Thứ ba 10/02/2026 07:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kết quả thực hiện Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” ở huyện Nậm Pồ

Nậm Pồ là huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Điện Biên, có tổng diện tích tự nhiên 149.559,12 ha, 15 xã (trong đó có 08 xã biên giới), 121 bản, với tổng dân 65.117 người, gồm 08 thành phần dân tộc chính, trong đó: Dân tộc Mông chiếm 69,18%; dân tộc Thái chiếm 18,50%; dân tộc Dao chiếm 4,15%; dân tộc Kinh chiếm 3,21%; dân tộc Khơ Mú chiếm 1,58%; dân tộc Hoa chiếm 1,52%; dân tộc Kháng chiếm 0,91%; dân tộc Cống chiếm 0,75%, còn lại là các dân tộc khác chiếm 0,2%.

UBND huyện Nậm Pồ phát động Chương trình Tháng hưởng ứng ngày chuyển đổi số quốc gia và ngày chuyển đổi số tỉnh Điện Biên

Trong thời gian qua, huyện Nậm Pồ luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh; sự giúp đỡ của các sở, ban, ngành tỉnh, đồng thời, huy động được sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị huyện trong triển khai thực hiện Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Đề án 06), đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, Nậm Pồ là huyện miền núi, biên giới đặc biệt khó khăn, địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo cao (45,77%); trình độ dân trí không đồng đều, một bộ phận nhân dân hiểu biết pháp luật còn hạn chế; hệ thống công nghệ thông tin và hạ tầng số chưa đồng bộ, còn 20/121 bản chưa có điện lưới quốc gia, 11 bản và 05 nhóm chưa có sóng điện thoại, 41 bản và 06 nhóm có sóng điện thoại nhưng yếu, tỷ lệ người dân có điện thoại thông minh ước đạt 47%, đây là những khó khăn ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện Đề án 06 trên địa bàn huyện.

Ủy ban nhân dân huyện ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, trọng tâm là Kế hoạch số 512/KH-UBND ngày 09/3/2022 về triển khai thực hiện Quyết định phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Công văn số 193/UBND-CA ngày 06/02/2023 về việc tiếp tục đẩy mạnh triển khai, thực hiện các nhiệm vụ Đề án 06. Thành lập Ban chỉ đạo, Tổ giúp việc cấp huyện, 15 Tổ công tác Đề án 06 cấp xã, 121 Tổ công tác cấp bản, 121 Tổ trợ gỉúp công nghệ cộng đồng và thành lập tổ công tác đặc biệt tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân cài đặt, kích hoạt tài khoản định danh điện tử, ứng dụng VNeID.

Đoàn viên, thanh niên huyện Nậm Pồ tham gia diễu hành hưởng ứng tháng chuyển đổi số

Huyện đã thu thập, cập nhật và đồng bộ vào cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư 61.203/61.203 dữ liệu dân cư, đạt tỷ lệ 100%. Hoàn thành cập nhật dữ liệu hội viên các đoàn thể, hoàn thành một số chỉ tiêu làm sạch dữ liệu như: Dữ liệu khu công nghiệp; trùng thông tin số chứng minh nhân dân vợ/chồng; dữ liệu sai lệch Bảo hiểm thất nghiệp; sai lệch thông tin giữa ngành thuế với dữ liệu dân cư; sai lệch thông tin giữa Bộ Tư pháp và dữ liệu dân cư; huỷ, xác lập lại số định danh cá nhân mới; cập nhật 5.026 phiếu thông tin phương tiện giao thông, 31.414 phiếu thu thập thông tin người lao động. Về công tác quản lý cư trú: Tổng số hộ, nhân khẩu hiện đang cư trú trên địa bàn là 12.253 hộ, 65.117 nhân khẩu (nhân khẩu nữ là 30.116, nhân khẩu từ 14 tuổi trở lên là 39.886), trong đó, thường trú 11.333 hộ, 61.203 nhân khẩu, tạm trú 920 hộ, 3.914 nhân khẩu; lưu trú 1.367 nhân khẩu; tạm vắng 31 nhân khẩu.

Đối với công tác thu nhận hồ sơ căn cước công dân, định danh điện tử, trong năm 2023, huyện đã triển khai cấp 4.654 thẻ căn cước công dân có gắn chíp điện tử cho công dân đủ điều kiện trên địa bàn huyện theo kế hoạch; thu nhận được 29.867 tài khoản định danh điện tử; cài đặt, kích hoạt 29.333 tài khoản định danh điện tử. Tính đến ngày 21/5/2023, huyện đã hoàn thành thu nhận 100% căn cước công dân cho công dân đủ điều kiện trên địa bàn; thu nhận được 34.133 hồ sơ cấp tài khoản định danh điện tử, đạt tỷ lệ 91,6%; kích hoạt được 31.613 tài khoản định danh điện tử, đạt tỷ lệ 85% (hoàn thành chỉ tiêu Bộ Công an, Công an tỉnh giao). Tổ chức phát động ủng hộ sim điện thoại cho người nghèo để thực hiện Đề án 06 trên địa bàn huyện, đã ủng hộ được tổng số tiền 285.000.000 đồng tương đương 7.125 sim. Đã triển khai mua 3.485 sim, hỗ trợ đăng ký sim chính chủ cho 3.485 người dân thuộc diện khó khăn trên địa bàn huyện.

Kết quả tiếp nhận và giải quyết thủ tục dịch vụ công thiết yếu: Đã triển khai thực hiện 25/25 dịch vụ công thiết yếu theo yêu cầu của Đề án 06 trong giai đoạn 2022 - 2023. Duy trì tốt việc tiếp nhận hồ sơ trên cổng dịch vụ công, nhiều thủ tục đạt 100%, trong đó: Tiếp nhận, giải quyết dịch vụ công trực tuyến lĩnh vực cư trú 10.456/10.456 hồ sơ, đạt tỷ lệ 100%; lĩnh vực giao thông 1.800/2.242 hồ sơ, đạt tỷ lệ 80,29%; lĩnh vực căn cước công dân 532/1.418 hồ sơ, đạt tỷ lệ 37,52%; lĩnh vực tư pháp 1.199/1.267 hồ sơ, đạt tỷ lệ 94,63%; lĩnh vực tài nguyên môi trường 17/17 hồ sơ, đạt tỷ lệ 100%; lĩnh vực ngành điện 219/219, đạt tỷ lệ 100%.

Công tác số hóa, kết quả giải quyết thủ tục hành chính: Ủy ban nhân dân huyện đã tổ chức triển khai thực hiện số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính và tái sử dụng kết quả số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Qua theo dõi trên Hệ thống một cửa điện tử của huyện từ ngày 25/12/2022 đến ngày 21/11/2023: Số hóa hồ sơ thủ tục hành chính khi tiếp nhận: Tổng số hồ sơ tiếp nhận là 5.959 hồ sơ, trong đó, số hồ sơ được số hóa đầy đủ thành phần hồ sơ khi tiếp nhận là 5.668 hồ sơ, đạt tỷ lệ 95,12%, số hồ sơ chưa số hóa thành phần hồ sơ là 291 hồ sơ, chiếm 4,88%; số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính: Số hồ sơ đã giải quyết là 5.259 hồ sơ, trong đó, số hồ sơ có số hóa kết quả là 2.247 hồ sơ, đạt tỷ lệ 42,73%, số hồ sơ chưa số hóa kết quả là 3.012 hồ sơ, chiếm 57,27%.

Tuy nhiên, tiến độ thực hiện một số nội dung Đề án 06 trên địa bàn huyện đạt kết quả chưa cao, cụ thể như: Còn 3.265 công dân chưa thu nhận tài khoản định danh điện tử, 6.122 công dân chưa kích hoạt tài khoản định danh điện tử. Kết quả thực hiện dịch vụ công trực tuyến trên lĩnh vực căn cước công dân còn thấp, mới đạt 37,52%. Công tác số hóa dữ liệu hộ tịch còn chậm tiến độ theo kế hoạch đề ra, hiện còn tồn 8.413 trường hợp hộ tịch chưa đồng bộ với cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, chiếm 15,7%; công tác làm sạch thông tin sai lệch giữa sổ hộ tịch và dữ liệu dân cư đạt tỷ lệ thấp 10%. Công tác chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt cho các đối tượng bảo trợ xã hội và người có công với cách mạng đạt tỷ lệ thấp 20,02%. Công tác thu nhận, thanh toán học phí và chế độ, chính sách cho học sinh không dùng tiền mặt đạt tỷ lệ thấp 3,33%.

Trong thời gian tới, huyện Nậm Pồ tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm, kịp thời các văn bản chỉ đạo của trung ương, của tỉnh về thực hiện Đề án 06. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn về mục tiêu, yêu cầu, ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của Đề án 06; xác định việc thực hiện Đề án là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục ở tất cả các cấp, các ngành, các địa phương trên cơ sở huy động sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp và lực lượng công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Các cơ quan, đơn vị liên quan đến việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp, tăng cường công tác tuyên truyền vận động người dân, doanh nghiệp thực hiện giao dịch thủ tục hành chính trên cổng dịch vụ công, không tiếp nhận trực tiếp, nhằm tạo thói quen và khả năng tiếp cận của người dân, doanh nghiệp trong công tác thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường mạng.

Đỗ Thành Trung

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: