1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động kiểm sát thi hành án
Công tác kiểm sát THADS, THAHC là một phần cấu thành của kiểm sát tư pháp, một trong những chức năng hiến định của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Nhiệm vụ của VKSND là bảo đảm sự tuân thủ pháp luật để các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay) được thi hành nghiêm chỉnh, triệt để. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND được thể chế hóa tại các luật như: Luật THADS năm 2025; Luật Tố tụng hành chính năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Tố tụng hành chính năm 2015); Luật Tổ chức VKSND năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Tổ chức VKSND năm 2014).
Đối với công tác kiểm sát THADS, VKSND kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của Tòa án, cơ quan THADS, Chấp hành viên, văn phòng THADS, Thừa hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong THADS.
Đối với công tác kiểm sát THAHC, VKSND có quyền yêu cầu, kiến nghị với người phải thi hành án; cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm liên quan và cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án để có biện pháp tổ chức và chỉ đạo thi hành nghiêm chỉnh phán quyết của Tòa án.
Bên cạnh đó, khi kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS, THAHC, VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 30 Luật Tổ chức VKSND năm 2014; Điều 12 Luật THADS năm 2025; Điều 315, Điều 342 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS, VKSND có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan THADS, văn phòng THADS, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS. Khi kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THAHC, VKSND có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp, Tòa án cấp dưới trong ban hành quyết định buộc thi hành án; đối với cơ quan THADS trong theo dõi, kiểm tra THAHC và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo đảm giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
Để thực hiện chức năng kiểm sát, VKSND có hệ thống quy chế nội bộ như: Quy chế công tác kiểm sát THADS, THAHC, ban hành kèm theo Quyết định số 810/QĐ-VKSTC-V11 ngày 20/12/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao (Quy chế số 810); Quy định về quy trình, kỹ năng trực tiếp kiểm sát tại cơ quan THADS và quy trình, kỹ năng kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS, THAHC, ban hành kèm theo Quyết định số 94/QĐ-VKSTC ngày 22/3/2021 của Viện trưởng VKSND tối cao (Quy trình số 94), Quy trình về kỹ năng, trình tự kiểm sát hoạt động bán đấu giá tài sản thi hành án, ban hành kèm theo Quyết định số 308/QĐ-VKSNDTC ngày 29/8/2023 của Viện trưởng VKSND tối cao (Quy trình số 308).
![]() |
| Vụ Kiểm sát thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao |
Theo quy định của pháp luật, trong kiểm sát THADS, THAHC, VKSND có những quyền hạn sau:
Một là, quyền yêu cầu. Đây là “công cụ” thường xuyên và trực tiếp, VKSND có quyền yêu cầu chủ thể có trách nhiệm tổ chức THADS, THAHC: tự kiểm tra việc thi hành án và thông báo kết quả; cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng; ban hành văn bản... liên quan đến tổ chức THADS, THAHC. Đặc biệt, tại khoản 5 Điều 37 Luật THADS năm 2025 đã bổ sung quy định trong khâu xác minh điều kiện thi hành án, nếu có kết quả khác nhau hoặc có kháng nghị/yêu cầu của VKSND, Chấp hành viên bắt buộc phải tiến hành xác minh lại trong thời hạn 05 ngày làm việc. Điều này trao quyền cho VKSND rõ ràng hơn đối với các kết quả xác minh THADS khi phát hiện có sai lệch, thiếu khách quan, vi phạm.
Hai là, quyền trực tiếp kiểm sát. Trên cơ sở các quyết định và kế hoạch trực tiếp kiểm sát định kỳ hoặc đột xuất, VKSND tiến hành xem xét toàn diện hoạt động THADS, theo dõi THAHC của cơ quan THADS. Quá trình trực tiếp kiểm sát, VKSND có quyền xem xét sổ sách, phần mềm, hồ sơ thi hành án để nghiên cứu chi tiết từ khâu thụ lý đến khâu kết thúc thi hành án và ban hành kết luận kiểm sát. Cơ quan THADS phải nghiêm túc thực hiện, khắc phục hậu quả vi phạm được nêu trong kết luận trực tiếp kiểm sát.
Ba là, quyền kháng nghị. Đây là quyền pháp lý, đồng thời, là nhiệm vụ đặc trưng của VKSND trong hoạt động kiểm sát THADS và phải tuân theo những điều kiện chặt chẽ. Khi nhận được, phát hiện các quyết định, hành vi của Tòa án, cơ quan THADS, Chấp hành viên, văn phòng THADS, Thừa hành viên... vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì VKSND phải kháng nghị[1]. Đặc biệt, theo quy định của Luật THADS năm 2025, trường hợp thi hành án đã kết thúc, thời hạn kháng nghị chỉ kéo dài đến 01 năm. Nếu không chấp nhận kháng nghị, Trưởng cơ quan THADS, văn phòng THADS phải có văn bản đề nghị VKSND đã ban hành kháng nghị xem xét lại kháng nghị, nếu chưa thống nhất quan điểm về kháng nghị của VKSND, cơ quan THADS, văn phòng THADS bị kháng nghị báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp và VKSND tối cao; trường hợp vẫn không thống nhất được việc thực hiện kháng nghị thì trình tự cuối cùng là Viện trưởng VKSND tối cao đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS.
Bốn là, quyền kiến nghị. Theo quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014, kiến nghị được thực hiện trong trường hợp qua công tác kiểm sát, VKSND phát hiện vi phạm “ít nghiêm trọng”. Nhìn chung, kiến nghị của VKSND là biện pháp được sử dụng phổ biến, thường xuyên trong công tác kiểm sát thi hành án nhằm khắc phục và phòng ngừa vi phạm. Trong đó, trường hợp đã phát hiện, xác định có vi phạm cụ thể thì kiến nghị khắc phục vi phạm là chủ yếu, mục đích phòng ngừa vi phạm là thứ yếu. Đối với kiến nghị nhằm phòng ngừa vi phạm có thể kiến nghị trực tiếp đối với chủ thể có trách nhiệm tổ chức thi hành án và cũng có thể kiến nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
2. Ý nghĩa của công tác kiểm sát thi hành án
Về bản chất pháp lý, hoạt động kiểm sát của VKSND trong quá trình thi hành án là sự tác động mang tính độc lập, khách quan, không chịu sự chi phối của cơ quan quản lý hành chính hay cơ quan tổ chức thi hành án. Đó là cơ chế “kiểm soát” từ bên ngoài, có vai trò điều chỉnh hoạt động thi hành án tuân theo khuôn khổ pháp luật khi phát hiện sai sót, vi phạm. Vai trò này được thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, Nhà nước và xã hội. Bởi lẽ, trong THADS, xung đột lợi ích giữa các bên thường rất gay gắt, người phải thi hành án luôn tìm cách né tránh nghĩa vụ thậm chí che giấu, tẩu tán tài sản; trong khi người được thi hành án mong muốn lấy lại quyền lợi, tài sản nhanh nhất. Đối với THAHC, mâu thuẫn nội tại là bên phải thi hành án lại là cơ quan hành chính nhà nước, chủ thể nắm giữ quyền lực công. Vì vậy, VKSND thực hiện kiểm sát thi hành án vừa bảo vệ sự công bằng, góp phần bảo đảm tài sản nhà nước không bị thất thoát, vừa ngăn chặn sự lạm quyền xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của công dân.
Thứ hai, kiểm sát thi hành án là công cụ “then chốt” để kiểm soát quyền lực tư pháp và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong khi THADS liên quan trực tiếp đến định đoạt, cưỡng chế, kê biên, định giá và bán đấu giá các tài sản có giá trị rất lớn (bất động sản, cổ phần, dự án...) là môi trường dễ phát sinh nhũng nhiễu, tiêu cực hay lợi ích nhóm để trục lợi. Do đó, kiểm sát chặt chẽ, áp dụng pháp luật yêu cầu xử lý nghiêm các hành vi sai phạm là nhiệm vụ của VKSND góp phần bảo đảm tính khách quan, minh bạch, trong lĩnh vực THADS.
Thứ ba, kiểm sát tuân theo pháp luật trong thi hành án góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào nền tư pháp và chế độ xã hội chủ nghĩa. Pháp luật chỉ thực sự đi vào đời sống khi mang lại sự công bằng trên thực tế. Một bản án thắng kiện, phần dân sự trong bản án hình sự hay phán quyết của Tòa án về vụ án hành chính có nội dung thi hành sẽ gây thêm bức xúc nếu người dân không thể nhận lại được tài sản hoặc quyền lợi khác của mình do không được thi hành hoặc thi hành chậm trễ. Công tác kiểm sát thi hành án hiệu quả sẽ góp phần quan trọng xóa bỏ tình trạng trên, từ đó, nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước.
3. Thực trạng công tác kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính
3.1. Kết quả đạt được
Thời gian qua, VKSND các cấp đã triển khai nghiêm túc các luật, các văn bản dưới luật và hệ thống quy chế của ngành về công tác THADS, THAHC. Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Chỉ thị số 07/CT-VKSTC ngày 23/11/2017 về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát THADS, THAHC. Ngoài quán triệt và nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm sát THADS, THAHC, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, góp phần thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của ngành, Viện trưởng VKSND tối cao còn chỉ thị VKSND các cấp chủ động phối hợp với cơ quan THADS trong xác minh, giải quyết thi hành án tồn đọng kéo dài, khiếu kiện phức tạp; tích cực rà soát các bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ, có sai sót, khó thi hành để kiến nghị với Tòa án giải thích bản án hoặc xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; xây dựng quy chế phối hợp liên ngành trong lĩnh vực này.
Toàn ngành Kiểm sát nhân dân đã quán triệt thực hiện nghiêm Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 21/6/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường kiểm sát THADS về thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; Ban Cán sự Đảng VKSND tối cao kịp thời ban hành Kế hoạch số 05-KH/BCSĐ ngày 06/7/2021 để triển khai thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 02/6/2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế trong ngành Kiểm sát nhân dân. VKSND các cấp đã phát huy tính chủ động, bám sát các vụ án kinh tế, tham nhũng lớn ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố để yêu cầu phong tỏa, kê biên tài sản. Đến giai đoạn thi hành án, VKSND phối hợp chặt chẽ với cơ quan THADS đôn đốc xử lý tài sản kê biên. Nhờ đó, hàng nghìn tỷ đồng trong các “đại án” đã được thu hồi nộp ngân sách nhà nước[2].
VKSND các cấp đã đưa ra chỉ tiêu cụ thể để thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm hằng năm của công tác THADS: kiểm sát 100% các quyết định thi hành án; thực hiện trực tiếp xác minh về thi hành án đối với tối thiểu 03 việc thi hành án được phân loại chưa có điều kiện thi hành; kiểm sát tiêu hủy vật chứng; áp dụng biện pháp cưỡng chế, kê biên tài sản thi hành án cũng được kiểm sát chặt chẽ... Việc trực tiếp kiểm sát THADS và phúc tra (trực tiếp kiểm sát thực hiện kết luận trực tiếp kiểm sát THADS) được VKSND các cấp thực hiện nghiêm túc, đúng pháp luật và bảo đảm các chỉ tiêu của ngành, của các đơn vị. Qua kiểm sát thường kỳ và đột xuất, VKSND các cấp đã kịp thời thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu Chấp hành viên, cơ quan THADS và các tổ chức, cá nhân liên quan chấm dứt, khắc phục, phòng ngừa vi phạm và kiểm điểm những cá nhân để xảy ra vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ[3]. Các kháng nghị, kiến nghị của VKSND cơ bản đều được các cơ quan THADS, TAND tiếp thu, khắc phục.
Trong công tác kiểm sát THAHC, VKSND các cấp đã ban hành nhiều kiến nghị gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, cơ quan chức năng phải thi hành án yêu cầu thi hành nghiêm túc các bản án hành chính về đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng[4], chính sách thuế, góp phần “hạ nhiệt” các điểm nóng khiếu kiện gay gắt, đông người, kéo dài tại một số địa phương.
3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân
3.2.1. Khó khăn, vướng mắc
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn công tác kiểm sát THADS, THAHC còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc sau:
Thứ nhất, vướng mắc trong kiểm sát xử lý tài sản chung, tài sản có tranh chấp để thi hành án theo Luật THADS năm 2008. Đặc biệt, quyền sử dụng đất hộ gia đình và tài sản vợ chồng, khi người phải thi hành án chỉ có tài sản là phần quyền sở hữu chung trong khối tài sản lớn, nhưng họ không tự nguyện yêu cầu Tòa án phân chia, cơ quan THADS phải thực hiện khởi kiện phân chia tài sản hoặc tài sản được xử lý để thi hành án nhưng phát sinh tranh chấp, được Tòa án thụ lý đơn khởi kiện theo Điều 74, Điều 75 Luật THADS năm 2008. Những trường hợp này, quy trình tố tụng dân sự phức tạp, kéo dài, nhiều Tòa án còn chậm giải quyết, không loại trừ khởi kiện nhằm trốn tránh xử lý tài sản thi hành án. Như vậy, VKSND kiểm sát quá trình này gặp rất nhiều vướng mắc do phụ thuộc vào tiến độ giải quyết của Tòa án.
Thứ hai, vướng mắc trong kiểm sát thẩm định giá và đấu giá tài sản thi hành án. Đây là những hoạt động của tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp đến THADS, tuy không phải là cơ quan trực tiếp tổ chức thi hành án nhưng kết quả những hoạt động này có ý nghĩa quyết định đến kết quả thi hành án trong những trường hợp xử lý tài sản thi hành án. Việc thẩm định giá không khách quan; sự móc nối, thông đồng dìm giá, sử dụng “quân xanh, quân đỏ” trong các phiên đấu giá là một trong những khó khăn nhất trong kiểm sát THADS, một số VKSND địa phương gặp rào cản khi cần xem xét hồ sơ của doanh nghiệp thẩm định giá, đấu giá tài sản thi hành án.
Thứ ba, tình trạng “tạo lập giao dịch giả tạo” để né tránh nghĩa vụ thi hành án, chậm tổ chức thi hành án (chậm ra quyết định thi hành án, chậm xác minh điều kiện thi hành án, chậm cưỡng chế THADS...). Nhiều trường hợp người phải thi hành án cố tình lập hợp đồng mua bán tay, hợp đồng tặng cho hoặc giấy vay nợ giả với người thân, cơ quan Tòa án, THADS thụ lý tranh chấp, thêm yêu cầu thi hành án của “chủ nợ giả” này làm giảm tỷ lệ thanh toán của người được thi hành án thực sự. VKSND phát hiện các dấu hiệu bất thường, nhưng để hủy bỏ các giao dịch trên, cần phải trải qua thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu, thường phức tạp và kéo dài.
Thứ tư, tình trạng vòng vo, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm trong THAHC. Theo Luật Tố tụng hành chính 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục THAHC và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án (Nghị định số 71/2016/NĐ-CP), cơ quan THADS không có quyền cưỡng chế tài sản đối với UBND. Khi UBND “chây ỳ”, không thi hành án (thường viện lý do khó khăn khách quan, ngân sách không đủ hoặc nguồn gốc đất phức tạp), cơ quan THADS chỉ có thể ra văn bản đôn đốc và báo cáo cơ quan quản lý. VKSND kiến nghị lên cấp trên của cơ quan, người phải thi hành án, nhưng xử lý kỷ luật người đứng đầu cơ quan hành chính theo Nghị định số 71/2016/NĐ-CP hầu như không xảy ra do tâm lý “bao che, nể nang, né tránh” trong nội bộ hệ thống hành chính. Tình trạng “gác án” hành chính đã làm “xói mòn” niềm tin của người dân vào pháp luật.
Thứ năm, kiểm sát xác minh điều kiện thi hành án có lúc còn hình thức. Theo Quy chế số 810, kiểm sát xác minh là khâu trọng tâm, nhưng do áp lực công việc, biên chế mỏng, không có điều kiện kinh phí cho xác minh, cho nên, Kiểm sát viên trực tiếp xuống địa bàn, phối hợp với công an xã hay tổ trưởng dân phố để xác minh điều kiện thi hành án còn chiếm tỉ lệ thấp, không ít trường hợp Kiểm sát viên dựa trên các biên bản của Chấp hành viên để lập hồ sơ kiểm sát.
3.2.2. Nguyên nhân
Nguyên nhân của các khó khăn, vướng mắc trên là do:
Một là, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, nhất là giữa Luật THADS năm 2025 với Luật Đất đai năm 2024, Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung các năm 2022, 2025), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (đặc biệt, trong xác định tài sản chung). Đối với THAHC, hiện chưa có Luật THAHC độc lập, cơ chế tự thi hành của cơ quan quản lý nhà nước không có sự cưỡng chế vật chất là nguyên nhân “gốc rễ” của tình trạng “chây ỳ”, không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án. Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân và cả cán bộ quản lý còn thấp, sẵn sàng chống đối, khiếu nại vượt cấp để “câu giờ”, không phải thi hành án dẫn đến thi hành án còn chậm tiến độ.
Hai là, sự quan tâm của lãnh đạo VKSND tại một số địa phương chưa thực sự tương xứng với tính chất phức tạp của công tác này có tâm lý coi thi hành án là khâu “hậu tư pháp”; ở một số nơi, số lúc, còn xuất hiện tâm lý nể nang, “dĩ hòa vi quý” khi ban hành kiến nghị đối với chính quyền địa phương (UBND cùng cấp) trong THAHC.
Ba là, số lượng Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát THADS, THAHC tại các đơn vị địa phương có lượng án lớn còn mỏng, thường xuyên quá tải. Chất lượng chuyên môn ở một bộ phận cán bộ chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt, sự thiếu hụt kiến thức về tài chính, tín dụng, ngân hàng và quản lý đất đai, dẫn đến lúng túng trước các thủ đoạn tẩu tán tài sản thông qua các giao dịch dân sự giả tạo, tinh vi.
Bốn là, còn xảy ra tình trạng cục bộ trong quan hệ phối hợp liên ngành làm cho thi hành án gặp khó khăn, vướng mắc như: Tòa án nhân dân một số địa phương chậm trễ trong thụ lý, giải quyết tranh chấp tài sản thi hành án; các tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký đất đai thiếu quan tâm, chậm cung cấp thông tin tài khoản, ranh giới thửa đất; chính quyền cơ sở thiếu kiên quyết trong bảo vệ cưỡng chế.
Năm là, hệ thống công nghệ thông tin của VKSND chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách về chuyển đổi số trong tình hình mới. Mặc dù Luật THADS năm 2025 và Nghị định số 152/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS (Nghị định số 152/2026/NĐ-CP) đã thiết lập hành lang pháp lý toàn diện cho ứng dụng công nghệ, vận hành nền tảng số THADS và liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia, song hạ tầng kỹ thuật nội bộ của VKSND chưa đồng bộ, chưa xây dựng được hệ thống nền tảng số để kết nối, liên thông trực tiếp với hệ thống nền tảng số về THADS của cơ quan quản lý THADS. Sự chưa đồng bộ trong kết nối kỹ thuật này dẫn đến công tác kiểm sát hồ sơ phần lớn vẫn phải tiến hành bằng phương pháp thủ công. Kiểm sát viên phải đối chiếu chứng cứ, theo dõi thời hạn thi hành án, kiểm tra việc áp dụng biện pháp kê biên, phong tỏa tài khoản hay các giao dịch tài sản qua hồ sơ giấy, làm giảm tính kịp thời, độ nhạy bén trong phát hiện vi phạm, gây quá tải đối với Kiểm sát viên.
Sáu là, điều kiện về cơ sở vật chất, đặc biệt, ở cấp khu vực, vùng sâu, vùng xa, còn thiếu thốn, chắp vá. Các trang thiết bị chuyên dụng phục vụ số hóa tài liệu, phương tiện đi lại, thiết bị ghi âm, ghi hình để Kiểm sát viên sử dụng khi trực tiếp kiểm sát các cuộc cưỡng chế, định giá, giao nhận tài sản chưa được đầu tư đầy đủ làm hạn chế công tác kiểm sát của Kiểm sát viên. Bên cạnh đó, các chế độ phụ cấp đặc thù, cơ chế bảo vệ và tôn vinh đối với Kiểm sát viên thi hành án hiện chưa thực sự tương xứng với tính chất phức tạp, áp lực trách nhiệm nghề nghiệp cao.
4. Kiến nghị, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính
Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động THADS, THAHC trong tình hình mới, cần triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về THADS, THAHC. Ngành Kiểm sát nhân dân cần quán triệt và chuẩn bị mọi nguồn lực để thi hành ngay các quy định của Luật THADS năm 2025 và Nghị định số 152/2026/NĐ-CP. Trọng tâm là kiểm sát chặt chẽ thủ tục xử lý thi hành án chưa có điều kiện thi hành. Theo Điều 38 Luật THADS năm 2025 và Điều 22 Nghị định số 152/2026/NĐ-CP, Kiểm sát viên phải giám sát chặt chẽ, để ngăn chặn tình trạng lạm dụng luật mới nhằm loại bỏ án tồn đọng trái quy định. Bên cạnh đó, với quy định mới về chế định văn phòng THADS và Thừa hành viên tại Chương II Luật THADS năm 2025 đòi hỏi VKSND phải xây dựng và thực hiện hệ thống quy chế kiểm sát riêng biệt. Đối với THAHC, cần sớm nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật THAHC độc lập, tách khỏi Luật Tố tụng hành chính năm 2015, trong đó, thiết lập cơ chế cưỡng chế và các chế tài mạnh mẽ đối với cơ quan quản lý nhà nước không chấp hành án hành chính.
Thứ hai, tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo VKSND các cấp. Cần xác định kiểm sát thi hành án là “mũi nhọn” nghiệp vụ, nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò quan trọng của công tác kiểm sát thi hành án. Phát huy hơn nữa vai trò nêu gương của người đứng đầu, kiên quyết, bản lĩnh trong ban hành các yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị; tránh nể nang, né tránh hay “dĩ hòa vi quý” khi xử lý các vi phạm của các cơ quan có liên quan.
Thứ ba, nâng cao nhận thức pháp luật, trách nhiệm và năng lực toàn diện cho đội ngũ Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát THADS, THAHC. Khẩn trương kiện toàn bộ máy, bổ sung số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác kiểm sát thi hành án. Ngành Kiểm sát nhân dân cần có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho Kiểm sát viên về các lĩnh vực tài chính, tín dụng, ngân hàng, chứng khoán hay quản lý đất đai. Trang bị kiến thức chuyên ngành vững chắc sẽ giúp Kiểm sát viên không bị lúng túng khi tác nghiệp trước những nội dung mới, phức tạp.
Thứ tư, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả trong quan hệ phối hợp liên ngành. Cần tiếp tục tranh thủ sự ủng hộ của cấp ủy và chính quyền địa phương, VKSND cần phát huy vai trò trung tâm kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp, chủ động tham mưu cho Ban Chỉ đạo THADS các cấp nhằm khắc phục tình trạng cục bộ, đùn đẩy trách nhiệm. Đồng thời, xây dựng và thực hiện nghiêm các quy chế phối hợp liên ngành, ràng buộc rõ trách nhiệm của từng cơ quan có liên quan.
Thứ năm, đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin của ngành Kiểm sát nhân dân để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện. Khẩn trương xây dựng hệ thống nền tảng số nội bộ của VKSND có khả năng kết nối, liên thông trực tiếp với nền tảng số THADS của cơ quan quản lý THADS. Số hóa toàn trình các quy trình nghiệp vụ và ứng dụng trí tuệ nhân tạo giúp tự động hóa theo dõi thời hạn, trích xuất dữ liệu tài khoản, tài sản, chấm dứt phương pháp kiểm sát thủ công qua hồ sơ giấy, qua đó, giảm tải áp lực cho Kiểm sát viên và phát hiện vi phạm một cách nhanh chóng, chuẩn xác.
Thứ sáu, tăng cường nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất và hoàn thiện chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác kiểm sát thi hành án. Cần ưu tiên trang bị đầy đủ các thiết bị kỹ thuật chuyên dụng cho lĩnh vực kiểm sát thi hành án. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, đề xuất ban hành chế độ phụ cấp rủi ro nghề nghiệp đặc thù; xây dựng cơ chế tôn vinh những Kiểm sát viên dũng cảm, bản lĩnh trong công tác kiểm sát THADS, THAHC.
Công tác kiểm sát THADS, THAHC đóng vai trò “then chốt” trong bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và hiện thực hóa các phán quyết của Tòa án. Đây không chỉ là chức năng hiến định của VKSND mà còn là công cụ quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, đồng thời, góp phần kiểm soát quyền lực tư pháp và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong bối cảnh kỷ nguyên mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, đặc biệt, yêu cầu triển khai ngay các quy định của Luật THADS năm 2025, ngành Kiểm sát nhân dân cần quyết liệt thực hiện đồng bộ các giải pháp đã đề ra. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực toàn diện cho đội ngũ Kiểm sát viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành là những yếu tố cốt lõi để tạo sự chuyển biến thực chất. Đặc biệt, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống THADS (19/7/1946 - 19/7/2026), việc nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động này càng mang ý nghĩa chính trị, pháp lý sâu sắc. Sự đồng hành, giám sát chặt chẽ và phối hợp hiệu quả giữa VKSND và các cơ quan THADS không chỉ giúp tháo gỡ những “điểm nghẽn” trong thực tiễn, bảo đảm mọi bản án có hiệu lực phải được thi hành nghiêm minh, mà còn là hành động thiết thực nhất để tri ân lịch sử 80 năm của Hệ thống THADS. Qua đó, tiếp tục củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào nền tư pháp, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng vững mạnh./.
Vụ Kiểm sát thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
[1]. Khoản 1 Điều 6 Luật Tổ chức VKSND năm 2014.
[2]. Năm 2025, công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt đạt kết quả nổi bật, tổng số tiền thu hồi là 45.531 tỷ đồng, trong đó, gần 4.000 tỷ đồng thực hiện theo Nghị quyết số 164/2024/QH15 ngày 28/11/2024 của Quốc hội về thí điểm xử lý vật chứng, tài sản trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một số vụ việc, vụ án hình sự. Tỷ lệ thu hồi tài sản trong án tham nhũng đạt 85,9%.
[3]. Thông qua trực tiếp kiểm sát, VKSND đã phát hiện nhiều trường hợp Chấp hành viên chậm ra quyết định thi hành án, tự ý phân loại án chưa có điều kiện khi chưa đi xác minh thực địa. VKSND tối cao đã ban hành kháng nghị yêu cầu hủy bỏ các kết quả bán đấu giá tài sản do có sự thông đồng, móc ngoặc giữa tổ chức đấu giá và người mua, bảo vệ tài sản hàng chục tỷ đồng cho đương sự.
[4]. Năm 2024, trên cơ sở kiểm sát, theo dõi, tổng hợp báo cáo của VKSND các địa phương, VKSND tối cao đã ban hành 27 kiến nghị đối với UBND, Chủ tịch UBND 27 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau sáp nhập còn 20 tỉnh, thành phố, về việc khắc phục tình trạng THAHC còn tồn đọng. Đến ngày 31/3/2026, đã có 259/459 bản án hành chính được kiến nghị đã thi hành dứt điểm, đạt tỷ lệ 56,43%. Thực hiện kiến nghị, yêu cầu của VKSND tối cao qua kiểm sát THAHC, 01 doanh nghiệp đã được giải quyết hồ sơ hoàn thuế kéo dài 10 năm, đã được hoàn thuế hơn 16 tỷ; 02 địa phương người phải thi hành án đã xây dựng phương án, thực hiện bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất cho hàng chục hộ dân. VKSND Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành 08 kiến nghị; VKSND tỉnh Bắc Ninh ban hành 04 kiến nghị đối với UBND, Chủ tịch UBND là người phải thi hành án và cấp trên trực tiếp của người phải THAHC. Một số địa phương đã tiếp thu kiến nghị của VKSND, khắc phục ngay vi phạm, tích cực thi hành bản án, quyết định hành chính mặc dù chưa có quyết định buộc thi hành án. Riêng UBND tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức thi hành xong 10/11 bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật, chưa có quyết định buộc THAHC, đạt tỷ lệ 90,91%.
(Nguồn: Ấn phẩm “80 năm Thi hành án dân sự Việt Nam - Vẻ vang truyền thống, vững bước tương lai”, xuất bản năm 2026)