CP còn thấp so với nhu cầu chi tiêu thực tế và không bảo đảm mức sống sinh hoạt hàng ngày cho học sinh.
(ii) Về hỗ trợ tiền nhà ở: Mức hỗ trợ tiền nhà ở mỗi tháng đối với học sinh phải tự túc chỗ ở do nhà trường không thể bố trí ở bán trú trong trường được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định số 116/2016/NĐ-CP bằng 10% mức lương cơ sở và được hưởng không quá 09 tháng/năm học/học sinh. Mức hỗ trợ này còn thấp dẫn đến việc học sinh không đủ tiền để thuê nhà để ở. Vì vậy, Nghị định số 66/2025/NĐ-CP đã sửa đổi theo hướng quy định: “Mỗi học sinh bán trú, học viên bán trú phải tự túc chỗ ở do nhà trường không thể bố trí chỗ ở trong trường hoặc học sinh lớp 1, lớp 2, học sinh khuyết tật có nhu cầu tự túc chỗ ở gần trường để người thân chăm sóc thì mỗi tháng được hỗ trợ 360.000 đồng và được hưởng không quá 09 tháng/năm học” (điểm b khoản 2 Điều 6).