Thứ bảy 12/09/2026 23:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

Bài viết qua việc tham khảo pháp luật một số nước trên thế giới, đánh giá khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) theo Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam còn phù hợp hay cần thiết phải sửa đổi, bổ sung sau hơn 10 năm áp dụng Luật Cạnh tranh.

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để tồn tại và phát triển. Bên cạnh những doanh nghiệp sử dụng phương thức cạnh tranh trung thực phải đầu tư vào nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới; sáng tạo những sản phẩm đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng; không thiếu những doanh nghiệp cạnh tranh bằng việc sử dụng những thủ đoạn không minh bạch, lợi dụng thành quả đầu tư của doanh nghiệp khác để mang lại lợi nhuận cho bản thân mình... Hành vi đó xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối thủ cạnh tranh và đến người tiêu dùng, ở mức độ nhất định còn tác động tiêu cực đến cả nền kinh tế.

Bài viết qua việc tham khảo pháp luật một số nước trên thế giới, đánh giá khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) theo Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam còn phù hợp hay cần thiết phải sửa đổi, bổ sung sau hơn 10 năm áp dụng Luật Cạnh tranh.

CTKLM xét theo nghĩa rộng, là hành vi trái ngược với cạnh tranh lành mạnh, bao gồm tất cả những hành vi do doanh nghiệp thực hiện, bằng cách sử dụng các thủ đoạn bất chính, gây thiệt hại cho thị trường hoặc cho chủ thể kinh doanh khác trên thị trường.

Hiểu theo nghĩa này nên thời kỳ đầu CTKLM bao gồm cả hành vi hạn chế cạnh tranh. Đây là những hành vi đi ngược lại với trật tự cạnh tranh lành mạnh nói chung. Đặc thù của nhóm hành vi này là luôn hướng tới việc hình thành một sức mạnh thị trường hoặc tận dụng sức mạnh thị trường để làm cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường bị biến dạng. Sự biến dạng thị trường ở đây biểu hiện qua việc thay đổi cấu trúc thị trường, thay đổi tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, loại bỏ đối thủ, ngăn cản đối thủ tiềm năng để làm giảm đi sức ép cạnh tranh...

Đến nay, dù được điều chỉnh bằng những văn bản pháp luật riêng biệt hay được điều chỉnh chung trong cùng một đạo luật thì pháp luật cạnh tranh của các quốc gia đều thừa nhận sự khác biệt giữa hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi CTKLM.

Hành vi CTKLM, theo nghĩa hẹp không bao gồm các hành vi hạn chế cạnh tranh, xuất hiện từ rất lâu trên thế giới nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nhất quán áp dụng cho tất cả các quốc gia.

Điều 10 bis Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được coi là văn bản pháp lý đầu tiên có tính quốc tế đưa ra khái niệm về hành vi CTKLM: “Bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực, thiện chí trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi CTKLM”. Công ước cũng đưa ra 03 loại hành vi chính của CTKLM.

Khái niệm trên cho thấy tiêu chí đánh giá quan trọng nhất về tính lành mạnh của một hành vi cạnh tranh là tập quán trung thực, thiện chí. Công ước không đưa ra giải thích, hướng dẫn thế nào là tập quán trung thực, thiện chí nhưng theo nhiều học giả, có thể hiểu là những tập quán thương mại (quy tắc xử sự có hệ thống, những thói quen thương mại phổ biến được áp dụng một cách thường xuyên, liên tục trong một thời gian dài, có nội dung rõ ràng) trong đó các bên thực hiện hành vi với ý định tốt một cách ngay thẳng, thiện chí, chính trực.

Tiêu chí này này khi áp dụng vào mỗi quốc gia lại được quy định theo những cách khác nhau bởi mỗi quốc gia có thể có những khác biệt phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử của quốc gia đó. Như vậy, với cách xây dựng khái niệm như vậy, Công ước để ngỏ khái niệm để pháp luật các quốc gia thành viên có điều kiện cụ thể hóa thành khái niệm của quốc gia mình.

Pháp là một trong những quốc gia được coi là nơi khởi đầu của pháp luật về hành vi CTKLM. Lý thuyết về CTKLM của Pháp (concurrence déloyale) được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 1382 và 1383 của Bộ luật Dân sự Pháp năm 1904) và cụ thể hóa thông qua các án lệ. Theo các học giả và án lệ có thể hiểu “bị coi là hành vi CTKLM tất cả những hành vi trái với xử sự trung thực trong thương mại”[1]

Từ năm 2005, để triển khai các quy định trong Chỉ thị số 2005/29/EC về các hành vi CTKLM, Pháp đã nội luật hóa khá chi tiết trong Bộ luật tiêu dùng sửa đổi, bổ sung gần nhất ngày 11/3/2017, hành vi CTKLM được quy định tại Điều L. 121-1:

“Những hành vi CTKLM đều bị cấm.

Một hành vi bị coi là CTKLM khi nó đi ngược lại với những yêu cầu về sự cần mẫn nghề nghiệp và làm bóp méo hoặc có khả năng làm bóp méo những xử sự kinh tế của người tiêu dùng trung bình, là người có được thông tin ở mức độ thông thường, tinh ý và thận trọng ở mức độ vừa phải về một hàng hóa hoặc một dịch vụ. Tính không lành mạnh của một hành vi thương mại nhằm đến một loại khách hàng riêng biệt hoặc một nhóm khách hàng dễ bị xâm phạm vì lý do khuyết tật về trí tuệ hoặc thể chất, về lứa tuổi của họ hoặc sự cả tin của họ được đánh giá trên cơ sở khả năng phân biệt ở mức độ trung bình của loại khách hàng hay của nhóm đó.

Coi là hành vi CTKLM, một cách cụ thể những hành vi thương mại gây nhầm lẫn quy định từ Điều L.121-2 đến L. 121-4 và những hành vi thương mại mang tính cưỡng bức quy định tại Điều L. 121- 6 và Điều L.121-7”.

Theo quy định trên, tiêu chí đánh giá tính lành mạnh hay không của hành vi cạnh tranh trong pháp luật của Cộng hòa Pháp căn cứ vào yêu cầu cần mẫn nghề nghiệp và khả năng bóp méo xử sự kinh tế của khách hàng trung bình. Theo đó, cần mẫn nghề nghiệp có thể hiểu “là một dạng quy định cụ thể, được sử dụng bởi các thẩm phán, mà tính pháp quy của nó là đối tượng tranh cãi và nó đưa ra được một số giá trị căn bản mang tính quy luật, đạo đức hay tính hợp lý”[2].

Không nằm trong nhóm những quốc gia đi đầu nhưng Liên bang Nga cũng chú trọng xây dựng pháp luật về cạnh tranh. Theo Điều 4 Luật về bảo vệ cạnh tranh năm 2006 của Liên bang Nga, CTKLM được hiểu là “bất kỳ hành vi nào của chủ thể kinh doanh (nhóm chủ thể) nhằm hướng tới việc có được những ưu thế trong hoạt động thương mại, trái với pháp luật, tập quán thương mại và yêu cầu trật tự, hợp lý và công bằng mà gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho các chủ thể kinh doanh khác, đối thủ cạnh tranh hoặc làm tổn hại hay có thể làm tổn hại tới uy tín thương mại của đối thủ”.

Khái niệm trên cho thấy, hành vi CTKLM của Liên bang Nga được xác định dựa trên các dấu hiệu: Chủ thể kinh doanh; hành vi gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại; và yêu cầu trật tự, hợp lý và công bằng. Tiêu chí “trật tự, hợp lý và công bằng” trong thương mại cũng là tiêu chí kém rõ ràng và có thể biến đổi theo thời gian.

Mặc dù là quốc gia có các quy định về hạn chế cạnh tranh từ rất lâu nhưng các quy định về CTKLM của Hoa Kỳ tương đối phân tán, có sự khác biệt giữa pháp luật liên bang và pháp luật của các tiểu bang, có hành vi CTKLM được giải quyết trong lĩnh vực hoạt động của luật tư và có hành vi CTKLM thuộc sự quản lý của Ủy ban thương mại liên bang (FTC). Năm 1994, Đạo luật của Ủy ban thương mại liên bang FTC sửa đổi, khái niệm hành vi CTKLM được định nghĩa là “hành vi gây ra hoặc có thể gây ra những thiệt hại đáng kể mà người tiêu dùng không thể tránh được một cách hợp lý và thiệt hại gây ra này không bù lại được những lợi ích tương ứng do hành vi đó tạo ra cho người tiêu dùng hoặc đối thủ cạnh tranh”[3].

Ủy ban thương mại liên bang đã hình thành 3 tiêu chí để đánh giá hành vi CTKLM, đó là: Gây thiệt hại cho người tiêu dùng; vi phạm các chính sách xã hội hiện hành; vô đạo đức và không cẩn trọng. Nhưng giải thích cụ thể thế nào là vô đạo đức và không cẩn trọng? thế nào là gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì Nghị viện trao quyền giải thích cho Ủy ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ. Trong bản Tuyên bố chính sách về hành vi không lành mạnh, FTC nêu rõ: “Luật thành văn chỉ định khung cho các điều khoản chung do Nghị viện nhận thấy rằng không thể soạn ra một danh sách các hành vi không lành mạnh mà không bị lạc hậu một cách nhanh chóng hoặc tạo ra những kẽ hở cho việc vi phạm. Nhiệm vụ xác định các hành vi CTKLM thuộc về Ủy ban, với hy vọng các tiêu chí đánh giá sẽ được xem xét và phát triển”.

Như vậy có thể thấy, quy định về hành vi CTKLM trong pháp luật của các quốc gia đều không thể chỉ ra các dấu hiệu để nhận diện được hành vi CTKLM mà đều dẫn chiếu đến những khái niệm thuộc phạm trù đạo đức, văn hóa như tập quán trung thực trong thương mại, xử sự trung thực trong thương mại, cần mẫn nghề nghiệp, yêu cầu trật tự, hợp lý, công bằng... Các tiêu chí này phản ánh các quan niệm đa chiều về kinh tế, xã hội, văn hoá, đạo đức, triết học … tồn tại trong một xã hội, do đó sẽ khác nhau giữa các quốc gia hoặc thậm chí trong cùng một quốc gia. Theo thời gian, các tiêu chí này cũng có thể thay đổi. Mặt khác, trong hoạt động kinh doanh, các chủ thể kinh doanh phải luôn luôn sáng tạo ra những cái mới, độc đáo để thu hút lựa chọn của người tiêu dùng, và chừng nào chưa đạt đến mô hình cạnh tranh hoàn hảo thì chừng đó sẽ luôn song hành là những hành vi CTKLM cũng rất mang tính sáng tạo của đối thủ cạnh tranh. Do đó, việc xây dựng được một khái niệm về hành vi CTKLM vừa bao quát được các hoạt động cạnh tranh hiện tại và tương lai, vừa xác định mọi hành vi bị ngăn cấm vừa đủ linh hoạt để thích nghi với hoạt động biến đổi không ngừng của thị trường là một thách thức khó vượt qua.

Chính vì thế, giải pháp thông dụng được Công ước và pháp luật các quốc gia sử dụng đó là vừa đưa ra khái niệm mở về hành vi CTKLM vừa đưa ra danh sách các hành vi CTKLM.

Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam cũng sử dụng giải pháp trên, theo đó, hành vi CTKLM được được quy định một cách chung nhất, linh hoạt là « hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh trái với tập quán trung thực, thiện chí, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc của người tiêu dùng ».

Quy định này xác định đầy đủ các dấu hiệu của hành vi CTKLM:

- Vì mục đích cạnh tranh;

- Nhằm vào đối thủ cạnh tranh hiện hữu (cụ thể), hay nói khác đi sẽ không thể nói đến CTKLM khi mà các chủ thể không ở trong vị thế cạnh tranh với nhau[4];

- Trái với với tập quán trung thực, thiện chí;

- Đã và sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây tổn hại cho đối thủ cạnh tranh, thông qua đó tìm cách tạo cho mình những mối lợi hoặc thế mạnh bất chính.

- Gây tổn hại đến lợi ích người tiêu dùng, ảnh hưởng xấu đến hoạt động hoạt động thương mại.

Như vậy, so sánh với quy định trong pháp luật của một số quốc gia khác trên thế giới có thể thấy, khái niệm về hành vi CTKLM trong Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam vẫn tương thích. Do đó, điều cần sửa đổi, bổ sung là danh mục các các loại hành vi CTKLM quy định tại Điều 39 cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại.

ThS. Nguyễn Phương Thảo

Trường Đại học Thành Tây


[1] Jean- Jacques Burst (1993). Concurrence déloyale et parasitisme. Dalloz, Pháp, pp. 9; Yves Chaput (1988). Le droit de la concurrence. PUF, Pháp, pp.71.

[2] Stéphane Rials (1980). Le juge administratif francais et la technique du standard, essai sur le traitement juridictionnel de l’idée de normalité, thèse, LGDJ, Paris, p.3.

[3] Hồ Xuân Thắng (2015), Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam. Đề tài NCKH cấp trường, Đại học Sài Gòn, TP. HCM, tháng 8/2015, tr. 29.

[4] “Phân biệt giữa CTKLM và vi phạm quyền SHTT”, 09/12/2008, http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/12/09/2069/.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bất cập trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Bộ luật Tố tụng dân sự Vướng mắc cần tháo gỡ để nâng cao hoạt động tranh tụng của luật sư tại phiên toà hình sự Hoàn thiện thẩm quyền của hội đồng giám đốc thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp Bàn về thẩm quyền đề nghị miễn thi hành án khoản tiền phạt theo Bộ luật Hình sự Những vướng mắc trong phối hợp thực hiện quy định về “cưỡng chế trả giấy tờ” Sự cần thiết và quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật Báo cáo thống kê thi hành án dân sự - Một số vấn đề từ thực tiễn Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về phiên tòa giám đốc thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: