Chị Hải cho biết: Chị ký hợp đồng lao động với Công ty M với thời hạn dưới 01 năm. Sau khi làm việc được 1,5 tháng, do thấy công việc nặng nhọc, không phù hợp nên chị đã nộp đơn xin nghỉ việc để chấm dứt hợp đồng lao động. 10 ngày làm việc sau khi nộp đơn, chị nghỉ việc mà không có sự chấp thuận của Công ty M. Chị yêu cầu Công ty trả lương cho những ngày làm việc và trả lại hồ sơ, giấy tờ chị đã nộp cho Công ty khi ký hợp đồng nhưng Công ty M không đồng ý vì cho rằng chị tự ý nghỉ việc không có sự chấp thuận, đồng ý của Công ty M. Chị Hải hỏi, việc Công ty M không đồng ý với yêu cầu của chị với lý do như vậy có đúng pháp luật hay không?
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trả lời:
Điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng.
Chị Hải đã nộp đơn xin nghỉ việc cho công ty trước 03 ngày làm việc mới chính thức nghỉ việc, cho nên, việc chấm dứt hợp đồng lao động của chị Hải là đúng pháp luật. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định đây là “quyền đơn phương” nên chị Hải chỉ cần tuân thủ thời hạn báo trước mà không cần phải có sự chấp thuận hay đồng ý của Công ty M.
Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
“1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:
a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;
b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;
c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.
2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:
a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;
b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả.”
Như vậy, theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019, việc Công ty M không trả lương và không trả lại hồ sơ cho chị Hải là trái với quy định của pháp luật. Chị Hải có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết đến cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu cử hòa giải viên hòa giải, nếu không hài lòng với quyết định hòa giải thì chị Hải có thể gửi đơn đến Tòa án nhân dân khu vực nơi Công ty M đặt trụ sở để yêu cầu giải quyết buộc Công ty M phải trả tiền lương và trả lại hồ sơ cho chị.