Anh Phúc được Công ty TNHH MT tuyển dụng làm công nhân làm việc tại công trình xây dựng của Công ty. Ngày 10/5/2026, khi làm việc trên giàn giáo cao, do không được trang bị dây an toàn nên anh bị ngã và gãy chân. Sau tai nạn, Công ty TNHH MT chỉ hỗ trợ một phần viện phí và yêu cầu anh tự nghỉ điều trị. Anh Phúc hỏi, tai nạn của anh có được xác định là tai nạn lao động hay không? Công ty TNHH MT có trách nhiệm gì đối với anh trong trường hợp này?
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trả lời:
Khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2016) quy định tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh; b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động; c) Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;
2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này;
3. Người lao động không được hưởng chế độ do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả nếu thuộc một trong các nguyên nhân quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này.
Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:
1. Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;
2. Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau: (a) Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế; (b) Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa; (c) Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;
3. Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;
4. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau: a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%; b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
5. Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều này với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng;
6. Giới thiệu để người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;
7. Thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra tai nạn lao động đối với các vụ tai nạn lao động chết người;
8. Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc;
9. Lập hồ sơ hưởng chế độ về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Mục 3 Chương này;
10. Tiền lương để làm cơ sở thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp, tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này là tiền lương bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.
Điều 5 thông tư số 28/2021/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2021 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật An toàn, vệ sinh lao động (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 25/2025/TT-BNV ngày 29/12/2025 của Bộ Nội vụ) quy định tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc điều trị, phục hồi chức năng theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi xảy ra tai nạn lao động hoặc trước khi bị bệnh nghề nghiệp. Nếu thời gian làm việc, học nghề, tập nghề, thử việc, tập sự không đủ 6 tháng thì tiền lương làm căn cứ thực hiện bồi thường, trợ cấp là tiền lương được tính bình quân của các tháng trước liền kề thời điểm xảy ra tai nạn lao động hoặc thời điểm xác định bị bệnh nghề nghiệp.
Như vậy, căn cứ tình huống mà anh Phúc hỏi và các quy định của pháp luật trên thì tai nạn của anh Phúc được xác định là tai nạn lao động vì xảy ra trong quá trình làm việc, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động tại công trình xây dựng, phù hợp với quy định tại khoản 8 Điều 3 và Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015.
Về trách nhiệm của Công ty TNHH MT đối với anh Phúc. Căn cứ vào tình huống anh Phúc hỏi và các quy định pháp luật trên thì Công ty TNHH MT phải có trách nhiệm đối với anh Phúc như sau:
- Kịp thời sơ cứu, cấp cứu và tạm ứng chi phí điều trị cho anh Phúc.
- Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định (toàn bộ chi phí nếu anh Phúc không tham gia bảo hiểm y tế; phần chi phí ngoài phạm vi bảo hiểm y tế nếu có tham gia).
- Trả đủ tiền lương cho anh Phúc trong thời gian nghỉ điều trị.
- Nếu tai nạn không hoàn toàn do lỗi của anh Phúc, công ty phải bồi thường theo mức quy định (ít nhất 1,5 tháng tiền lương nếu suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động, cứ tăng 1% cộng thêm 0,4 tháng tiền lương; từ 81% trở lên hoặc chết thì ít nhất 30 tháng tiền lương).
- Nếu tai nạn hoàn toàn do lỗi của anh Phúc, công ty vẫn phải trợ cấp ít nhất bằng 40% mức bồi thường nêu trên.
- Giới thiệu anh Phúc đi giám định y khoa, lập hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động nếu đủ điều kiện.
Trường hợp Công ty TNHH MT không thực hiện đúng các nghĩa vụ trên, anh Phúc có quyền khiếu nại hoặc tố cáo đến cơ quan quản lý lao động hoặc khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình.Top of Form