Thứ hai 21/09/2026 19:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết quả thực hiện Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” ở huyện Nậm Pồ

Nậm Pồ là huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Điện Biên, có tổng diện tích tự nhiên 149.559,12 ha, 15 xã (trong đó có 08 xã biên giới), 121 bản, với tổng dân 65.117 người, gồm 08 thành phần dân tộc chính, trong đó: Dân tộc Mông chiếm 69,18%; dân tộc Thái chiếm 18,50%; dân tộc Dao chiếm 4,15%; dân tộc Kinh chiếm 3,21%; dân tộc Khơ Mú chiếm 1,58%; dân tộc Hoa chiếm 1,52%; dân tộc Kháng chiếm 0,91%; dân tộc Cống chiếm 0,75%, còn lại là các dân tộc khác chiếm 0,2%.

UBND huyện Nậm Pồ phát động Chương trình Tháng hưởng ứng ngày chuyển đổi số quốc gia và ngày chuyển đổi số tỉnh Điện Biên

Trong thời gian qua, huyện Nậm Pồ luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh; sự giúp đỡ của các sở, ban, ngành tỉnh, đồng thời, huy động được sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị huyện trong triển khai thực hiện Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Đề án 06), đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, Nậm Pồ là huyện miền núi, biên giới đặc biệt khó khăn, địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo cao (45,77%); trình độ dân trí không đồng đều, một bộ phận nhân dân hiểu biết pháp luật còn hạn chế; hệ thống công nghệ thông tin và hạ tầng số chưa đồng bộ, còn 20/121 bản chưa có điện lưới quốc gia, 11 bản và 05 nhóm chưa có sóng điện thoại, 41 bản và 06 nhóm có sóng điện thoại nhưng yếu, tỷ lệ người dân có điện thoại thông minh ước đạt 47%, đây là những khó khăn ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện Đề án 06 trên địa bàn huyện.

Ủy ban nhân dân huyện ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, trọng tâm là Kế hoạch số 512/KH-UBND ngày 09/3/2022 về triển khai thực hiện Quyết định phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Công văn số 193/UBND-CA ngày 06/02/2023 về việc tiếp tục đẩy mạnh triển khai, thực hiện các nhiệm vụ Đề án 06. Thành lập Ban chỉ đạo, Tổ giúp việc cấp huyện, 15 Tổ công tác Đề án 06 cấp xã, 121 Tổ công tác cấp bản, 121 Tổ trợ gỉúp công nghệ cộng đồng và thành lập tổ công tác đặc biệt tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân cài đặt, kích hoạt tài khoản định danh điện tử, ứng dụng VNeID.

Đoàn viên, thanh niên huyện Nậm Pồ tham gia diễu hành hưởng ứng tháng chuyển đổi số

Huyện đã thu thập, cập nhật và đồng bộ vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư 61.203/61.203 dữ liệu dân cư, đạt tỷ lệ 100%. Hoàn thành cập nhật dữ liệu hội viên các đoàn thể, hoàn thành một số chỉ tiêu làm sạch dữ liệu như: Dữ liệu khu công nghiệp; trùng thông tin số chứng minh nhân dân vợ/chồng; dữ liệu sai lệch Bảo hiểm thất nghiệp; sai lệch thông tin giữa ngành thuế với dữ liệu dân cư; sai lệch thông tin giữa Bộ Tư pháp và dữ liệu dân cư; huỷ, xác lập lại số định danh cá nhân mới; cập nhật 5.026 phiếu thông tin phương tiện giao thông, 31.414 phiếu thu thập thông tin người lao động. Về công tác quản lý cư trú: Tổng số hộ, nhân khẩu hiện đang cư trú trên địa bàn là 12.253 hộ, 65.117 nhân khẩu (nhân khẩu nữ là 30.116, nhân khẩu từ 14 tuổi trở lên là 39.886), trong đó, thường trú 11.333 hộ, 61.203 nhân khẩu, tạm trú 920 hộ, 3.914 nhân khẩu; lưu trú 1.367 nhân khẩu; tạm vắng 31 nhân khẩu.

Đối với công tác thu nhận hồ sơ căn cước công dân, định danh điện tử, trong năm 2023, huyện đã triển khai cấp 4.654 thẻ căn cước công dân có gắn chíp điện tử cho công dân đủ điều kiện trên địa bàn huyện theo kế hoạch; thu nhận được 29.867 tài khoản định danh điện tử; cài đặt, kích hoạt 29.333 tài khoản định danh điện tử. Tính đến ngày 21/5/2023, huyện đã hoàn thành thu nhận 100% căn cước công dân cho công dân đủ điều kiện trên địa bàn; thu nhận được 34.133 hồ sơ cấp tài khoản định danh điện tử, đạt tỷ lệ 91,6%; kích hoạt được 31.613 tài khoản định danh điện tử, đạt tỷ lệ 85% (hoàn thành chỉ tiêu Bộ Công an, Công an tỉnh giao). Tổ chức phát động ủng hộ sim điện thoại cho người nghèo để thực hiện Đề án 06 trên địa bàn huyện, đã ủng hộ được tổng số tiền 285.000.000 đồng tương đương 7.125 sim. Đã triển khai mua 3.485 sim, hỗ trợ đăng ký sim chính chủ cho 3.485 người dân thuộc diện khó khăn trên địa bàn huyện.

Kết quả tiếp nhận và giải quyết thủ tục dịch vụ công thiết yếu: Đã triển khai thực hiện 25/25 dịch vụ công thiết yếu theo yêu cầu của Đề án 06 trong giai đoạn 2022 - 2023. Duy trì tốt việc tiếp nhận hồ sơ trên cổng dịch vụ công, nhiều thủ tục đạt 100%, trong đó: Tiếp nhận, giải quyết dịch vụ công trực tuyến lĩnh vực cư trú 10.456/10.456 hồ sơ, đạt tỷ lệ 100%; lĩnh vực giao thông 1.800/2.242 hồ sơ, đạt tỷ lệ 80,29%; lĩnh vực căn cước công dân 532/1.418 hồ sơ, đạt tỷ lệ 37,52%; lĩnh vực tư pháp 1.199/1.267 hồ sơ, đạt tỷ lệ 94,63%; lĩnh vực tài nguyên môi trường 17/17 hồ sơ, đạt tỷ lệ 100%; lĩnh vực ngành điện 219/219, đạt tỷ lệ 100%.

Công tác số hóa, kết quả giải quyết thủ tục hành chính: Ủy ban nhân dân huyện đã tổ chức triển khai thực hiện số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính và tái sử dụng kết quả số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Qua theo dõi trên Hệ thống một cửa điện tử của huyện từ ngày 25/12/2022 đến ngày 21/11/2023: Số hóa hồ sơ thủ tục hành chính khi tiếp nhận: Tổng số hồ sơ tiếp nhận là 5.959 hồ sơ, trong đó, số hồ sơ được số hóa đầy đủ thành phần hồ sơ khi tiếp nhận là 5.668 hồ sơ, đạt tỷ lệ 95,12%, số hồ sơ chưa số hóa thành phần hồ sơ là 291 hồ sơ, chiếm 4,88%; số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính: Số hồ sơ đã giải quyết là 5.259 hồ sơ, trong đó, số hồ sơ có số hóa kết quả là 2.247 hồ sơ, đạt tỷ lệ 42,73%, số hồ sơ chưa số hóa kết quả là 3.012 hồ sơ, chiếm 57,27%.

Tuy nhiên, tiến độ thực hiện một số nội dung Đề án 06 trên địa bàn huyện đạt kết quả chưa cao, cụ thể như: Còn 3.265 công dân chưa thu nhận tài khoản định danh điện tử, 6.122 công dân chưa kích hoạt tài khoản định danh điện tử. Kết quả thực hiện dịch vụ công trực tuyến trên lĩnh vực căn cước công dân còn thấp, mới đạt 37,52%. Công tác số hóa dữ liệu hộ tịch còn chậm tiến độ theo kế hoạch đề ra, hiện còn tồn 8.413 trường hợp hộ tịch chưa đồng bộ với cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, chiếm 15,7%; công tác làm sạch thông tin sai lệch giữa sổ hộ tịch và dữ liệu dân cư đạt tỷ lệ thấp 10%. Công tác chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt cho các đối tượng bảo trợ xã hội và người có công với cách mạng đạt tỷ lệ thấp 20,02%. Công tác thu nhận, thanh toán học phí và chế độ, chính sách cho học sinh không dùng tiền mặt đạt tỷ lệ thấp 3,33%.

Trong thời gian tới, huyện Nậm Pồ tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm, kịp thời các văn bản chỉ đạo của trung ương, của tỉnh về thực hiện Đề án 06. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn về mục tiêu, yêu cầu, ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của Đề án 06; xác định việc thực hiện Đề án là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục ở tất cả các cấp, các ngành, các địa phương trên cơ sở huy động sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp và lực lượng công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Các cơ quan, đơn vị liên quan đến việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp, tăng cường công tác tuyên truyền vận động người dân, doanh nghiệp thực hiện giao dịch thủ tục hành chính trên cổng dịch vụ công, không tiếp nhận trực tiếp, nhằm tạo thói quen và khả năng tiếp cận của người dân, doanh nghiệp trong công tác thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường mạng.

Đỗ Thành Trung

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: