Thứ tư 23/09/2026 07:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm từ giải quyết một vụ việc tố cáo

Trong thời gian qua, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự được Bộ Tư pháp

Tổng cục Thi hành án dân sự, các cơ quan thi hành án dân sự địa phương quan tâm và chỉ đạo thực hiện khá nghiêm túc, hiệu quả; nhiều vụ việc được chỉ đạo giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở; chất lượng giải quyết các vụ việc ở một số cơ quan thi hành án dân sự địa phương chuyển biến tích cực; việc thi thành quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo ở một số địa phương tốt hơn trước, đạt tỷ lệ cao. Có được kết quả trên phải kể đến sự nỗ lực không ngừng và thái độ làm việc nghiêm túc, có trách nhiệm của cán bộ, công chức làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo đã giúp cán bộ, công chức làm công tác này rút ra được nhiều bài học, kinh nghiệm, nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu lên bài học kinh nghiệm từ giải quyết một vụ việc tố cáo.
1. Nội dung vụ việc
Ông C là người phải thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành, ngày 14/6/1995, chấp hành viên đã ban hành Quyết định cưỡng chế số 32/THA và ngày 17/6/1995 tổ chức kê biên tài sản nhà, đất của gia đình ông C và bà M tại xã V, huyện H, tỉnh T để đảm bảo thi hành án. Sau đó, chấp hành viên tiến hành các trình tự, thủ tục định giá tài sản. Ngày 15/7/1995, bán đấu giá thành tài sản kê biên với giá 15.114.000 đồng, người trúng đấu giá là ông N, trú tại thôn 1, xã V, huyện H, tỉnh T. Nhưng sau đó, ông N không nộp tiền mua tài sản và ông T đề nghị được mua tài sản trên để thi hành án. Ngày 25/8/1995, chấp hành viên đã giao tài sản cho người mua trúng đấu giá là ông T.
Như vậy, việc thi hành án dân sự đã kết thúc từ năm 1995. Tuy nhiên, đến tháng 01/2013, ông C, bà M tố cáo ông S - Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh T có hành vi vi phạm pháp luật khi ra quyết định thi hành án mà người được thi hành án không yêu cầu và không thực hiện việc ủy thác thi hành án khi người phải thi hành án có tài sản ở nơi khác. Giải quyết tố cáo của ông C, bà M, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh T đã thành lập đoàn xác minh nội dung tố cáo. Kết quả xác minh cho thấy, người được thi hành án có làm đơn yêu cầu thi hành án; biên bản xác minh của chấp hành viên xác định ông C cư trú ở xã V, chỉ có tài sản chung ở xã V, không có tài sản ở nơi khác. Do đó, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh T ban hành kết luận nội dung ông C, bà M tố cáo nêu trên là không có cơ sở.
Không nhất trí với kết luận trên, ông C, bà M tiếp tục đến địa điểm tiếp công dân của Bộ Tư pháp để tố cáo về 14 nội dung, trong đó có những nội dung đã được giải quyết, một số nội dung tố cáo mới, cụ thể:
Thứ nhất, có 8/14 nội dung tố cáo đã được giải quyết tại Kết luận nội dung tố cáo số 358/KL-CTHA ngày 16/5/2013 và Kết luận nội dung tố cáo số 106/KL-CTHA ngày 06/3/2015 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh T, trong đó:
Nội dung tố cáo không có cơ sở gồm: (i) Chấp hành viên cưỡng chế lấy tài sản là nhà và đất ở riêng của bà M để thi hành án cho ông C là không có căn cứ pháp luật; (ii) Theo Quyết định thi hành án số 05/THA ngày 29/9/1994 thì Đơn yêu cầu thi hành án chỉ có một người ký, tuy nhiên lại được thi hành cho 4 người; (iii) Chấp hành viên không thực hiện việc ủy thác thi hành án đến cơ quan thi hành án có tài sản; (iv) Đất của bà M bị cơ quan thi hành án dân sự kê biên vượt quá diện tích; (v) Việc thông báo, tống đạt văn bản về cưỡng chế thi hành án.
Nội dung tố cáo có cơ sở gồm: (i) Quyết định thi hành án số 05/THA ngày 29/9/1994 có nội dung khác nhau giữa bản giao cho người phải thi hành án và bản lưu trong hồ sơ thi hành án; (ii) Chấp hành viên thực hiện định giá lần 2 ngày 25/8/1995 không có sự tham gia của đại diện cơ quan tài chính vật giá; (iii) Giấy báo tự nguyện thi hành án đã ghi sai số tiền trong bản án.
Thứ hai, có 5 nội dung tố cáo mới: (i) Đơn yêu cầu thi hành án không có ngày, tháng, năm; (ii) Vi phạm về đấu giá tài sản, bởi có nhiều người cùng trả một mức giá nhưng chỉ ông N là người trúng đấu giá; có 4 người tham gia phiên đấu giá không được mua lại tài sản khi ông N không nộp tiền mua tài sản, mà lại tùy tiện giao cho ông T - người không tham gia đấu giá; (iii) Biên bản giao tài sản căn cứ vào quyết định cưỡng chế không có thật, tại Biên bản ngày 25/8/1995 bàn giao nhà, đất cho ông T có ghi “căn cứ vào Quyết định cưỡng chế số 34 ngày 14/6/1995 của Đội Thi hành án” nhưng thực tế lại không có Quyết định cưỡng chế số 34, không có người giao tài sản, không có người làm chứng ký nhận là vi phạm về thủ tục; (iv) Công văn số 01/THA ngày 26/8/1994 của chấp hành viên ký ban hành khi có Quyết định thi hành án số 05/THA ngày 29/9/1994; (v) Biên bản định giá lần 1 ngày 05/7/1995 là bất hợp lý (riêng nội dung này Tổng cục Thi hành án dân sự đã chuyển đến Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh T để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền tại Công văn số 2534/TCTHADS-GQKNTC ngày 29/7/2015).
Ngoài ra, ông C cho rằng, Kết luận nội dung tố cáo số 106/KL-CTHA của Cục Thi hành án dân sự tỉnh T có nội dung ghi: “... đến ngày 30/3/1995 ông C không tự nguyện… sẽ cưỡng chế tài sản theo pháp luật” là không đúng với Biên bản giải quyết thi hành án ngày 16/3/1995. Nội dung này, Tổng cục Thi hành án dân sự đã trả lời ông C, bà M tại Thông báo số 75/TB-GQKNTC ngày 02/10/2015 như sau: Nội dung Kết luận số 106/KL-CTHA của Cục Thi hành án dân sự tỉnh T có nội dung ghi: “Biên bản giải quyết thi hành án ngày 16/3/1995 thể hiện quan điểm của Đội Thi hành án dân sự huyện H nếu đến ngày 30/3/1995 ông C không tự nguyện thi hành án thì sẽ bị cưỡng chế tài sản theo quy định của pháp luật” là phù hợp với nội dung biên bản được trích dẫn tại Kết luận nêu trên.
2. Hướng giải quyết vụ việc
Để giải quyết tố cáo nêu trên, người làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã rà soát lại toàn bộ hồ sơ thi hành án, hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo, đồng thời đối chiếu với quy định pháp luật và nhận thấy: Đối với các nội dung tố cáo đã được giải quyết tại Kết luận nội dung tố cáo số 358/KL-CTHA ngày 16/5/2013 và Kết luận nội dung tố cáo số 106/KL-CTHA ngày 06/3/2015 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh T và việc ông C, bà M tố cáo tiếp, Tổng cục Thi hành án dân sự đã có Thông báo số 75/TB-GQKNTC ngày 02/10/2015 thông báo cho ông C, bà M biết các nội dung tố cáo nêu trên đã được giải quyết đúng pháp luật. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 27 Luật Tố cáo năm 2011 (trường hợp việc giải quyết tố cáo của người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp là đúng pháp luật thì không giải quyết lại, đồng thời thông báo cho người tố cáo về việc không giải quyết lại và yêu cầu họ chấm dứt việc tố cáo) và khoản 3 Điều 7 Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo (đối với tố cáo tiếp thuộc trường hợp không giải quyết lại được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27 của Luật Tố cáo thì người giải quyết tố cáo thông báo bằng văn bản cho người tố cáo, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan về việc không thụ lý giải quyết tố cáo tiếp và đề nghị chấm dứt việc tố cáo, việc xem xét, giải quyết tố cáo nếu không có tình tiết mới), Tổng cục Thi hành án dân sự đã ra thông báo cho ông C, bà M, cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan về việc không thụ lý giải quyết tố cáo tiếp và đề nghị ông C, bà M chấm dứt việc tố cáo, việc xem xét, giải quyết tố cáo nếu không có tình tiết mới.
Đối với nội dung tố cáo mới, Tổng cục Thi hành án dân sự đã chuyển đến Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh T để giải quyết theo thẩm quyền. Đồng thời, chỉ đạo giải quyết dứt điểm những nội dung tố cáo mới.
Tuy nhiên, ông C, bà M vẫn tiếp tục gửi đơn tố cáo đến Bộ Tư pháp và nhiều lần trực tiếp đến địa điểm tiếp công dân của Bộ Tư pháp để tố cáo. Giải quyết vụ việc này, hiện nay theo Điều 27 Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành quy định quy trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự (có hiệu lực kể từ ngày 16/3/2016), thì: “1. Đối với vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo phải tổ chức họp liên ngành trung ương, địa phương để thống nhất phương án giải quyết; tổ chức đối thoại với người khiếu nại, tố cáo; thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo; 2. Đối với việc khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết đúng pháp luật, nếu qua đối thoại, giải thích, vận động, thuyết phục mà người khiếu nại, tố cáo đồng ý với phương án giải quyết thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo ra thông báo chấm dứt khiếu nại, tố cáo. Trường hợp đương sự không đồng ý thì ra thông báo không thụ lý, xem xét, giải quyết vụ việc khiếu nại, tố cáo đó, đồng thời, cơ quan ra thông báo sẽ lập hồ sơ trích ngang về nội dung vụ việc và quá trình giải quyết để công khai trên cổng/trang thông tin điện tử của cơ quan và thông báo cho các cơ quan có liên quan ở trung ương và địa phương”.
Đối với vụ việc trên, tố cáo đã được giải quyết đúng pháp luật, thấu tình, đạt lý nhưng công dân vẫn khiếu nại, tố cáo, thì việc thông báo công khai về việc chấm dứt thụ lý xem xét, giải quyết vụ việc là cơ sở để nếu người dân vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo thì tất cả các cơ quan thuộc hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương sẽ trả lời người khiếu nại, tố cáo một cách nhất quán và cũng là cơ sở để các cơ quan chức năng xử lý những trường hợp lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây rối, vi phạm pháp luật.

Lan Anh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Bộ Tư pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến từ thể chế đến tổ chức bộ máy

Trong quý III năm 2026, Bộ Tư pháp tiếp tục triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính, tập trung vào hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy. Nhiều nhiệm vụ được triển khai gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp từ thực tiễn tỉnh Cà Mau - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

Tóm tắt: Thực hiện chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, ngành Kiểm sát nhân dân đã triển khai mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) ba cấp theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những kết quả đạt được trong tổ chức bộ máy, quản trị, điều hành, chuyển đổi số và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, nhất là thực tiễn tại tỉnh Cà Mau sau hơn 01 năm triển khai; đồng thời, nhận diện một số vướng mắc về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.
Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Tích cực hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp thời gian qua tiếp tục được quan tâm, tập trung hoàn thiện về mặt thể chế, đẩy mạnh cải cách TTHC và chuyển đổi số, đạt được những kết quả tích cực.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.

Theo dõi chúng tôi trên: